đề tài nghiên cứu khoa hoc xây dựng con người và phát triển văn hóa việt nam trong hai mươi năm đổi mới và hội nhập quốc tế - quan điểm, giải pháp đến năm 2020 - Pdf 22

VIÊN NGHIÊN CỨU VĂN HÓA
BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI XÂY DỰNG CON NGƯỜI VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA
VIỆT NAM TRONG HAI MƯƠI NĂM ĐỔI MỚI VÀ HỘI NHẬP
QUỐC TẾ - QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP ĐẾN NĂM 2020
CNĐT : PHAN TRỌNG THƯỞNG

8128

HÀ NỘI – 2010


trạng bao gồm cả thành tựu lẫn hạn chế, phân tích rõ nguyên nhân, rút ra những
bài học kinh nghiệm cần thiết để tiếp tục xây dựng con người và phát triển văn
hóa Việt Nam trong thời kỳ
công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
3. Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích và lý giải thực tiễn, bước đầu đưa ra
các dự báo về chiều hướng vận động và biến đổi của thực tiễn xây dựng con
người và phát triển văn hóa Việt Nam đến năm 2020.

2
4. Đề xuất hệ quan điểm, giải pháp và các kiến nghị nhằm đẩy mạnh sự
nghiệp xây dựng con người và phát triển văn hóa Việt Nam trong thời kỳ tiếp
theo.
Để đạt được các mục tiêu chung trên đây, phần nội dung của đề tài sẽ được
triển khai dựa trên sự bám sát từng mục tiêu cụ thể.
II. Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài.
1.
Tình hình nghiên cứu trong nước
Bắt đầu từ những năm chín mươi của thế kỷ XX, cũng như nhiều quốc
gia, Việt Nam chịu ảnh hưởng những tác động to lớn của tình hình chính trị, xã
hội diễn ra trên thế giới. Khi công cuộc đổi mới đang vận hành và đạt được
những thành tựu quan trọng trên lĩnh vực kinh tế, xã hội; khi xu thế hội nhập
quốc tế đặ
t các quốc gia trước sự lựa chọn các cơ hội và thách thức; khi hệ
thống chính trị thế giới có những diễn biến phức tạp, mô hình chủ nghĩa xã hội
ở Đông Âu lâm vào khủng hoảng và tan rã… thì yêu cầu nghiên cứu, triển khai
những vấn đề thuộc lĩnh vực văn hóa và con người đã được đặt ra. Xuất phát
từ yêu cầu của thực tiễn, nhiều công trình mang tính lý luận dựa trên nề
n tảng
của Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm đường lối cơ
bản của Đảng ta đã được triển khai.

cấp Bộ; các đề tài nghiên cứu của tập thể và cá nhân viết theo cảm hứng hoặc
theo đơn đặt hàng của các cơ quan, tổ chức, các nhà xuất bản ở Trung ương và
địa phương.
Để cung cấp những nét chính về Tổng quan nghiên cứu trong nước, căn
cứ vào nội dung các cuốn sách, có thể tạm thời phân chia thành các nhóm sau
đây:
1.1. Nhóm các công trình đề tài mang tính lý luận, triển khai những tư tưởng
chung, những quan điểm cơ bản về vấn đề xây dựng con người và phát triển
văn hóa Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và hội nhập, trong đó đáng chú ý là
các công trình: Về phát triể
n văn hóa và xây dựng con người thời kỳ công
nghiệp hóa, hiện đại hóa (KX.04) Nguyễn Khoa Điềm, Phạm Minh Hạc chủ
biên; Vấn đề con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
(KX.07), Phạm Minh Hạc chủ biên; Nghiên cứu và phát triển văn hóa, con
người và nguồn nhân lực đầu thế kỷ XXI (KX.05), Nguyễn Phú Trọng chủ biên

4
(Nxb Chính trị Quốc gia. H. 2003); Xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam
tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, Nguyễn Khoa Điềm chủ biên (Nxb Chính trị
Quốc gia. H. 2001)…
1.2. Nhóm các công trình, đề tài mang tính tổng kết chung và tổng kết trên
từng lĩnh vực trong 20 năm đổi mới gồm: Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý
luận và thực tiễn qua 20 năm đổi mới 1986 – 2006 (NXB Chính trị Quốc gia.
2006);
Nhìn lại quá trình đổi mới và tư duy lý luận của Đảng 1986 – 2006, tập
thể tác giả nghiên cứu của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh; Nhìn lại
quá trình đổi mới tư duy lý luận của Đảng 1986 – 2005, Tô Huy Rứa, Hoàng
Chí Bảo, Trần Khắc Việt, Lê Ngọc Tòng (Nxb Lý luận chính trị – 2005); Triết
lý phát triển ở Việt Nam – mấy vấn đề cốt yếu, Phạm Xuân Nam (Nxb Khoa
học xã hội. H. 2005)…

lực đầu thế kỷ XXI (KX.05) tổ chức tại Hà Nội 2003; Hội nghị quốc tế về phát
triển bền vững (H. 2004); Hội nghị Tổng kết 20 năm xây dựng con người và
phát triển văn hóa, Ban tư tưởng - văn hóa TW - Vi
ện Văn hóa và phát triển -
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2006) và nhiều hội nghị khác.
1.6. Ngoài các nhóm công trình, đề tài và Hội thảo khoa học trên báo cáo
thường niên của UNDP và các tổ chức quốc tế khác tại Việt Nam cũng thường
xuyên đưa ra các chỉ số, thông tin cập nhật về thực trạng phát triển con người
và văn hóa thế giới và khu vực, trong đó có Việt Nam. Đặc biệt là các thông tin
về chỉ số phát triể
n con người (HDI) và các vấn đề nảy sinh trong quá trình hội
nhập. Có thể xem đây là nguồn tư liệu tham khảo khá tin cậy trong khi thực
hiện đề tài.
Nhìn chung, các chương trình, đề tài, các Hội thảo khoa học và các nguồn
tài liệu liên quan tới vấn đề xây dựng con người và phát triển văn hóa Việt
Nam từ 1990 đến nay đã đạt được một số kết quả sau đây:
Triển khai được những quan điểm lớn c
ủa Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng ta về vấn đề xây dựng con người và phát triển
văn hóa trong quá trình đổi mới và hội nhập. Trên cơ sở nắm bắt và phân tích
thực tiễn, phân tích xu thế phát triển trong nước và quốc tế, kết hợp với tinh
thần tiếp thu, kế thừa và phát triển các thành tựu của nước ngoài, các chương

6
trình, đề tài đã bước đầu đề xuất được các yêu cầu, mục tiêu đúng đắn, khoa
học, xác lập được hệ thống căn cứ lý luận định hướng cho hoạt động thực tiễn.
Nhìn chung, các công trình, đề tài đều khá thống nhất trong cách đặt vấn
đề cũng như trong phương pháp luận nghiên cứu, xem mục tiêu xây dựng con
người và phát triển văn hóa là hai mặt của một vấn đề, cùng chịu tác độ
ng sâu

nhập quốc tế đã và đang diễn ra tác động sâu sắc tới vấn đề xây dựng con người
và phát triển văn hóa như thế nào đang đòi hỏi phải được nghiên cứu tiếp. Đó là
phần việc mà đề tài này thực hiện.
2. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài.
Từ những năm tám mươ
i của thế kỷ XX, vấn đề phát triển văn hóa và con
người đã được nhiều nhà khoa học, nhà hoạt động văn hóa và các tổ chức quốc
tế trên khắp thế giới quan tâm nghiên cứu.
Trong Tuyên bố mở đầu thập kỷ văn hóa vì phát triển (1987 - 1997), Tổng
Giám đốc Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa Liên hợp quốc nhận xét:
Kinh nghiệm của hai thập kỷ vừa qua cho thấy trong xã hộ
i ngày nay, bất luận
trình độ kinh tế nào, văn hóa và phát triển là hai mặt gắn liền với nhau. Quốc
gia nào tự đặt cho mình mục tiêu phát triển kinh tế mà tách rời môi trường văn
hóa thì nhất định sẽ xảy ra tình trạng mất cân bằng nghiêm trọng cả về kinh tế
lẫn văn hóa và tiềm năng sáng tạo của quốc giá đó sẽ bị suy giảm đi rất nhiều.
Trong Báo cáo thường niên mang tên Sự sáng tạo c
ủa chúng ta (1996) Tổ
chức văn hóa thế giới UNESCO nhận xét: Nền văn hóa toàn nhân loại được
thiết lập trên năm yếu tố cơ bản: Các quyền và trách nhiệm của con người; dân
chủ và các yếu tố của xã hội công dân; bảo vệ các cộng đồng thiểu số; cam kết
giải quyết xung đột một cách hòa bình, bình đẳng giữa các thế hệ.
Những năm gần đây, tác giả Alvin Toffler đ
ã khá quen thuộc với giới trí
thức Việt Nam qua bộ sách gồm 3 cuốn đã được dịch: Cú sốc của tương lai
(Future shock), Nxb Thanh niên. 2002.; Làn sóng thứ ba (The third Ware), Nxb
Thanh niên 2002; và Thăng trầm quyền lực (Power Shiff), Nxb Thanh niên
2002. Theo tác giả “Cú sốc tương lai” là sự kiện điểm lại quá trình biến đổi,
thảo luận về sự tác động của nó đối với các tổ chức và con người trên thế giới;
Làn sóng thứ ba

Năm 2006, Nhà xuất bản Trẻ thành phố Hồ Chí Minh đã công bố bản dịch
cuốn Thế giới phẳng của nhà báo, nhà nghiên cứu Mỹ nổi tiếng Thomas
Friedman, trong đó, ông đã nêu 10 nhân tố tạo nên thế giới phẳng. Qua đó dẫn
giải và chứng minh của tác giả, đó là 10 nhân tố tác động sâu sắc đế
n con người
và văn hóa các quốc gia trên thế giới.

9
Một trong số các công trình được giới nghiên cứu văn hóa Việt Nam và
quốc tế chú ý là cuốn Sự đụng độ giữa các nền văn minh của tác giả người Mỹ
Samuel Huntington. Ông cho rằng, xung đột văn hóa là giai đoạn của các xung
đột toàn cầu.
Tại các nước Châu Á như: Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản…trong những
năm gần đây giới nghiên cứu cũng đã công bố nhiều công trình bài viết xung
quanh vấ
n đề toàn cầu hóa và vấn đề gìn giữ bản sắc văn hóa của các quốc gia,
các dân tộc, đặc biệt là các quốc gia trong khu vực
Tháng 11 năm 2007, UNDP đã công bố tại Việt Nam Báo cáo phát triển
con người hai năm 2007 – 2008, trong đó tập trung chủ yếu vào chủ đề Chống
biến đổi khí hậu và kêu gọi Đoàn kết nhân loại trong một thế giới phân cách để
đối phó với nhiều hiểm họ
a do biến đổi khí hậu gây ra. Đây được xem là một
cuộc chiến gay gắt vì biến đổi khí hậu không đơn giản chỉ là vấn đề môi trường
mà còn là hiểm họa đối với phát triển, là một thách thức đối với cuộc chiến
chống đói nghèo, là nguy cơ làm sâu sắc hơn sự bất bình đẳng giữa các quốc
gia, dân tộc trên thế giới.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về văn hóa ở nước ngoài đề
u
nhấn mạnh đến vai trò của văn hóa đối với phát triển. Đặc biệt các công trình
tập trung lý giải những yếu tố tác động tới sự thay đổi của môi trường văn hóa

trình phát triển của mỗi quốc gia. Việt Nam không phải là một trường hợp
ngoại lệ. Sự nghiệp xây dựng con người và phát triển văn hóa tuy đã đạt được
những thành tựu khá căn bản trong thời kỳ đổi mới, những vẫn còn nhiều vấn
đề cần được tiếp tục nghiên cứu, lý giải, đặ
c biệt là trước các thách thức của
quá trình hội nhập.
Thực tiễn quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế cho thấy đất nước ta đã
đạt được những thành tựu kinh tế - xã hội hết sức quan trọng, đưa đất nước
thoát khỏi khủng hoảng và phát triển từng bước vững chắc trên con đường
hướng tới mục tiêu Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, vă
n
minh. Để đạt được mục tiêu đó, ngoài nỗ lực tổng hợp của toàn dân tộc, Đảng
và Nhà nước ta đã có quan điểm và đường lối đúng đắn, xử lý tốt mối quan hệ
biện chứng giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, xem văn hóa là nền
tảng tinh thần, con người là trung tâm; Văn hóa - con người vừa là mục tiêu,

11
vừa là động lực của phát triển… Nghiên cứu, tổng kết sự nghiệp xây dựng con
người và phát triển văn hóa Việt Nam trong 20 năm đổi mới và hội nhập, đánh
giá thành tựu, lý giải nguyên nhân, đúc rút các bài học kinh nghiệm và phân
tích để đưa ra các dự báo, kiến nghị và giải pháp để tiếp tục sự nghiệp xây dựng
con người và phát triển văn hóa trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa
tiếp theo trở
thành nhiệm vụ cấp thiết. Các kết quả nghiên cứu sẽ là cơ sở để
nhận thức thực tiễn, là căn cứ lý luận, là luận cứ khoa học để hoạch định chiến
lược phát triển, xây dựng cương lĩnh và ban hành chủ trương chính sách phù
hợp, đáp ứng yêu cầu của thời đại mới.
Hiện nay, trong đời sống văn hóa xã hội đang còn tồn tại nhi
ều vấn đề
hết sức bức xúc như tình trạng suy thoái về đạo đức, lối sống; tệ nạn xã hội gia

1.3. Hướng tiếp cận Nhân học – Văn hóa và Xã hội học Vă
n hóa.
Theo hướng này, vấn đề con người và văn hóa không những được xem xét
một cách khăng khít, biện chứng, phù hợp với quan điểm của chủ nghĩa Mác –
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng ta mà còn được đặt vào môi trường
xã hội cụ thể, đặt vào thực tiễn xây dựng và phát triển văn hóa – con người
trong thời kỳ đổi mới và hội nhập để lý giải và đánh giá. Đặc biệt vớ
i hướng
tiếp cận này, đối tượng nghiên cứu sẽ được khảo sát từ những phương diện
khác nhau, các chuyên ngành khác nhau theo các thao tác liên ngành.
1.4. Hướng tiếp cận chức năng
Trên cơ sở xem hệ thống chính trị và các lĩnh vực liên quan như: Giáo dục,
y tế, các tổ chức trong hệ thống chính trị.v.v… là một hệ thống chức năng có
vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng con người và phát triển văn hóa,
chúng tôi ti
ến hành đối chiếu chức năng với thực tiễn để tìm ra những chỗ phù
hợp và bất cập, từ đó có những nghiên cứu, đề xuất và điều chỉnh sao cho các
lĩnh vực có thể nhận thức rõ nhất chức năng của mình trong vấn đề xây dựng
con người và phát triển văn hóa.
2. Phương pháp nghiên cứu
Dựa trên bốn hướng tiếp cận được xác định, trong công trình này các
phương pháp nghiên cứu sau đây sẽ được vận dụng:
2.1. Phương pháp hệ thống

13
Tiếp cận đối tượng trong tính hệ thống, chỉnh thể, phân tích, đánh giá các
yếu tố trong hệ thống, xác định vị trí, vai trò và ý nghĩa của nó.
2.2. Phương pháp điều tra xã hội học liên ngành
Trong quá trình khảo sát điều tra thực tiễn kết hợp nhiều mục tiêu, nhiều
đối tượng trong một cuộc điều tra trên cùng một địa bàn. Điều tra trên các địa

năm 2020.
Chương 4: Một số quan điểm, giải pháp xây dựng con người và phát triển văn
hóa Việt Nam đến năm 2020.

15
Chưong 1

ệt Nam được gắn vào sự nghiệp đổi mới thì không những

16
nó mang được những tư tưởng mới hơn mà còn được thể hiện ở những nội
dung sâu sắc hơn, toàn diện hơn. Có thể xem quan hệ giữa sự nghiệp đổi mới
nói chung với sự nghiệp xây dựng con người và phát triển văn hóa trong 20
năm qua nói riêng vừa là quan hệ đồng hành, vừa là quan hệ nhân quả. Trong
quan hệ này, xây dựng con người và phát triển văn hóa được xem vừa là mục
tiêu, vừa là động lự
c của quá trình đổi mới. Nhìn từ một phương diện nào đó,
sự nghiệp đổi mới bao trùm lên sự nghiệp xây dựng con người và phát triển và
văn hóa. Nhưng từ một phương diện khác có thể thấy sự nghiệp xây dựng con
người và phát triển văn hóa có tính độc lập tương đối của nó. Tuy nhiên, đổi
mới là một quá trình khách quan, một sự nghiệp quan trọng có tính cách mạng
cho nên nó có sức chi phối mạnh mẽ
đến tất cả các lĩnh vực của đời sống xã
hội, trong đó có vấn đề xây dựng con người và phát triển văn hóa.
Nhìn lại quá trình 20 năm qua chúng ta thấy nội dung và thành tựu của
quá trình đổi mới đã tác động và trở thành hậu thuẫn vững chắc cho sự nghiệp
xây dựng con người và phát triển văn hóa Việt Nam như thế nào. Trên lĩnh vực
nhận thức, nhờ đổi mới về
tư duy nên đã tạo ra được những chuyển biến hết
sức quan trọng. Từ chỗ nhận thức chưa đầy đủ về vai trò của nhân tố con người
và văn hóa đến chỗ coi việc phát huy yếu tố con người và lấy việc phục vụ con
người làm mục đích cao nhất của mọi hoạt động; Đồng thời, coi văn hóa, con
người không những là mục tiêu mà còn là động lực c
ủa phát triển.
Về kinh tế, chính những đổi mới về cơ chế quản lý, về hệ điều hành, về
nội dung, cấu trúc nền kinh tế và những thành quả do nền kinh tế tạo ra mà các
quan niệm về hệ thống giá trị được chuyển đổi và bổ sung để hoàn thiện; các

ến và đậm đà bản sắc dân tộc được xác định cho văn hoá Việt
Nam.
Qua các Nghị quyết có thể thấy Đảng và Nhà nước ta đã xem văn hoá là
nhân tố quan trọng liên quan mật thiết với quá trình phát triển. Ngoài việc xem
văn hoá là nền tảng tinh thần, vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển xã hội,
Đảng ta còn xem văn hoá là nguồn lực nội sinh quan trọng nhất trong phát
triển, là hệ điều ti
ết sự phát triển. Không có sự phát triển nào lại tách rời với
con người, do vậy, phải nỗ lực làm cho văn hoá thấm sâu vào hoạt động của
phát triển và trong phát triển phải tính tới yếu tố văn hoá. Hội nghị Trung ương
10 khoá IX đưa ra kết luận phải xây dựng văn hoá là nền tảng tinh thần của xã

18
hội, gắn văn hoá với nhiệm vụ trung tâm là phát triển kinh tế và nhiệm vụ then
chốt là xây dựng Đảng.
Kết quả của các chính sách đổi mới về văn hoá thể hiện ở chỗ nhiều giá
trị văn hoá, đạo đức được cộng đồng đề cao; Con người trong kinh tế thị trường
trở nên năng động hơn, có khả năng sáng tạo hơn, tin vào bản thân mình và
cộng đồ
ng hơn; Đời sống tinh thần và vật chất được cải thiện, tính nhân văn
thấm vào từng cá thể, từng cộng đồng; Trình độ dân trí được nâng cao; Văn học
nghệ thuật có điều kiện phát triển; Di sản văn hoá vật chất và tinh thần được
chú trọng, giữ gìn và bảo vệ; Tôn giáo, tín ngưỡng được tôn trọng; Các hoạt
động báo chí, truyền thông và giao lưu hợp tác quốc tế được đẩy mạ
nh v.v…
Trước thời kỳ đổi mới, chúng ta có những quan niệm khá đơn giản về
con người. Lợi ích của con người bao gồm lợi ích cá nhân, lợi ích của cộng
đồng và lợi ích xã hội bị nhìn nhận một cách thiên lệch. Cơ chế tập trung quan
liêu bao cấp cũng tác động tiêu cực đến việc phát huy nhân tố con người và
việc giải phóng tiềm năng con người; không thực sự quan tâm tới lợi ích vật

văn hoá hơn 20 năm qua.
1.1.2. Sự sụp đổ của Liên Xô, sự tan rã của hệ thống xã hội chủ nghĩa Đông
Âu và sự lựa chọn mô hình phát triển mới của Việt Nam.
Trong khi công cuộc đổi mới ở Việt Nam đang tiến hành một cách có
hiệu quả trên tất cả các lĩnh vực, tạo ni
ềm tin vào đường lối đổi mới và tạo ra
các tiền đề quan trọng để tiến hành xây dựng con người và phát triển văn hoá
thì trên thế giới lại xảy ra những biến cố chính trị to lớn dẫn đến sự sụp đổ của
chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và các nước Đông Âu vào đầu những
năm 90 của thế kỷ XX. Có thể nói đây là một “cơn bão chính trị
”, một sự sụp
đổ có tính chất hệ thống làm thay đổi diện mạo và cục diện chính trị thế giới.
Với sự kiện này, phong trào cộng sản quốc tế chịu sự tổn thất nặng nề, còn chủ
nghĩa tư bản lại được dịp khuếch trương các luận thuyết của họ.
Trước hết, phải khách quan khẳng định rằng dù chỉ tồ
n tại trong hơn 70
năm, nhưng chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu đã từng
là một sự thực lịch sử khiến thế giới phải khâm phục và thừa nhận. Những giá
trị tốt đẹp và cao cả mà chủ nghĩa xã hội hiện thực mang lại cho nhân loại là vô
cùng to lớn. Với sự hình thành hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa và Liên
bang Xô Viế
t, chủ nghĩa Phát xít bị chặn đứng và tiêu diệt, tạo điều kiện cho

20
nhiều nước tiến hành thắng lợi cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, trở thành
thành trì cho hoà bình thế giới. Đó là những thành tựu và cống hiến vô giá mà
Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa đóng góp cho nhân loại tiến bộ.
Đáng tiếc là sau hơn 70 năm tồn tại và phát triển, chủ nghĩa xã hội hiện
thực ở các nước này đã lâm vào khủng hoảng và tan rã. Trước sự kiện này,
người ta đã có nh

tiêu Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Trong tình
hình thế giới mới, lựa chọn con đường đúng đắn để xây dựng và phát triển đất
nước, tránh được nguy cơ bất ổn định, thậm chí trả giá đắt là điều hết sức hệ
trọng. Trên nền tảng của chủ ngh
ĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh,
Đảng ta lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Thực tiễn cho thấy đó là
một sự lựa chọn đúng đắn.
Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ đi lên chủ
nghĩa xã hội được thông qua tại Đại hội VII (1991), mô hình chủ nghĩa xã hội
mà Đảng và nhân dân ta lựa chọn được chỉ ra 6 đặc trư
ng:
- Do nhân dân lao động làm chủ.
- Có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và
chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu.
- Có nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.
- Con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột bất công, làm theo
năng lực, hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có đi
ều
kiện phát triển toàn diện.
- Các dân tộc trong nước bình đẳng, đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau, cùng tiến
bộ.
- Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân tất cả các nước trên thế
giới.
Trong các kỳ Đại hội Đảng tiếp theo, từ Đại hội VIII đến Đại hội IX, Đại
hội X, tuy có những điều chỉnh cho phù hợp với thực tiễn của đất nước, nh
ưng
về cơ bản các đặc trưng của chủ nghĩa xã hội được Đảng ta nêu lên trong
Cương lĩnh là thống nhất.
Trong bối cảnh tình hình thế giới và trong nước có những biến chuyển
chính trị lớn như vậy, chúng ta vẫn tiến hành công cuộc đổi mới, tiến hành sự

của cả cộng đồng quốc tế.
Có thể nói, những vấn đề toàn cầu là một trong những khái niệm đặc
tr
ưng, điển hình của nửa cuối thế kỷ XX. Nó phản ánh những vấn đề chung mà
các quốc gia, các vùng lãnh thổ chịu sự tác động, ảnh hưởng, và do vậy, trở
thành mối quan tâm chung, buộc cộng đồng thế giới phải tìm cách giải quyết vì

23
lợi ích, sự tồn tại và phát triển của mình. Tất nhiên, nói như vậy không có nghĩa
là các vấn đề toàn cầu có ảnh hưởng, biểu hiện giống nhau ở tất cả các quốc
gia, các vùng lãnh thổ, mà trái lại, mức độ gay gắt và biểu hiện của nó trên thực
tế, ở từng nơi có khác nhau.
Ngày nay, thế giới đã và đang chứng kiến sự lan tỏa, tác động mạnh mẽ,
rộng khắ
p và toàn diện của toàn cầu hoá như một khuynh hướng vận động phổ
biến của xã hội đương đại. Ở bất kỳ đâu, trên các phương tiện thông tin đại
chúng hay trong các Hội thảo khoa học chuyên ngành ở phạm vi quốc gia hay
quốc tế, cũng như trên các diễn đàn chính trị - xã hội, người ta thường đề cập
đến vấn đề toàn cầu và tác động của nó đối với thế giớ
i từ những góc độ khác
nhau. Mặc dù vậy, cho đến nay, quan điểm, thái độ nhìn nhận về toàn cầu hoá
cũng không hoàn toàn giống nhau, thậm chí ở một mức độ nhất định còn có sự
đối lập. Trong khi, đối với một số quốc gia hay một số nhóm xã hội, toàn cầu
hóa dường như là mục tiêu, là đích đến của sự phát triển, thì ngược lại, đối với
một số quốc gia, m
ột số nhóm xã hội khác, toàn cầu hoá lại là cái gì đó hàm ẩn
nguy cơ, đe dọa sự phát triển nhiều hơn là mở ra các triển vọng. Do vậy, thay vì
thái độ đón nhận một cách nồng nhiệt, người ta lại có thái độ cảnh giác và thận
trọng. Song, bất chấp những thái độ khác nhau, toàn cầu hoá vẫn là một xu thế
tất yếu không thể đảo ngược. Nó đang tác động mạnh mẽ đến tấ

động của nó đã cảnh tỉnh ý thức của các quốc gia và con người trên hành tinh
nói chung về các hiểm họa để có nhận thức và hành động thống nhất. Rất nhiều
mục tiêu của sự nghiệp xây dựng con người và phát triển văn hóa ở Việt Nam
trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế đạt được thông qua các chương
trình hành động của các tổ chức quốc tế.
Trong một bối cảnh như vậy, khi xem xét, đánh giá cao thành tựu cũng
như những hạn chế của sự nghiệp xây dựng con người và phát triển văn hoá
Việt Nam hơn 20 năm qua, không thể tách rời với những sự kiện, những biến
cố do các vấn đề có tính toàn cầu tác động tới.
Vào đầu những năm 80 của thế kỷ XX, vấn đề hội nhập quốc tế ch
ưa
phải là vấn đề quan tâm hàng đầu ở Việt Nam. Nhưng từ năm 1986 trở đi, cùng
với đà tiến triển của sự nghiệp đổi mới và xu thế chung của thế giới, Việt Nam
đã chủ động từng bước tham gia vào quá trình hội nhập. Đầu tiên là hội nhập


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status