TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
======
NGUYỄN VĂN ĐỨC
CHÂN DUNG CON NGƢỜI VĂN HÓA
NGUYỄN VĂN SIÊU
QUA SÁNG TÁC THƠ CA CỦA ÔNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
TS. NGUYỄN THỊ TÍNH
HÀ NỘI - 2015
LỜI CẢM ƠN
Trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS. Nguyễn Thị Tính. Cô
đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu cũng
như luôn động viên khuyến khích tôi thực hiện đề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong tổ Văn học Việt Nam,
khoa Ngữ văn, trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện thuận lợi cho
tôi thực hiện và hoàn thành khoá luận.
Hà Nội, ngày 9 tháng 5 năm 2015
Sinh viên
Nguyễn Văn Đức
1.1. Tác giả Nguyễn Văn Siêu .............................................................................. 8
1.1.1. Cuộc đời ...................................................................................................... 8
1.1.2. Sự nghiệp trước tác ................................................................................... 15
1.1.3. Quan điểm sáng tác ................................................................................... 17
1.2. Tác phẩm Phương Đình Thi tập ................................................................... 18
1.2.1. Phương Đình Vạn lý tập............................................................................ 18
1.2.2. Phương Đình Anh ngôn thi tập ................................................................. 19
1.2.3. Phương Đình Lưu lãm tập ......................................................................... 19
1.2.4. Phương Đình Mạn hứng tập ...................................................................... 20
Chƣơng 2: Nguyễn Văn Siêu - Nhà văn hóa lớn thế kỷ XIX ........................ 21
2.1. Nguyễn Văn Siêu - người có vốn hiểu biết uyên bác ................................. 21
2.1.1. Nguyễn Văn Siêu - nhà địa lý học ............................................................ 21
2.1.2. Nguyễn Văn Siêu - nhà sử học.................................................................. 25
2.1.3. Nguyễn Văn Siêu - nhà xã hội học ........................................................... 30
2.2. Nguyễn Văn Siêu - người khởi xướng phong trào chấn hưng văn hóa Thăng
Long..................................................................................................................... 36
2.2.1. Nguyễn Văn Siêu và sự nghiệp chấn hưng văn hóa giáo dục của Thăng
Long..................................................................................................................... 36
2.2.2. Nguyễn Văn siêu và khu quần thể di tích đền Ngọc Sơn, Tháp Bút, Đài
Nghiên.................................................................................................................40
2.3. Nguyễn Văn Siêu - nhà văn hóa có tâm với nhân dân, với đất nước........... 45
KẾT LUẬN ........................................................................................................ 51
TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................. 1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nhắc đến Nguyễn Văn Siêu, người ta lại nhớ đến hai câu thơ tương
không dám chê. Ông đích thực là một nhà văn lớn, một nhà thơ lớn của nước
ta. Với ông, viết chỉ vì trách nhiệm, vì hứng thú, không vì danh. Ông là một
bậc Danh Nho - nghệ sĩ. Ông sống là người nhân đức. Ông mất là Thành
Hoàng làng”. Điều này được tác giả Lê Sáng dẫn từ một đoạn trong bài văn
Bia Thần đạo ở lăng Tiên sinh Phương Đình của Đại học sĩ Nguyễn Trọng
Hợp viết cách ngày nay 105 năm về Phương Đình Nguyễn Văn Siêu: “Thiết
nghĩ, Tiên sinh là người mà tôi ngưỡng vọng, công đức của Tiên sinh phải
được truyền mãi cho đời sau; nhưng chúng tôi là người ngu tối, không thể biết
hết công đức ấy, dù chỉ trong muôn một…” [44; tr.67- 68].
Trong bài viết Nguyễn Văn Siêu (1799 - 1872) - Một tài năng kiệt xuất,
một con người xuất chúng đăng vào ngày 20 tháng 8 năm 2014 trên trang
thông tin điện tử Nhà xuất bản chính trị quốc gia - sự thật, Phạm Khanh viết:
“Một cuộc đời dài cống hiến không mệt mỏi, Nguyễn Văn Siêu - một trong
những trí thức Nho học uyên bác, đạo đức trong sáng, một nhà giáo có tâm,
một nhà kiến trúc tinh tế, một thi sĩ có tâm hồn đồng cảm với người dân
nghèo lam lũ xứng đáng nhận được sự tôn vinh, nể trọng của người đương
thời và hậu thế. Ghi nhận công lao của ông, Đảng và Nhà nước đã lấy tên
Nguyễn Văn Siêu (hay Nguyễn Siêu) để đặt tên cho nhiều đường phố ở Hà
Nội, Huế, Đà Nẵng, Quy Nhơn… và nhiều trường học ở các tỉnh, thành phố
trong cả nước” [34; tr. 1- 2]. Từ đó tác giá đánh giá Nguyễn Văn Siêu là một
vị quan chính trực và thiên lương; một nhà văn hóa có tâm, có tầm; một nhà
kiến trúc tài năng.
Mai Thục trong bài Thần Siêu Thánh Quát đăng tải trên trang web:
newvietart.com ở hải ngoại cũng viết: “Lượng sức mình. Biết lòng mình yêu
văn hóa, trí tuệ, muốn dùng tri thức soi sáng muôn dân, xây nền hòa bình, bác
ái lòng dân tộc, Nguyễn Văn Siêu đứng ra sử sang ngôi đền Ngọc Sơn, bắc lại
3
“Nguyễn Văn Siêu xứng đáng có một chỗ đứng nhất định trong nền văn học
và văn hoá Việt Nam thế kỷ XIX” [41; tr. 600].
Qua những bài viết về Nguyễn Văn Siêu đã giúp chúng ta hiểu thêm rất
nhiều về con người cũng như thơ ca của ông. Kế thừa những thành quả, thông
tin trong việc nghiên cứu con người và thơ văn Nguyễn Văn Siêu dưới nhiều
góc độ của các bậc tiền bối tôi tiếp tục phát triển chủ để thông qua việc đi sâu
tìm hiểu, khám phá chân dung con người văn hóa Nguyễn Văn Siêu qua sáng
tác thơ ca của ông.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
- Chuẩn bị các tư liệu cần thiết cho việc học tập và nghiên cứu, giảng
dạy thơ văn Nguyễn Văn Siêu cũng như bộ môn Văn học trung đại Việt Nam
thế kỉ XIX.
- Góp thêm tiếng nói khẳng định tài năng văn chương, những công lao
mà nhà văn hóa Nguyễn Văn Siêu đã để lại cho dân tộc Việt Nam.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu đề tài này cần thực hiện những nhiệm
vụ như sau:
- Tập hợp các tài liệu liên quan đến Nguyễn Văn Siêu
- Tìm hiểu chân dung con người văn hóa Nguyễn Văn Siêu qua bốn tập
thơ: Vạn lí tập, Anh ngôn thi tập, Lưu lãm tập, Mạn hứng tập.
- Nhận xét, đánh giá về con người Nguyễn Văn Siêu thông qua các hành
trạng, phẩm chất cũng như tài năng của ông.
- Phân tích ý thơ, tứ thơ của một bài thơ tiêu biểu nằm trong Vạn lí tập,
Anh ngôn tập, Lưu lãm tập, Mạn hứng tập.
5
- Góp phần cho việc giảng dạy, học tập Nguyễn Văn Siêu ở các trường
Cao đẳng, Đại học.
7. Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung chính của
khóa luận gồm hai chương:
Chương 1: Những vấn đề chung
Chương 2: Nguyễn Văn Siêu - Nhà văn hóa lớn của thế kỷ XIX
7
NỘI DUNG
Chƣơng 1: Những vấn đề chung
1.1. Tác giả Nguyễn Văn Siêu
1.1.1. Cuộc đời
Nguyễn Văn Siêu tên khác là Định, tự Tốn Ban, thụy Chí Đạo, hiệu
Phương Đình và Thọ Xương cư sĩ. Ông là tác gia lớn trong thế kỉ XIX với
những trước tác về lịch sử , địa lí, lịch sử, tư tưởng, thơ văn…
1.1.1.1. Năm sinh và năm mất
Theo Tiến sĩ Nguyễn Thị Thanh Chung - Trường ĐHSP Hà Nội trong
bài viết Tìm hiểu về cuộc đời Nguyễn Văn Siêu đăng trên Tạp chí báo văn hóa
Nghệ An thì năm sinh của Nguyễn Văn Siêu được ghi chép chưa thống nhất.
Lược truyện các tác gia Việt Nam, Thơ đi sứ ghi năm 1795 (Ất Mão, năm
Cảnh Thịnh thứ 3 Tây Sơn). Quốc triều khoa bảng lục, Các nhà khoa bảng
Việt Nam, Tên tự tên hiệu các tác gia Hán Nôm Việt Nam… ghi năm 1796
(Bính Thìn, năm Cảnh Thịnh thứ 4 triều Tây Sơn). Phương Đình Chí Đạo tiên
sinh thần đạo bi, Cụ Phương Đình Nguyễn Văn Siêu, Nét bút thần của
Nguyễn Văn Siêu thi ca và lịch sử ghi năm 1799 (Kỉ Tị, năm Cảnh Thịnh thứ
7 triều Tây Sơn).
Năm sinh của Nguyễn Văn Siêu được ghi chép sớm nhất trong các tư
nổi danh văn chương và nhiều lĩnh vực khác, có Phương Đình thi văn tập).
Phương Đình Chí Đạo tiên sinh thần đạo bi đặt tại lăng mộ cho biết chi tiết
hơn về cá tính, gia tộc, hành trạng và thời gian sinh của Nguyễn Văn Siêu.
Như vậy, với những lí do trên chúng ta có thể kết luận thời gian sinh và
mất của Nguyễn Văn Siêu trong Phương Đình Chí Đạo tiên sinh thần đạo bi
là chính xác: Nguyễn Văn Siêu sinh năm 1796, mất năm 1872.
9
1.1.1.2. Quê hương và gia tộc
Nguyễn Văn Siêu sinh ra ở một làng khoa bảng. Làng Lủ xưa gồm ba
xóm lớn Lủ Cầu, Lủ Trung, Lủ Văn, sau phát triển thành ba làng Kim Giang,
Kim Lũ, Kim Văn. Đến cuối thời Lê, Kim Lũ thành một xã thuộc tổng
Khương Đình, huyện Thanh Trì, phủ Thường Tín, nay là phường Đại Kim,
quận Hoàng Mai, Hà Nội. Dù không nổi tiếng bằng Mộ Trạch, Hoa Đường,
Hành Thiện… nhưng Kim Lũ cũng là một làng quê giàu truyền thống. Theo
cuốn Tiến sĩ Nho học Thăng Long Hà Nội, Kim Lũ tiêu biểu về khoa cử trong
14 làng khoa bảng của Hà Nội với năm vị đỗ đại khoa gồm Tiến sĩ Hồng Hạo
(1710), Tiến sĩ Nguyễn Công Thái (1715), Phó bảng Nguyễn Văn Siêu
(1838), Tiến sĩ Nguyễn Trọng Hợp (1865), Tiến sĩ Nguyễn Sĩ Cốc (1910).
Dòng họ của Nguyễn Văn Siêu cũng có nhiều người đỗ đạt. Họ Nguyễn
làng Lủ Trung chia thành hai ngành. Ngành trưởng (Đại tông), đến đời thứ
sáu có Nguyễn Văn Siêu đỗ Phó bảng. Theo Thanh Trì Nguyễn thị phả đồ có
ghi: Thôn Trung, xã Kim Lũ, tổng Khương Đình, huyện Thanh Trì, phủ
Thường Tín, Hà Nội. Thủy tổ họ Nguyễn của Nguyễn Văn Siêu là ông Phúc
Tâm. Ông Phúc Tâm lại sinh ra được hai ngành. Ngành trưởng là ông Phúc
Canh. Từ Phúc Canh trải năm đời thì sinh ông Hoằng Nghị, một người học
rộng, hiếu cổ, lấy đạo Nho khởi nghiệp nhà. Ông Hoằng Nghị sinh được năm
người con, con trưởng là Phương Đình, đỗ Phó bảng, từng làm quan ở Nội
thương. Khi gặp con trai Tập Hinh trên đường đi sứ, ông ngậm ngùi thương
con còn quá nhỏ, khả năng ứng biến lại non nớt mà sớm chậm chạp như cha;
rồi khi ghé thăm ngôi nhà thân thuộc, ông bồi hồi thấy cây quế trước sân gầy
đón cổng, cây mai trong vườn xòa xuống người:
Tiếp môn đình quế như nhân sấu,
Phúc ốc viên mai quá ngã kiều.
(Bán dạ đáo gia - Vạn lí tập)
11
Dịch nghĩa:
Cây quế ở đình bên cửa gầy như người,
Mai trong vườn che rợp mái nhà cao hơn ta.
(Nửa đêm về đến nhà)
Nguyễn Văn Siêu rất yêu quê hương và gia đình của mình. Chính quê
hương và gia đình có ảnh hưởng rất lớn tới sự nghiệp sáng tác thơ ca của
Nguyễn Văn Siêu. Hình ảnh quê hương đi vào trong thơ ca của ông thật dung
dị, gần gũi song với tài văn chương của mình, Nguyễn Văn Siêu đã phô bày
cho chúng ta thấy được những vẻ đẹp đặc trưng nhất của đất Hà Thành. Từ
đây cũng toát lên cái hồn khí của truyền thống hiếu học, truyền thống văn hóa
của đất Thăng Long (Kim Lũ - Hà Nội).
1.1.1.3. Đời tư
Nguyễn Văn Siêu sinh tại thôn Trung, xã Kim Lũ, tổng Khương Đình,
huyện Thanh Trì nhưng ngay từ nhỏ ông theo gia đình định cư tại Dũng Thọ,
Thọ Xương, Hà Nội. Năm 13 - 14 tuổi, khi được cha dạy học ở nhà, cậu bé
Định tự đề hoành biển hai chữ Lạc Thiên (Vui với mệnh trời) và treo ở phòng
học câu đối: Đạo tại cổ kim vô khúc kính, thiên đa bồng tất sản cao nhân
(nghĩa là: Đạo từ xưa đến nay không phải đường tắt, trời thường sinh bậc anh
tài trong chốn nhà tranh lều cỏ). Hoành biển và câu đối bộc lộ ý chí muốn
Nguyễn Văn Siêu thi ca và lịch sử hư cấu.
Năm 1838, khoa Mậu Tuất, năm Minh Mệnh thứ 19, Nguyễn Văn Siêu
đậu Phó bảng chỉ có ở đời Nguyễn từ khoa thi Hội năm Kỉ Sửu (1829), không
được trọng vọng so với học vị Tiến sĩ. Thông lệ, người đỗ Phó bảng không
được thi lại Tiến sĩ khi nhà Nguyễn mở Chế khoa vào năm 1851.
Sau khi đỗ Phó bảng, Nguyễn Văn Siêu được nhận chức Hàn lâm viện
kiểm thảo (hàm tòng thất phẩm) ở Viện Hàn lâm, cơ quan có nhiệm vụ khởi
thảo công văn triều đình ban hành gồm chế, chiếu, biểu… Triều Nguyễn có
13
nhiều ân điển ban cho người đỗ đạt như Tiến sĩ cập đệ được nhận chức ngay
còn Tiến sĩ xuất thân, Đồng Tiến sĩ xuất thân, Phó bảng vào Viện Hàn lâm ăn
lương đọc sách ba mươi năm mới sát hạch, thăng bổ.
Năm 1841, Nguyễn Văn Siêu được thăng Viên ngoại lang Bộ Lễ (hàm
chính ngũ phẩm). Sau ba năm làm việc tại Hàn lâm viện, Phương Đình được
thăng bốn bậc từ tòng thất phẩm lên chính ngũ phẩm. Nhưng cũng vào năm
này, khi làm Phó chủ khảo trường Thừa Thiên, ông bị hệ lụy vì liên quan tới
Cao Bá Quát và việc xảy ra tại trường thi. Hai viên sơ khảo Cao Bá Quát,
Phan Nhạ ngầm lấy muội đèn chữa văn cho bài thi gồm hai tư quyển, đỗ được
năm người. Giám sát trường vụ thấy phép tắc không nghiêm, yêu cầu Bộ Lễ
và Viện Đô sát điều tra. Án quyết Cao Bá Quát và Phan Nhạ bị xử tử, Nguyễn
Văn Siêu bị phạt trượng đồ. Sau khi nghị tội, Nguyễn Văn Siêu bị cách chức
nhưng vẫn được làm Bộ Lễ. Và cũng chính vào cuối năm này, ông còn bị
khiển trách do liên quan đến Ngọc điệp nhầm năm Minh Mệnh thứ 21 tháng
12 ngày 28 từ giờ Ất Hợi sang giờ Giáp Tuất.
Thời gian sau, ông nhận chức Nội các Thừa chỉ (hàm tòng nghũ phẩm).
Nội các là nơi cơ yếu tham mưu cho triều đình, theo vua tuần du, giữ ấn,
truyền lưu chỉ dụ cho nha môn, ghi chép chương sớ… Nội các chia làm bốn
cũng như nhiều nhà trí thức đương thời đành chọn cho mình giải pháp về quê
ở ẩn, mở trường dạy học để đào tạo nhân tài cho đất nước và cũng là để giữ
gìn thiên lương, nhân cách cao đẹp của một nhà Nho.
1.1.2. Sự nghiệp trước tác
Nguyễn Văn Siêu sáng tác rất mạnh, tính đến lúc qua đời (1872) ông đã
có hơn nửa thế kỉ cầm bút và đã để lại cho đất nước, cho muôn đời sau một sự
nghiệp văn chương đồ sộ, được dư luận đương thời và hậu thế suy tôn lên bậc
thần: Thần Siêu bên cạnh Thánh Quát (Cao Bá Quát).
15
Văn nghiệp của Nguyễn Văn Siêu trải qua ba thời kì: thời còn đi học kể
cả đi thi, thời làm quan, thời thôi quan về mở trường dạy học với tư cách một
bậc sư biểu ở tầm cỡ quốc gia.
Văn nghiệp của Thần Siêu cũng trải qua nhiều tình huống trong nhiều
quan hệ: quan hệ giao du với bạn bè, với thầy học, trong tư cách một ông
quan có quan hệ gắn bó thân tình và viết theo lệnh của nhà vua, trong tư cách
một vị phó chánh sứ đi sứ nhà Thanh (Trung Hoa), trên cương vị một thành
viên toàn tu quốc sứ quan của triều Nguyễn, trong hoàn cảnh làm ông thầy
dạy học, trong các chuyến du ngoạn nơi danh lam này thắng cảnh nọ… Và
chính hoàn cảnh sáng tác của Thần Siêu da dạng như thế cho nên loại hình
văn chương đó cũng đa dạng. Có văn học hành chức, chức năng; có văn học
kí sự, tùy bút; có văn học khảo cứu, bác học; có văn học du hí, thù tạc; và dĩ
nhiên còn có văn học trữ tình mà chủ yếu là thơ. Những thể tài văn học đã có
trong văn nghiệp của Phương Đình Nguyễn Văn Siêu là: Chiếu, biểu, sắc,
cáo, sơ, gián, bi kí, minh, chí, châm, trướng, khánh hạ, di chức,… thuộc loại
hình văn học chức năng; có văn sách, biện thuyết… thuộc loại hình văn học
chính luận; có dư địa chí thuộc loại hình văn học phê bình; có kí sự, tùy bút
thuộc loại hình gần với văn học mỹ học.
sinh" hướng đến phục vụ cuộc sống con người. Loại văn chương "không đáng
thờ" là loại văn chương "chỉ chuyên chú ở văn chương", lo rèn câu đúc chữ, ở
hình thức nghệ thuật, đó là "nghệ thuật vị nghệ thuật".
Nguyễn Văn Siêu đã rất đúng đắn khi đặt ra một yêu cầu cho văn
chương chân chính,đó phải là tiếng nói, hơi thở của cuộc sống đời thường,
đưa ra nhiệm vụ phản ánh hiện thực cho văn chương. Yêu cầu này đòi hỏi ở
nhà văn một sự tinh tế, nhạy cảm, thức nhọn các giác quan rất cao để có thể
quân sự cuộc sống, nhập thân vào cuộc sống để khám phá, tìm tòi. Một tác
phẩm ưu tú "không đem đến một cách cho người đọc sự thoát ly hay sự
quên", nó đem đến cho người đọc hơi thở, nhịp đập của chính cuộc đời cho
17
người đọc những "bài học trông nhìn và thưởng thức" (Theo dòng). "Tác
phẩm văn nghệ phải thể hiến sự sống thật hơn là sự sống bình thường, cô
đọng hơn, khái quát hơn, cao hơn cuộc sống mà văn là cuộc sống" (Trường
Chinh). Người nghệ sĩ phải nhận thức, phản ánh cuộc sống có lý tưởng, chứ
không phải mình họa lý tưởng cuộc sống. Lý tưởng nằm ngay trong cuộc
sống chứ không tách ra khỏi cuộc sống, không khiến người ta toát y hay quên
lãng. Văn chương chân chính không phải là công thức sao chép, nô lệ hiện
thực mà phải thể hiện sự sáng tạo độc đáo, nghiêm túc của ngời nghệ sĩ.
Quá trình sáng tạo ấy là quá tình nhà văn gom góp, nhặt nhạnh chắt chiu
những mảnh đời, những số phận, thu nhận vào mình muôn vẻ của cuộc sống
ngoài kia để trải nghiệm, chúng đúc. Công việc phản ánh hiện thực cũng
giống như cuộc đời gạn lọc những vẻ đẹp tinh túy của một đời trai thầm lặng
đớn đau. Chỉ có công phu và sáng tạo như vậy, tác phẩm văn chương mới chở
đi được linh hồn của cuộc sống, bắt người đọc phải hướng về cuộc đời mà tìm
kiếm, khám phá, say mê. Văn chương chân chính nhất định không phải là thư
văn dễ dãi, người đọc không hiểu gì.
Thơ trong tập Lưu lãm của Phương Đình, phần lớn làm về bạn bè,
nhưng chủ yếu là bạn bè đang làm quan, khung cảnh là ở Kinh đô Huế. Bởi
vậy, tìm hiểu về không khí quan trường và phong cảnh cố đô Huế đương thời,
tập Lưu lãm có thể tính là tư liệu tham khảo sinh động. Mặt khác, tập thơ
cũng cho chúng ta biết sâu hơn về tư tưởng tình cảm của Phương Đình thời kỳ
ở Kinh đô. Có thể nói là ông không vui. Trước đây, khi đọc một số bài ký của
ông, chúng ta đã cảm thấy ông không thuần Nho, dù có lúc ông tự nhận là
Nho, tranh biện kịch liệt với Trang Tử, bảo vệ Nho đến cùng. Nhưng trong
Lưu lãm, ở không ít bài thơ, ông cho biết vào những ngày ở Kinh đô, ông lại
muốn được như Trang Tử, như Đào Tiềm. Có điều dễ thấy là thơ trong tập
Lưu lãm tập phần nhiều là thơ trữ tình, ý thơ phóng khoáng.
19
1.2.4. Phương Đình Mạn hứng tập
Cuối bộ Phương Đình Thi loại là tập thơ Mạn hứng. Đây là tập thơ tùy
hứng mà Phương Đình làm chủ yếu với bạn bè, đồng nghiệp ở Hà Nội. Toàn
tập có 325 bài, trong đó có một số bài giúp chúng ta hiểu thêm chuyến đi sứ
và thơ Vạn lý của Phương Đình.
Như vậy Phương Đình Thi loại với 4 tập thơ, có 1083 bài thơ. Đúng là
một thế giới thơ mênh mông thăm thẳm, đương thời đã được các bậc danh sĩ,
kể cả vua chúa, có thể kể như: Vua Tự Đức, Tùng Thiện Vương Miên Thẩm,
Cao Bá Quát, Ngô Thế Vinh, Chu Doãn Tri,… đã ca ngợi, tôn vinh rất mực.
Trong bài Ký Nguyễn Phương Đình, Miên Thẩm- một trong bốn đại danh:
Siêu, Quát, Tùng, Tuy thì đã viết về thơ Phương Đình là:
…Lãng vân lão bút khí phiêu phiêu
Thi thảo do ưng nhiến mãn biều…
Nghĩa là:
Khi bút già dặn cao trên tầng mây vời vợi