TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
Luận Văn Tốt Nghiệp
Nghành: BÁC SĨ THÚ Y
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA BỘT YUCCA (YUCCA
SCHIDIGERA) VÀ BỘT HÚNG QUẾ ĐẾN MỘT SỐ CHỈ TIÊU
SINH LÝ CỦA GIỐNG GÀ COBB 500
Giáo viên hướng dẫn
SINH VIÊN THỰC HIỆN
THS. CHÂU THỊ HUYỀN TRANG
NGUYỄN THỊ THÚY OANH
MSSV: LT11663
Lớp : Thú Y LT K37
Cần Thơ, 12/ 2013
i
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN THÚ Y
Đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của bột Yucca (Yucca schidigera) và bột Húng
Quế đến một số chỉ tiêu sinh lý máu của giống gà Cobb 500”
(Yucca schidigera) và bột Húng Quế đến một số chỉ tiêu sinh lý máu của giống
gà Cobb 500’’ là do chính tôi thực hiện, các số liệu thu thập và kết quả phân tích
trong đề tài là trung thực.
Cần Thơ, ngày
tháng
năm
SINH VIÊN THỰC HIỆN
NGUYỄN THỊ THÚY OANH
i
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình thực hiện đề tài luận văn tốt nghiệp trước hết:
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn vô vàng đến cha mẹ và tất cả những người thân
đã luôn luôn ở bên cạnh ủng hộ, là nguồn động viên lớn nhất cho tôi vượt qua tất cả
mọi khó khăn.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thạc sĩ Châu Thị Huyền Trang - Bộ
môn Thú y khoa Nông Nghiệp & Sinh Học Ứng Dụng trường Đại học Cần Thơ đã
quan tâm dìu dắt và tận tình giúp đỡ tôi trong suốt thời gian làm luận văn tốt nghiệp.
Tôi xin chân thành c ả m ơ n đến PGS.TS Trần Ngọc Bích cố vấn học
tập, cùng quý thầy cô bộ môn Thú y khoa Nông Nghiệp & Sinh Học Ứng Dụng đã
truyền đạt những kiến thức quí báo cho chúng tôi trong quá trình học tập và rèn
luyện tại trường.
Tôi xin cảm ơn trại gà của Cô Lê Thị Kim Oanh ở ấp Mỹ Thuận, xã Thạnh
Bảng 2.4: Thành phần dinh dưỡng trong 100g rau húng quế tươi .................................... 22
Bảng 2.5: Các hợp chất của lá húng quế ........................................................................... 23
Bảng 3.1 Thí nghiệm 1: Bổ sung bột Yucca vào khẩu phần ăn của gà Cobb 500 ............ 28
Bảng 3.2 Thí nghiệm 2: Bổ sung BHQ vào khẩu phần ăn của gà Cobb 500 .............................. 28
Bảng 3.3: Thành phần dinh dưỡng thức ăn theo giai đoạn cho gà Cobb 500 ................... 30
Bảng 3.4: Thành phần các chất bổ sung cho gà trong nước uống ..................................... 31
Bảng 3.5: Quy trình tiêm phòng trên gà cho 1000 con gà................................................. 32
Bảng 4.1: Ảnh hưởng của bột Yucca đến các chỉ tiêu sinh sinh lý máu cả gà Cobb 500.37
Bảng 4.2: Ảnh hưởng bột Yucca và giới tính đến các chỉ tiêu sinh lý máu của gà Cobb
500 ..................................................................................................................................... 39
Bảng 4.3: Ảnh hưởng của BHQ đến chỉ tiêu sinh lý máu của gà Cobb 500 ..................... 40
Bảng 4.4: Ảnh Hưởng của BHQ và giới tính của gà Cobb 500 đến các chỉ tiêu sinh lý
máu .................................................................................................................................... 41
Bảng 4.5: Ảnh hưởng của bột Yucca và BHQ đến các chỉ tiêu sinh lý máu của gà Cobb
500 ..................................................................................................................................... 41
i
DANH SÁCH HÌNH
Trang
Hình 1: Gà Cobb 500 ........................................................................................................3
Hình 2: Cây Yucca ...........................................................................................................15
Hình 3: Rau húng quế .......................................................................................................20
Hình 4: Tổng quan của trại ...............................................................................................26
Hình 5: Gà nuôi thí nghiệm ..............................................................................................27
Hình 6: Gà thí nghiệm ......................................................................................................28
Hình 7: Hình bên trong trại gà ..........................................................................................29
Hình 8: Giàn lạnh .............................................................................................................29
Hình 9: Hệ thống quạt hút ................................................................................................29
quế 1 – 2g cho kết quả tốt nhất. Tuy nhiên, bột húng quế có ảnh hưởng đến các chỉ tiêu
sinh lý máu, cụ thể là chỉ số hematocrit (30,54), số lượng hồng cầu (2,89), và số lượng
bạch cầu (18,07).
i
CHƯƠNG 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Các loại thảo dược đã được con người sử dụng trong chăn nuôi để
cải thiện năng suất của vật nuôi cách đây hàng ngàn năm từ thời Ai Cập cổ
đại (Zhang et al., 2005), đặc biệt là ở một số nước như Ấn Độ, Trung
Quốc. Một số nghiên cứu cho thấy các loại thảo mộc như gừng, tỏi, hành
tây, lá kinh giới, bột Yucca, rau húng quế… có tác dụng rất tốt làm cho vật
nuôi có cảm giác ngon miệng, kích thích tiêu hóa và có tác dụng kháng
khuẩn (Kamel, 2001).
Rau húng quế là một loại rau quen thuộc được sử dụng hằng ngày
trong các bữa ăn của gia đình, không những cung cấp một số dưỡng chất
cần thiết cho cơ thể, làm chậm quá trình lão hóa, phòng chống được một
số vi khuẩn có hại, mà còn có tác dụng điều trị một số bệnh thông thường
như táo bón, viêm họng, đầy bụng, đau răng…(Hồ Đình Hải, 2012). Một
số nghiên cứu cho thấy việc bổ sung rau húng quế làm thành bột Húng
Quế trong khẩu phần cải thiện năng suất sinh trưởng, khối lượng của gà
thịt (Al-Kelabi and Al-Kassie, 2012).
Cây Yucca có tên khoa học Yucca schidigera, là loại cây thuộc
họ Agavaceae, chất chiết xuất từ bột của cây này rất giàu saponin là hoạt
chất sinh học mạnh và có ý nghĩa quan trọng trong nhiều lĩnh vực trong đó
có chăn nuôi, chúng được sử dụng như chất bổ sung vào thức ăn, phòng trị
bệnh, giảm thiểu ô nhiễm nguồn chất thải từ vật nuôi,… Trên thế giới đã
có một số nghiên cứu về ảnh hưởng của bột hay chiết xuất của cây Yucca
ngày càng tăng trên toàn thế giới.
Hình 1: Gà Cobb
Bảng 2.1: Chỉ tiêu sản xuất của gà trống Cobb 500
Trọng lượng
Tuần tuổi
bình quân (g)
Hệ số chuyển hóa thức
ăn
Ngày tuổi
1
7
170
0,836
2
14
449
1,047
1,700
7
49
3486
1,847
(Trần Văn Đạt, 2009)
2
Bảng 2.2: Chỉ tiêu sản xuất của gà mái Cobb 500
Khối lượng
Tuần tuổi
bình quân (g)
Hệ số chuyển hóa
thức ăn
Ngày tuổi
1
7
35
1879
1,653
6
42
2412
1,820
7
49
2867
1,988
(Trần Văn Đạt, 2009)
2.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÁC CHỈ TIÊU SINH LÝ MÁU GIA
CẦM TRONG NƯỚC
Năm 1985, Phạm Ngọc Uyển và Lê Vãn Liễn nghiên cứu về chỉ
tiêu sinh lý liên quan đến khả năng tự miễn kháng tự nhiên của gà Ri,
gà H’mông, gà Tè, gà Tam hoàng, gà Kabir. Các kết quả thu được cho
thấy gà Ri và gà Tè có các chỉ số sinh lý máu: số lượng hồng cầu, bạch
bạch cầu tổng số là 30 ngàn/ml.
Năm 2012, Lê Thị Bé Ngoan nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh lý của
giống gà Nòi tại xã Vĩnh Thạnh và xã Bàn Tân Định, huyện Giồng Riềng,
tỉnh Kiên Giang. Kết quả cho thấy các chỉ tiêu sinh lý máu vẫn nằm trong
giới hạn sinh lý bình thường cụ thể là: Số lượng hồng cầu 3,49 3,38
(106/mm3), số lượng bạch cầu 22,36 1,82 (103/mm3), chỉ số hematocrit
29,24 3,38 (%), hàm lượng huyết sắc tố 9,22 1,05 (g%).
Tương tự, tác giả Nguyễn Thanh Duyên nghiên cứu một số chỉ tiêu
sinh lý của giống gà Nòi tại thị trấn Giồng Riềng và xã Vĩnh Phú – huyện
Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang (2012). Kết quả cho thấy các chỉ tiêu sinh lý
máu như: số lượng hồng cầu 3,31 0,33 (106/mm3), số lượng bạch cầu
21,61 1,82 (103/mm3), tỉ lệ huyết cầu 29,9 2,96 (%), hàm lượng huyết
sắc tố 9,1 0,91 (g%).
Năm 2012, Bùi Thị Tho và Nguyễn Thị Hằng nghiên cứu ảnh hưởng
của các chế phẩm cây bồ công anh đến một số chỉ tiêu sinh lý máu gia cầm,
cho thấy các chế phẩm này ảnh hưởng tích cực đến các chỉ tiêu sinh lý
máu.
2.3 ĐẠI CƯƠNG VỀ MÁU
Trong cơ thể máu có nhiệm vụ cung cấp dưỡng chất cho các tế bào
và tổ chức hoạt động. Máu đưa những chất thải đến các cơ quan bài tiết, là
mối liên hệ bên trong giữa các tổ chức và các khí quan. Ngoài ra, máu còn
có chức năng bảo vệ cơ thể như thực bào, hình thành kháng thể, giữ thăng
bằng áp lực của tế bào, điều tiết nước và xúc tiến quá trình tản nhiệt trong
cơ thể. Với chức năng như vậy, có thể nói máu là một dung môi sống của
các cơ quan, tổ chức và các tế bào của cơ thể, nó tạo hoàn cảnh ổn định
cho các tế bào hoạt động. Vì vậy mà trong trạng thái sinh lý bình thường
thì thành phần tính chất của máu có những chỉ tiêu tương đối ổn định và
chỉ thay đổi trong một phạm vi nhất định. Nhưng lúc cơ thể bị bệnh thì
tính chất, thành phần của máu có những thay đổi tương ứng, đặc trưng mà
chúng ta có thể dựa vào để chẩn đoán bệnh (Hồ Văn Nam, 1982). Nguyễn
Trong vật chất khô gồm có protid, glucid, lipid và chất khoáng, các sản
phẩm phân giải protid, glucid, lipid, các men, kích thích tố, vitamin, các thể miễn
dịch và các sắc tố.
Tỷ trọng máu chủ yếu phụ thuộc vào hàm lượng hồng cầu. Tỷ trọng máu
của gia súc thường vào khoảng 1,042 - 1,062. Ở gà tỷ trọng máu là 1,064
(Nguyễn Thị Kim Đông và Nguyễn Văn Thu, 2009).
Thành phần hữu hình: gồm có hồng cầu, bạch cầu và tiểu cầu.
5
2.3.2 Một số chỉ tiêu sinh lý máu
2.3.2.1 Hồng cầu
Hình dạng: đối với gia cầm, lưỡng thê, cá, bò sát, hồng cầu bầu dục có
nhân, lồi hai mặt, kích thước lớn hơn ở loài hữu nhũ.
Đối với hữu nhũ, hầu hết hồng cầu hình tròn, không nhân, lõm ở giữa tăng
diện tích tiếp xúc với O2 và CO2.
Từng hồng cầu riêng lẻ có màu vàng, từng đám hồng cầu màu đỏ.
+ Số lượng hồng cầu:
Hồng cầu của các loài gia súc biến thiên tùy tình trạng cơ thể, tùy thuộc
vào tuổi tác, phái tính, duy truyền nòi giống, tình trạng dinh dưỡng, tình trạng
hoạt động của gia súc, mang thai, tiết sữa, cao độ. Về tuổi, gia súc mới sinh có số
hồng cầu khá cao rồi giảm nhanh, sau đó số lượng đạt mức ổn định lúc trưởng
thành. Gia súc đực có số lượng hồng cầu cao hơn cái khoảng 5-10%.
+ Cấu tạo hồng cầu:
Hồng cầu được bọc bởi một màng mỏng ở ngoài, bên trong là sườn tế bào
chất, còn gọi là cốt huyết cầu, là lipoprotein, cốt huyết cầu có hình mạng lưới,
xổp, ngấm đầy hemoglobin.
+ Thành phần hóa học:
H2O
6
Hàm lượng huyết sắc tố trong máu theo đổi tùy theo loài, giống tuổi, tính
biệt, trạng thái dinh dưỡng và bệnh tật (Trần Cừ, 1975).
Sống ở vùng cao hàm lượng huyết sắc tố tăng lên nhiều (Hurtado và
S.Pvenski,
Hàm lượng huyết sắc tố có thể thay đổi tùy theo phương thức chăn nuôi
khác nhau.
Hàm lượng huyết sắc tố tăng trong các trạng thái mất nước, máu đăc lại
(tiêu chảy, nôn mửa nhiêu, ra nhiêu mồ hôi), trúng độc cấp tính. Còn giảm thì
thường gặp nhất trong các bệnh thiếu máu (Trần Thị Minh Châu, 2008).
2.3.2.3 Tỷ lệ huyết cầu (Hematocrit)
Tỷ lệ huyết cầu cho biết tỷ lệ phần trăm của hồng cầu có trong máu (Trần
Thị Minh Châu, 2008).
Tỷ lệ huyết cầu bao giờ cũng thấp hơn tỷ lệ huyết tương (C.p Sweson,
1970 - trích dẫn luận văn tốt nghiệp của Cao Thị Minh Thảo, 1994).
Tỷ lệ huyết cầu thay đổi theo cao độ vì số lượng hồng cầu tăng (Prosser và
Bran 1961) và nó biến đổi tùy theo sự vận chuyển nước vào trong cơ thề. Tỷ lệ
huyết cầu tăng khi có ứ nước trong tế bào hoặc trong trạng thái bị sốc. Tỷ lệ huyết
câu giảm trong trạng thái thiếu máu (Trần Thị Minh Châu, 2008).
2.3.2.4 Bạch cầu
Bạch cầu là những tế bào máu có nhân, có chức năng bảo vệ cơ thể.
+ Số lượng:
Số lượng bạch cầu thường ít 1000 lần so với hồng cầu.
Số lượng bạch cầu tăng 2-3 giờ sau khi ăn, khi vận động, khi con vật có
chửa...giảm khi tuổi tăng lên. Trong trường hợp bệnh lý, số lượng bạch cầu tăng
mạnh khi bị viêm nhiễm, tức khi có sự xâm nhập của vi trùng, vật lạ,...giảm khi bị
suy tụy, bị nhiễm phóng xạ. Vì vậy, xác định số lượng bạch cầu có ý nghĩa lớn
trong chẩn đoán (Nguyễn Thị Kim Đông và Nguyễn Văn Thu, 2009).
gia súc bệnh tăng sinh lý hoặc tăng bệnh lý: bệnh truyền nhiễm cấp tính do vi
trùng, trúng độc do độc tố, viêm cấp tính, bệnh nội khoa viêm nhiễm trùng (Trần
Thị Minh Châu, 2008).
Bạch cầu trung tính giảm: bệnh truyền nhiễm do virus, trúng độc do hóa
chât di ứng nhiễm độc chì, thủy ngân, viêm phổi, viêm khớp, viêm thận, viêm hóa
mủ, suy tủy. (Trần Thị Minh Châu, 2008).
+ Bạch cầu hạt ưa acid (Bạch câu ái toan, Eosinophil):
Nhân thường chia hai múi như hình mắt kính, bào tương có những hạt to,
tròn đều nhau màu da cam (đỏ cam), sổ lượng từ 150-450 tế bào/mm3.
đường kính từ 8-20 µ nhân có hai hoặc nhiều thùy nối hoặc không nối với nhau,
đặc biêt ở gà nhân có hình gậy (Trần Thị Minh Châu, 2008).
Xuất hiện với số lượng nhỏ, có khả năng thực bào kém (Swenson, 1970 trích dẫn luận văn tốt nghiệp của Nguyễn Minh Tâm, 1994).
Bạch cầu ái toan tăng: nhiễm ký sinh trùng trong bệnh của da, ái toan xuất
hiện trong các bệnh sốt cao, dị ứng, trúng độc. Ái toan giảm khi nhiễm trùng toàn
thân (Trần Thị Minh Châu, 2008).
+ Bạch cầu hạt ưa kiềm (Bạch cầu ái kiềm, Basophil)
8
Loại này rất hiếm, nhân bị thắt nhiều chỗ, bào tương có những hạt to nhỏ
không đều nhau nằm đè lên nhân, bắt màu xanh đen, đường kính 8-15 µ nhân
hình chữ s, xù xì, không rõ ràng do các hạt chen lấn, hạt chứa Heparin, Histamin
(Trần Thị Minh Châu, 2008).
Theo Bộ môn huyết học ĐHYD Thành phổ Hồ Chí Minh (1986), bạch cầu
ái kiềm tăng trong bệnh bạch cầu tủy, dị ứng phóng xạ, truyền huyết thanh, giảm
khi dị ứng cấp tính, dùng A.C.T.H (Adenocorticohy hormon).
Theo Trần Thị Minh Châu 2008 cho rằng, bạch cầu ái kiềm tăng: phản ứng
do tiêm huyết thanh, tiêm protein lạ, một số bệnh ký sinh trùng, thiếu vitamin A,
ung thư.
Bạch huyết bào (Lâm ba cầm - Lymphocyte): Nhân to tròn, bắt màu tím
Ở gia súc mới sinh, số lượng của nó ít hơn so với gia súc trưởng thành.
Trong một số bệnh truyền nhiễm và khi bị choáng quá mẫn thì số lượng tiểu cầu
giảm. Trong quá trình tiêu hóa và gia súc mang thai tiểu cầu tăng.
Tiểu cầu tham gia đắc lực vào cơ chế chống đông máu. Khi bị thương, tiểu
cầu chảy theo dòng máu và va chạm vào vết thương vở giải phóng ra serotomin
làm co mạch để đông máu và thrombokinase mở đầu cho cơ chế gây đông máu.
Tiểu cầu trong máu gia cầm ít hon hẳn so với gia súc. Tiểu cầu có hình
thoi về kích thước tiểu cầu nhỏ hơn hồng cầu nhưng lớn hon tiểu cầu của gia súc
(G.P.MELEKHIN và N.la.GRIĐIN. 1977).
2.4 Vai trò của thảo mộc trong chăn nuôi thú y.
2.4.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
Về lĩnh vực Thú y các tác giả Trần Minh Hùng và cộng sự đã nghiên cứu
ứng dụng các kháng sinh thực vật (phytoncid) trong nuôi dưỡng và phòng trị bệnh
cho lợn, đặc biệt là lợn con tiêu chảy phân trắng đạt hiệu quả cao (Bùi Thị Thọ,
2007).
Theo tác giả Trịnh Thái Nguyên (1994) trong bài “So sánh hiệu quả sử
dụng thuốc nam và thuốc tân dược chloramphenicol về mặt phòng trị bệnh” cho
thấy điều trị bằng thuốc nam thật đơn giản, giá thành thấp và tỉ lệ khỏi bệnh cao.
2.4.2 Ứng dụng các loại thảo dược trong chăn nuôi
Từ thời cổ đại, các thảo dược (lá, củ, thân) được sử dụng trong việc điều trị
bệnh ở người và động vật. Việc đánh giá các thuốc thảo dược dựa trên hai yếu tố,
một là quan sát sự tự chữa bệnh ở động vật và hai là kết hợp với các loại thuốc
dân gian ở người.
Ngày nay chăn nuôi công nghiệp đang phải đối mặt với một số thách thức
như tăng nhu cầu các loại sản phẩm, sự biến động giá của các nguyên liệu, dịch
bệnh… do đó người chăn nuôi cần phải tiến hành các điều kiện tối ưu nhằm đảm
bảo năng suất của vật nuôi. Các chất phụ gia thảo dược được chú ý và sử dụng
nhiều hơn trong thức ăn công nghiệp và ngày càng tăng. Hiện nay, 70-80% các
công ty đã sử dụng thảo dược trong thức ăn dành cho heo và gia cầm (World
Poultry, 2008).
đến hoạt động kháng khuẩn. Các phân nhóm quan trọng của nhóm này gồm có
phenols, phenolic acid, quinone, flavone, flavonoid, flavonol, tannin và coumarin.
Phenol có nhóm hydroxyl (-OH) gắn với vòng thơm phenol là chất độc đối với vi
sinh vật. Vị trí và số lượng nhóm -OH có liên quan đến sự độc vi sinh vật, tác
dụng làm tăng sự -OH hóa dẫn đến tăng độ độc (Cowan, 1999). Quinone, có các
vòng thơm với 2 keton thay thế.
11
Terpenes là một nhóm lớn và đa dạng của các thành phần hữu cơ được xây
dựng từ các tiểu đơn vị isoprene, trong khi terpenoid là oxygen có thành phần
tương tự terpenes. Các tiểu đơn vị gồm có monoterpene (C10), sesquiterpene
(C15), diterpene (C20) thành phần ban đầu của các tinh dầu thiết yếu, triterpene
(C30), tetraterpene (C40) và polyterpene (Kovacevic, 2004). Cơ chế chưa được
hiểu rõ hết, chủ yếu là phá vỡ màng bằng các thành phần ưa béo.
Alkaloid, một trong những chất có hoạt chất sinh học được phân lập sớm
nhất, gồm các dị vòng nitơ. Được tìm thấy từ các amino acid, và nitơ đem đến các
đặc tính alkaline.
Cơ chế kháng khuẩn là do sự khả năng xen vào giữa DNA, kìm hãm các
enzyme như esterase, DNA-polymerase, RNA-polymerase, ức chế sự hô hấp của
các tế bào (Kovacevic, 2004).
2.4.3.2 Cơ chế chống oxy hóa
Đặc tính chống oxi hóa của các thảo dược đã được mô tả bởi Cuppett và
Hall (1998); Craig (1999); Nakatami (2000) và Wei và Shibamoto (2007).
Nguồn dầu dễ bay hơi thuộc họ Labiatae có chức năng chống oxi hóa, đặt
biệt là sản phẩm từ cây hương thảo. Thành phần chống oxi hóa chủ yếu là nhóm
phenolic terpene, ngoài ra còn có monoterpene thymol và carvanol (Cuppett và
Hall, 1998); các cây từ họ Zingiberaceae như gừng và nghệ như tỏi cũng như các
thực vật giàu flavonoids như trà xanh và anthocyans ở nhiều loại quả…Đặc tính
thành bột, đó là “bột saponin Yucca”. Nếu làm theo kĩ thuật ngâm nước thì thân
cây sao khi ngâm nước được ép lấy dịch, đó là “dịch chiết Yucca”.
Saponin có trong nhiều loài thực vật, cả thực vật hoang dại lẫn thực vật
gieo trồng. Có hai loại saponin, đó là saponin acid (triterpenoid saponin) và
saponin trung tính (steroid saponin). Saponin acid có mặt chủ yếu trong thực vật
gieo trồng còn saponin trung tính có mặt chủ yếu trong thực vật hoang dại, đặc
biệt là trong thảo dược. Nhóm cây đậu như đậu tương, đậu Hà Lan, cỏ
Luzern…và một số cây cỏ có tính chất tạo bọt như rễ cây xà phòng (soap root),
vỏ cây xà phòng (soap bark)…khá giàu saponin.
13
2.5.1 Lợi ích của cây Yucca
Người dân châu Mỹ bản địa dùng sợi lấy từ lá cây Yucca làm dây thừng,
giày và quần áo. Hoa và quả cây Yucca có thể ăn được và hạt đen của cây Yucca
có thể nghiền để lấy tinh bột. Người ta còn dùng rễ của cây Yucca để làm xà
phòng, gội đầu nhằm trị gàu và rụng tóc. Trong chăn nuôi gia súc, chất chiết từ
cây Yucca được dùng khử mùi và giảm amoniac trong không khí cũng như trong
chất thải của động vật. Một số nghiên cứu cho thấy chất chiết từ cây Yucca được
bổ sung trong thức ăn có thể làm giảm hàm lượng amoniac và urê trong máu của
động vật. Chất chiết từ cây Yucca còn được dùng để trị một số thuốc trị bệnh cho
động vật, đặc biệt là các bệnh do protozoa (nguyên sinh động vật) gây ra. Hoạt
chất saponin trong chiết chất Yucca có thể diệt một cách hiệu quả loài
protozoa Giardia lamblia gây bệnh tiêu chảy ở người và động vật. Hoạt chất
saponin còn được dùng để trị một số bệnh trên ngựa như bệnh viêm khớp do
nhiễm Naegleria (một giống thuộc nhóm trùng biến hình), bệnh viêm não và tủy
sống do nhiễm Sarcosystis neurona. Hiện nay hoạt chất saponin chiết từ
cây Yucca schidigera đã được sản xuất đại trà và thương mại hóa.
2.5.2 Cơ chế tác động
tính thấm biểu mô đường hô hấp và làm mất các chất điện giải cần thiết.
2.5.3.2 Công dụng của saponin:
Tác dụng kháng khuẩn và kháng nấm: saponin có trong cây, lá để tự vệ và
chống nấm mốc xâm nhập. Các saponin steroid chống nấm mạnh hơn saponin
triterpenoid. Tác dụng chống nấm gắn liền với tạo phức với sterol của màng tế
bào nấm làm màng nấm tan rã.
Tác dụng kháng viêm: tất cả saponin steroid đều là thuốc kháng viêm
mạnh.
Tác dụng sinh dục: acid oleanoleic trong sapogenin và ginsenoid toàn phần có tác
dụng hướng sinh dục trên chuột.
Tác dụng chống ung thư: saponin nhóm spirotan có nhiều hoạt tính kháng
u. các glycoside spirotanol có chứa bốn đơn vị đường trong phần oligosaccaid có
tác dụng chống ung thư.
Do tính chất hoạt động bề mặt và tẩy rửa, saponin là tác nhân tạo bọt rất
tốt cho các dung dịch cần có bọt bền. Dịch tiết của Yucca được dùng trong công
nghệ đồ uống, dùng trong công nghiệp tách quặng, làm chất nhũ hóa trong chế
tạo phim ảnh và mỹ phẩm như son môi, dầu gội (Cheek, 2000).
Bột hay dịch tiết của cây Yucca không phải chỉ có steroid saponin mà còn
có những hóa chất thực vật khác, đó là oligosaccarid, phenol, stilbene, resveratrol.
Các oligosaccarid có vai trò là prebiotic, phenol, stilbene, resveratrol có vai trò
của các chất chống oxy hóa trong đó hợp chất resveratrol cũng rất giàu trong nho
và là một chất chống oxy hóa mạnh, rất tốt đối với việc ngăn ngừa các bệnh tim
mạch và ung thư.
2.5.4 Ứng dụng bột Yucca trong chăn nuôi:
Bột hay dịch tiết của cây Yucca đã được dùng làm phụ gia thức ăn chăn
nuôi với các vai trò:
Kiểm soát amoniac và mùi hôi của chất thải: con vật sử dụng 30% nitơ
trong khẩu phần ăn đươc để sinh tổng hợp protein tạo sản phẩm động vật, phần
15
hưởng của khẩu phần chứa saponin làm giảm lượng cholesterol trong máu gia
cầm. Điều này chứng minh hơn 40 năm rằng khẩu phần chứa saponin làm giảm
lượng cholesterol trong máu gà (Newman et al., 1957, Griminger and Fisher,
1958). Ảnh hưởng trên là do saponin liên kết với cholesterol thành acid mật ở
ruột và ngăn sự tái hấp thu nó lại (Oakenfull và Sidhu, 1989).
Hoạt tính bề mặt và chức năng của ruột: một số thí nghiệm khác trên gà
thịt từ 0-42 ngày tuổi khi bổ sung Nutrafito plus (một chế phẩm chứa saponin)
với liều 200 mg/kg khẩu phần đã năng cao thể trọng và giảm hệ số chuyển hóa
thức ăn nhờ tác dụng cải thiện chiều cao của vi nhung và độ sâu khe niêm mạc
ruột (Vũ Duy Giảng, 2010, trích dẫn từ Kaiboriboon,2010).
Ngăn ngừa ung thư kết tràng: saponin có khả năng chống ung thư kết
tràng. Acid mật chia làm hai loại là acid mật sơ cấp và acid mật thứ cấp. Acid mật
16
sơ cấp sinh ra từ mật và acid mật thứ cấp sinh ra từ acid mật sơ cấp do tác động
của vi sinh vật. Acid mật sơ cấp là chất độc kích thích khối u. Saponin kết hợp
với acid mật sơ cấp không cho chúng biến đổi thành acid mật thứ cấp. Saponin
cũng kết hợp với cholesterol ngăn chúng không bị oxy hóa trong kết tràng
(cholesterol oxy hóa là chất kích thích ung thư kết tràng) (Rao and Sung, 1995).
Nâng cao đáp ứng miễn dịch: là tá dược của vaccine, saponin làm tăng khả
năng hấp thu các phân tử nhờ đó cải thiện vaccine tiêm và uống. Saponin thì đặc
biệt hiệu quả khi là tá dược của vaccine antiprotozoa, tá dược saponin trong
vaccine này tạo cho vaccine có khả năng tấn công protozoa ở cả hai phía, cả trong
đường ruột lẫn trong đường máu. Có khả năng tăng sự phân chia của tế bào miễn
dịch, kích thích sự sinh sản cytokine, nhờ đó hoạt hóa được lympho B sản sinh
kháng thể.
Cải thiện năng suất sinh sản, hạn chế tỉ lệ đẻ non: người ta nhận thấy rằng
heo con được sinh ra từ heo mẹ ăn khẩu phần bổ sung chiết chất Yucca có hàm
lượng oxy trong máu cao hơn, có lẽ đây là lý do làm cho tỉ lệ chết của heo con khi