tiểu luận môn quản lý cơ sở vật chất và thiết bị trong giáo dục - Pdf 31

Đề bài:
Câu 1: Những biện pháp cơ bản của hiệu trưởng đối với việc quản lý:
trường sở, thiết bị giáo dục và thư viện?
Câu 2: Phân tích và liên hệ thực tiễn các nguyên tắc chung của quản lý
cơ sở vật chất – thiết bị trường học?

1


PHẦN BÀI LÀM
Câu 1:
Cơ sở vật chất – thiết bị trong giáo dục mà cụ thể là trường sở, thiết bị
giáo dục và thư viện là một trong những thành tố cấu thành quá trình giáo
dục, và là thành tố có vai trò quan trọng trong đảm bảo chất lượng giáo dục.
Quản lý cơ sở vật chất và thiết bị trong giáo dục là một trong những
nhiệm vụ quan trọng cơ bản của người hiệu trưởng.
1. Khái niệm và vị trí vai trò của trường sở, thiết bị giáo dục và thư
viện.
Trước hết chúng ta cần nắm được khái niệm cơ sở vật chất – thiết bị
giáo dục. Một cách đơn giản thì có thể hiểu cơ sở vật chất – thiết bị giáo dục
là tất cả các phương tiện vật chất được sử dụng vào việc giảng dạy, học tập và
các hoạt động mang tính giáo dục khác để đạt được mục tiêu giáo dục. Cơ sở
vật chất – thiết bị trong giáo dục bao gồm trường sở, thiết bị giáo dục và thư
viện.
1.1. Khái niệm và vị trí vai trò của trường sở:
1.1.1. Khái niệm:
Trường sở là nơi tiến hành dạy học và giáo dục, đó là những tòa nhà,
sân chơi, vườn trường… và quang cảnh tự nhiên bao quanh trường.
Theo nghĩa bao quát hơn thì trường sở thống nhất hữu cơ với hoàn
cảnh, nó bao gồm: thiên nhiên, lao động và hoạt động xã hội của những người
xung quanh.

trường sở phải có khung cảnh nhà trường xanh – sạch – đẹp, có cây xanh
bóng mát, bãi cỏ vườn hoa, tất cả các loại, tất cả các loại phòng học phải sạch
sẽ, sáng sủa…
Trường sở là tổng thể gồm nhiều khối công trình, có thiết kế cấu trúc
đặc trưng riêng, có các tính năng riêng biệt nhưng tựu trung là góp phần thực
hiện mục tiêu giáo dục. Nghiên cứu ở đây là nghiên cứu mối quan hệ giữa:
Mục đích dạy học – phương pháp dạy học – phương tiện dạy học. Cũng chính

3


là nghiên cứu mối quan hệ giữa: Mục tiêu giáo dục – Nguyên lý giáo dục –
Cơ sở vật chất – thiết bị giáo dục. Và chỉ thực hiện một cách đầy đủ mục tiêu
với một cơ sở vật chất – thiết bị giáo dục tương ứng phù hợp, trong đó có
trường sở thì mới góp phần vào việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi
dưỡng nhân tài để nhằm phục vụ cho công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước
đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
Điều 103 của Luật Giáo dục đã khẳng định: “Ưu tiên đầu tư xây dựng
trường học; Bộ, cơ quan ngang Bộ, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân
các cấp có trách nhiệm đưa việc xây dựng trường học, các công trình thể dục
thể thao, văn hóa, nghệ thuật phục vụ giáo dục vào quy hoạch, kế hoạch phát
triển kinh tế - xã hội của ngành và địa phương; ưu tiên đầu tư tài chính và đất
đai cho việc xây dựng trường học và ký túc xá cho học sinh, sinh viên trong
kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội”.
Vì vậy, để làm tốt các vai trò trên thì toàn bộ khung cảnh nhà trường
với các công trình phải được xây dựng đúng chuẩn mực, trang bị đầy đủ
khang trang sạch đẹp thể hiện nét hiện đại của nhà trường xã hội chủ nghĩa
bền vững theo thời gian, phù hợp với tâm sinh lý của học sinh, tạo được cảm
giác yên tâm của các bậc phụ huynh, đồng thời nó sẽ có giá trị giáo dục hết
sức to lớn, gây ấn tượng mạnh và lưu lại suốt đời trong ký ức học sinh.

nhận thức, ví dụ như: kính hiển vi là thiết bị giáo dục dùng để quan sát các vật
nhỏ bé mà mắt thường không thấy được, nhưng trong môn quang học kính
hiển vi lại là đối tượng cần được người học nhận thức về mặt cấu tạo và các
quy luật quang học. Có thể nói thiết bị giáo dục vừa là phương tiện để nhận
thức vừa lại là đối tượng chứa nội dung cần nhận thức
Hiện nay có rất nhiều thiết bị giáo dục mới được sử dụng trong dạy
học, đặc biệt là việc ứng dụng tin học. Với sự tiến bộ nhanh chóng của khoa
học và công nghê, thiết bị giáo dục trong nhà trường ngày càng nhiều đã làm
thay đổi một cách căn bản về phương pháp, làm cho quá trình giáo dục sinh
động và hiệu quả hơn.

5


Thiết bị giáo dục chẳng những tạo điều kiện đi sâu vào các đề tài
nghiên cứu, mà còn cho phép trình bày các vấn đề trừu tượng một cách sinh
động, do khả năng sư phạm to lớn hỗ trợ cho giáo viên và học sinh như: tăng
tốc độ truyền tải thông tin mà không làm giảm chất lượng thông tin; thực hiện
các phương pháp trực quan, thực nghiệm, tạo ra những vùng hợp tác giữa thầy
và trò, khả năng thực hành, củng cố kiến thức, rèn luyện kỹ năng làm việc,
học tập, sự khéo léo chân tay, bồi dưỡng khả năng tự học, tự chiếm lĩnh tri
thức, tạo ra sự hứng thú lôi cuốn khi học, tiết kiệm thời gian trên lớp, cải tiến
các hình thức lao động sư phạm, tạo khả năng tổ chức một cách khoa học và
điều khiển các hoạt động giáo dục.
Bên cạnh các thiết bị giáo dục được sản xuất theo các quy trình công
nghiệp, cũng cần chú ý đến các thiết bị giáo dục tự làm. Cơ quan UNESCO
của Liên Hợp Quốc đã khuyến khích và bảo trợ cho hoạt động này vì nó
hướng vào việc khai thác trí tuệ và lao động của thầy và trò từ các nguyên liệu
tại địa phương để góp phần giải quyết kịp thời yêu cầu dạy và học. Do đó,
việc tự làm thiết bị giáo dục được coi là một hoạt động có tính chất nghiệp vụ

công nghệ, kinh tế, văn hoá, phục vụ công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước”.
1.3.2. Vị trí của thư viện và sách
* Vị trí của thư viện.
- Thư viện trường học là một trong những yếu tố cơ sở vật chất quan
trọng của nhà trường, là phương tiện không thể thiếu được để phục vụ cho
việc dạy và học. Lênin đã chỉ rõ: “Sự nghiệp thư viện là một bộ phận quan
trọng của cách mạng văn hóa và tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân”
- Vị trí của thư viện trường học đã được xác định rõ ở các Nghị quyết
của Đảng và các văn bản pháp quy
- Nghị quyết Đại hội Đảng khóa VIII: “Tích cực xây dựng trường sở,
tăng thêm các thiết bị và thư viện, tủ sách cho các trường bổ túc văn hóa và
trường phổ thông”

7


- Nghị quyết Trung ương 2 – khóa VIII: “Tất cả các trường phổ thông
đều có tủ sách, thư viện và các trang thiết bị tối thiểu để thực hiện các thí
nghiệm trong chương trình. Sớm chấm dứt tình trạng “dạy chay”…”
- Điều 1 – Quy chế thư viện kèm theo Quyết định 61/1998/QĐBGD&ĐT ngày 6/11/1998 của Bộ Giáo dục và đào tạo cũng đã xác định:
“Thư viện trường phổ thông là một bộ phận cơ sở vật chất trọng yếu, trung
tâm sinh hoạt văn hóa và khoa học của nhà trường. Thư viện trường phổ
thông thuộc thư viện khoa học chuyên ngành giáo dục và đào tạo, nằm trong
hệ thống thư viện chung và thực hiện nghiêm chỉnh những văn bản quy phạm
pháp luật về công tác thư viện của nhà nước”
* Vị trí của sách
- Sách là một bộ phận của cơ sở vật chất của nhà trường. Có thể xem nó
là vũ khí, là công cụ của giáo viên và học sinh.
- Sách không chỉ là một thứ sản phẩm văn hóa – vật chất đơn thuần mà

- Thư viện giúp bồi dưỡng kiến thức cơ bản về khoa học thư viện và
xây dựng thói quen tự học, tự nghiên cứu cho học sinh
- Vì vậy, “Sự nghiệp thư viện phát triển sẽ củng cố thêm nhà trường và
làm cho công việc của nhà trường dễ dàng hơn” (Krupskaia – TTGDH- trang
20)
* Vai trò của sách
- Sách báo là nguồn sức mạnh để nhận thức cuộc sống, giáo dục con
người và là công cụ lao động của con người
- Sách báo giúp bồi dưỡng thêm tri thức cho các nhà giáo dục, góp
phần cập nhật, hiện đại hóa những phương thức giáo dục mới nhằm thực hiện
tốt mục tiêu đào tạo
- Sách cũng là nguồn sức mạnh ảnh hưởng đến nhận thức, tình cảm, lý
trí, trí tuệ và tâm hồn con người
- Sách giúp con người tìm hiểu quá khứ, nắm vững hiện tại và hiểu biết
tương lai
- Sách giúp nâng cao khả năng độc lập suy nghĩ sáng tạo trong học tập

9


- Sách là phương tiện tái hiện giờ lên lớp, mở rộng thêm kiến thức đã
học cho người học.
Từ những phân tích trên đã chứng minh một cách rõ ràng vai trò to lớn
của trường sở, thiết bị giáo dục và thư viện trong sự nghiệp giáo dục. Muốn
đảm bảo và nâng cao chất lượng dạy học, chất lượng giáo dục người hiệu
trưởng cần quan tâm và có những biện pháp quản lý phù hợp nhằm xây dựng,
duy trì bảo quản và khai thác có hiệu quả hệ thống cơ sở vật chất – thiết bị
trong giáo dục này.
2. Những biện pháp cơ bản của hiệu trưởng đối với việc quản lý:
trường sở, thiết bị giáo dục và thư viện.

nâng cao ý thức trách nhiệm của người quản lý nhà trường, nâng cao sự hăng
hái sử dụng thiết bị giáo dục của giáo viên vào việc đổi mới nội dung phương
pháp dạy học, nâng cao thói quen kết hợp học và hành của người học, ít nhất
qua việc nghiên cứu lý thuyết và thực hành thí nghiệm. Muốn vậy, người hiệu
trưởng cần:
- Xây dựng trường sở với các khối công trình đặc biệt là hệ thống lớp
học, phòng thí nghiệm, phòng thực hành, phòng bộ môn. Các phòng bộ môn
cần được xây dựng theo hướng ngày càng chuyên môn hóa, đảm bảo cho giáo
viên và học sinh có thể dạy học theo phòng bộ môn. Phòng bộ môn về thực
chất tạo ra những điều kiện thuận lợi cho giáo viên và học sinh sử dụng thiết
bị dạy học đảm bảo sự thoải mái về tâm lý, về vệ sinh học đường, về tổ chức
lao động một cách khoa học, gây được hứng thú học tập, phát triển tư duy kỹ
năng của học sinh trong giờ học.
Trong điều kiện chưa thể xây dựng phòng bộ môn cho từng môn học thì
có thể xây dựng phòng bộ môn có cùng chung tính đặc thù như: Phòng nghe
nhìn, phòng lý hóa, phòng kỹ thuật, phòng hóa sinh… và các phòng chuyên
dụng như phòng học tiếng nước ngoài, phòng tin học.
- Mua sắm thiết bị giáo dục theo yêu cầu của chương trình và kế hoạch
trang bị của trường. Có kế hoạch sử dụng nguồn kinh phí mua sắm đúng mục
đích, tuyệt đối không cắt xén. Hiệu trưởng nên xem chi tiết bảng giá từng loại

11


thiết bị, xem xét từ nhiều nguồn, nhiều cửa hàng khác nhau và tham khảo ý
kiến chuyên gia để lựa chọn được cơ sở vật chất – thiết bị trong giáo dục phù
hợp nhất. Nếu kinh phí có hạn nên lựa chọn những thứ cần thiết, cơ bản trang
bị trước, cần trang bị một số phương tiện Nghe – Nhìn, đưa máy vi tính vào
mục đích dạy học, tạo điều kiện cho giáo viên và học sinh tiếp cận các
phương tiện dạy học hiện đại hiệu quả cao.

sở, thiết bị giáo dục và thư viện. Nhưng không phải cứ có hệ thống này là tự
nó phát huy hiệu quả sư phạm. Thực tiễn cho thấy rằng mọi thiết bị đều thông
qua việc sử dụng vào mục tiêu giáo dục, dạy học mới phát huy hiệu quả.
- Trước hết hiệu trưởng cần nâng cao nhận thức đối với việc sử dụng
trường sở, thiết bị giáo dục và thư viện. Một thói quen cố hữu là nhiều người
quản lý, nhiều giáo viên, học sinh, sinh viên vẫn xem thường tác dụng của
trường sở, thiết bị giáo dục và thư viện. Thậm chí có những học sinh, sinh
viên khi được hỏi thì số lần đến thư viện trong suốt quá trình học tập chỉ đếm
trên đầu ngón tay.
Nâng cao nhận thức cho giáo viên, học sinh sinh viên về việc sử dụng
trường sở, thiết bị giáo dục và thư viện nhằm giúp họ ý thức được sự cần thiết
và có nhu cầu sử dụng thường xuyên hệ thống cơ sở vật chất – thiết bị trong
giáo dục này, tiến tới phát huy hiệu quả sử dụng chúng trong các giờ học.
Muốn vậy, người hiệu trưởng cần:
+ Bồi dưỡng giáo viên nâng cao trình độ chuyên môn gắn với sử dụng
thiết bị giáo dục và đổi mới phương pháp. Tập huấn các phương pháp dạy học
cải tiến có kết quả trong đó phải sử dụng thiết bị dạy học.
+ Biểu diễn các tính năng đưa lại hiệu quả dạy học đối với các thiết bị
dạy học đang có.
+ Phát huy, khuyến khích, động viên giáo viên, học sinh tăng cường
khai thác sử dụng thư viện, thiết bị giáo dục, tiến hành cải tiến sáng tạo các
thiết bị giáo dục…

13


- Chỉ đạo các tổ bộ môn lên kế hoạch đào tạo thì nhất thiết trong kế
hoạch này phải có mục đề xuất các thiết bị giáo dục cần sử dụng. Mỗi tổ bộ
môn lại quy định cho giáo viên khi lên kế hoạch bài giảng cho mỗi chuyên đề
mình phụ trách phải có kế hoạch thiết bị giáo dục phục vụ cho bài giảng đó.

thành thạo.
- Tổ chức tập huấn, hội thảo, báo cáo chuyên đề tại chỗ về các kỹ năng
sử dụng cơ sở vật chất – thiết bị giáo dục. Người báo cáo, người hướng dẫn
được chọn trong số cán bộ giáo viên đã đưa đi bồi dưỡng hoặc đã am hiểu
tinh thông về kiến thức và kỹ năng sử dụng các thiết bị, máy móc. Thông qua
đợt tập huấn nhằm phổ biến các kiến thức thông tin mới về công nghệ, về kỹ
thuật tiên tiến.
- Tổ chức cho giáo viên tham quan nơi sản xuất, nơi cung cấp thiết bị
giáo dục hoặc tổ chức cho nhà sản xuất, nhà cung cấp thiết bị giáo dục đem
các thiết bị giáo dục đến chào hàng giới thiệu cho giáo viên.
2.2.3. Chỉ đạo bảo quản, giữ gìn trường sở, thiết bị giáo dục và thư
viện.
Thực tế thì đây là nội dung ít được các trường chú trọng, dẫn đến tình
trạng bị xuống cấp, mối mọt nhanh chóng của hệ thống trường sở, thiết bị
giáo dục và thư viện. Bên cạnh đó ý thức bảo quản, giữ gìn của đội ngũ cán
bộ giáo viên, chuyên viên và học sinh các trường nhìn chung chưa cao.
- Hiệu trưởng cần xây dựng nội quy giữ gìn trường sở, thiết bị giáo dục
và thư viện. Nội quy này cần được phổ biến rộng rãi đến toàn bộ đội ngũ cán
bộ giáo viên và học sinh trong trường bằng nhiều hình thức khác nhau như
qua các cuộc họp, qua tổ trưởng chuyên môn, qua giáo viên chủ nhiệm và cán
bộ lớp… Những nội quy này cần được dán ở những nơi theo đúng quy định
để mọi người thấy được.
- Bảo quản theo chế độ quản lý tài sản của Nhà nước:
+ Thực hiện chế độ trách nhiệm:
Đảm bảo số lượng phụ tá nhân viên theo quy định.

15


Phân công trách nhiệm rõ ràng cụ thể cho hiệu phó phụ trách chuyên


- Hướng thứ nhất: Chọn các nhân viên kỹ thuật có am hiểu về máy móc
và trang bị cho họ thêm những hiểu biết về sư phạm.
- Hướng thứ hai: Chọn giáo viên đã học qua trường sư phạm và bồi
dưỡng năng lực kỹ thuật chuyên dụng về trường sở, thiết bị giáo dục và thư
viện.
Các biện pháp trên đây cần được thực hiện một cách đồng bộ, có sự ưu
tiên tùy theo tình hình thực tế của từng trường, không dàn trải. Nơi nào điều
kiện tổ chức sư phạm cho việc sử dụng thiết bị giáo dục khó khăn song điều
kiện cung ứng kinh tế (vốn) thuận lợi thì phải chú ý đến việc cải thiện môi
trường sư phạm của việc sử dụng thiết bị, nơi nào điều kiện cung ứng kinh tế
(vốn) có khó khăn thì phải chú ý đến việc khai thác sử dụng vốn.

17


Câu 2:
Quản lý cơ sở vật chất – thiết bị giáo dục là tác động có mục đích của
người quản lý nhằm xây dựng, phát triển và sử dụng có hiệu quả hệ thống cơ
sở vật chất – thiết bị giáo dục phục vụ đắc lực cho công tác giáo dục và đào
tạo.
1. Các nguyên tắc chung của quản lý cơ sở vật chất – thiết bị
trường học.
Hoạt động quản lý nói chung và quản lý cơ sở vật chất nói riêng muốn
thành công thì người quản lý, lãnh đạo phải tuân theo những nguyên tắc nhất
định. Hoạt động quản lý cơ sở vật chất cần tuân theo những nguyên tắc sau:
1.1. Nguyên tắc 1: Trang bị đầy đủ và đồng bộ các phương tiện cơ sở
vật chất – thiết bị giáo dục để phục vụ cho việc giáo dục và đào tạo của nhà
trường (đồng bộ giữa trường sở với phương thức tổ chức dạy học; giữa
chương trình, sách giáo khoa và thiết bị giáo dục; giữa thiết bị và điều kiện sử

b.3. Có phòng truyền thống; khu luyện tập thể dục thể thao; phòng làm
việc của Công đoàn; phòng hoạt động của Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí
Minh; Đội Thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh đối với trường trung học cơ sở
và trường phổ thông có nhiều cấp học;
c. Khu văn phòng:
Có phòng làm việc của Hiệu trưởng, phòng làm việc của từng phó
Hiệu trưởng, văn phòng nhà trường, phòng họp hội đồng giáo dục nhà
trường, phòng họp từng tổ bộ môn, phòng thường trực, kho;
d. Khu sân chơi sạch, đảm bảo vệ sinh và có cây bóng mát;
e. Khu vệ sinh được bố trí hợp lý, riêng cho giáo viên, học sinh nam,
học sinh nữ, không làm ô nhiễm môi trường ở trong và ngoài nhà trường;
g. Có khu để xe cho giáo viên, cho từng khối lớp hoặc từng lớp trong
khuôn viên nhà trường, đảm bảo trật tự, an toàn;
h. Có đủ nước sạch cho các hoạt động dạy học, nước sử dụng cho giáo
viên, học sinh; có hệ thống thoát nước hợp vệ sinh;

19


Có hệ thống công nghệ thông tin kết nối internet đáp ứng yêu cầu quản
lý và dạy học; có Website thông tin trên mạng internet hoạt động thường
xuyên, hỗ trợ có hiệu quả cho công tác dạy học và quản lý nhà trường.
Theo tiêu chuẩn 9 về đánh giá chất lượng trường đại học (trong Quyết
định số 65/2007/QĐ-BGDĐT ngày 01 tháng 11 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ
Giáo dục và đào tạo về việc ban hành quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất
lượng giáo dục trường đại học) cũng quy định rõ các trường cần trang bị đầy
đủ và đồng bộ về cơ sở vật chất và thiết bị giáo dục.
Sự đồng bộ này trước hết thể hiện giữa trường sở với phương thức tổ
chức dạy học. Nếu trường sở càng khang trang bao nhiêu thì trang thiết bị
phục vụ cho quá trình dạy học phải tương xứng với môi trường đó. Ngược lại

học, có màu sắc hài hòa, có hình dạng và kích thức phù hợp với nội dung môn
học, các mô hình giáo dục phải mang tính chuẩn giáo dục. Tránh tình trạng
khi sản xuất ra các trang thiết bị giáo dục không đảm bảo về hình dạng, màu
sắc, kích thước không tương xứng với nội dung của môn học. Cũng không
nên theo kiểu “nói một đằng làm một nẻo” bộ sách giáo khoa thiết kế một
kiểu, nhưng các trang thiết bị giáo dục lại có hình dạng một khác. Từ đó dẫn
đến việc sử dựng các trang thiết bị giáo dục bổ trợ cho quá trình dạy học kết
quả đạt kém, sai lệch với nội dung chương trình, gây khó dễ cho người giáo
viên khi tham gia các tiết học có sử dụng nhiều các trang thiết bị dạy học ở
các trường phổ thông hiện nay như môn: Sinh học, Địa lí, Hóa học, Lịch sử,
Ngữ văn… Muốn vậy, chúng ta cần có sự kiểm soát chặt chẽ ngay từ khâu
sản xuất, kinh doanh thiết bị giáo dục, kiên quyết không để các thiết bị không
đảm bảo được bày bán cho các trường học và cơ sở giáo dục.
Đồng bộ giữa thiết bị và điều kiện sử dụng: Việc trang bị các thiết bị
giáo dục là tốt nhưng phải đảm bảo sự đồng bộ với điều kiện sử dụng. Nếu
trường có điều kiện sử dụng tốt thì sẽ góp phần khai thác tối đa thiết bị giáo
dục. Thế nhưng hiện nay không ít các trường ở miền núi, vùng sâu vùng xa
biên giới hải đảo… có không ít những khó khăn trở ngại trong vấn đề này
như: trường sở thiếu thốn về cơ sở vật chất, thiếu thốn về phòng học, các lớp

21


học còn mang tính tạm bợ, tranh tre, nứa lá. Mặt khác lại ở trong một môi
trường và điều kiện thời tiết khí hậu khắc nghiệt, kinh tế còn gặp nhiều khó
khăn thì các trang thiết bị giáo dục có nhưng lại không có cơ hội sử dụng luôn
trong tình trạng “luôn luôn cất giữ trong tủ, trong kho, đắp chiếu” không được
mang ra sử dụng. Có những trường từ khi được nhận một số trang thiết bị
giáo dục đến nay chưa một lần nào mang ra sử dụng vì nhiều yếu tố: thiếu
thốn về cơ sở vật chất, trường không ra trường, lớp không ra lớp. Nhiều

1.2. Nguyên tắc 2: Bố trí hợp lý các yếu tố của cơ sở vật chất – thiết bị
giáo dục trong khu vực nhà trường, trong lớp học, trong các loại phòng chức
năng; bố trí hợp lý địa điểm của nhà trường trong khu vực dân cư, phù hợp
với quy hoạch tổng thể của địa phương nhằm làm cho quá trình giảng dạy
giáo dục của giáo viên và học tập của học sinh diễn ra có hiệu quả, tiết kiệm
thời gian và sức người nhất.
Bố trí hợp lý các yếu tố của cơ sở vật chất – thiết bị giáo dục trong khu
vực nhà trường, trong lớp học, trong các loại phòng chức năng: Bố trí, sắp
xếp các yếu tố của cơ sở vật chất – thiết bị giáo dục cần phải hợp lý, đảm bảo
mỹ quan trong nhà trường, nhưng đồng thời cũng phải đảm bảo chế độ ánh
sáng, thông thoáng không khí, và quan trọng nhất là khi bố trí cần đảm bảo sự
an toàn, thuận tiện nhất cho việc tìm kiếm, sử dụng và bảo quản… Mỗi một
nhà trường cần phải có phòng thư viện, phòng đồ dùng học tập riêng bao
gồm: các tranh ảnh, mô hình, biểu đồ, bản đồ, la bàn, máy chiếu, máy tính,
bảng biểu… mỗi một loại đồ dùng cần được bố trí sắp xếp theo từng danh
mục, từng môn học, từng khối lớp sao cho người cán bộ phục trách công tác
thư viện, đồ dùng học tập quản lí một cách hợp lí, nhận biết dễ nhất, lấy ra dễ
nhất và cũng để vào một thuận lợi nhất.
Khi xây dựng các phòng học cần chú ý hình dáng và kích thước phòng
học được xác định xuất phát từ đặc điểm học tập của học sinh, nhu cầu của cơ
thể học sinh đối với không gian để hít thở và thuận tiện cho việc sắp xếp bàn
ghế và đồ dùng cho học tập. Trong lớp học cơ sở vật chất cũng cần được bố

23


trí một cách khoa học, đảm bảo về mặt ánh sáng, đèn chiếu, màn hình, máy
chiếu, bàn ghế của học sinh và giáo viên trong 1 lớp học. Tránh tình trạng một
số lớp học hiện nay còn trang trí về cơ sở vật chất và các trang thiết bị giáo
dục còn chưa đảm bảo, nhiều tranh ảnh, nhiều lọ hoa bằng sành, sứ bên cạnh

đối với học sinh trung học cơ sở.
Tăng khoảng cách từ nhà đến trường sẽ ảnh hưởng đến chế độ hàng
ngày của học sinh, ảnh hưởng đến thời gian chuẩn bị bài. Mặt khác, đi bộ
nhiều làm học sinh mỏi mệt, dẫn đến khả năng học tập giảm sút. Tại các vùng
sâu, vùng xa, miền núi khi xây dựng trường hoặc khi tiếp nhận học sinh cần
đặc biệt lưu ý không để tình trạng học sinh phải đi đò, đi thuyền qua sông đến
trường nhằm hạn chế rủi ro đuối nước có thể xảy ra.
Trường phải nằm xa các nhà máy, xí nghiệp và các cơ sở có nguy cơ
gây ô nhiễm môi trường bởi các chất thải rắn, khí, tiếng ồn, điện từ trường, xa
các trục đường giao thông lớn, có mật độ xe cộ qua lại cao, xa chợ hoặc các
trung tâm thương mại…đảm bảo cho môi trường trường học nằm trong các
giới hạn tiêu chuẩn cho phép. Đối với những địa bàn có nhà máy, xí nghiệp
công nghiệp thì phải chọn địa điểm xây dựng sao cho giữa trường và nhà máy,
xí nghiệp công nghiệp có một khoảng cách an toàn. Trường phải được xây
dựng ở nơi đầu hướng gió chủ đạo, cách các nhà máy, xí nghiệp có mức độ
độc hại loại 1 ít nhất là 1.000 m, loại 2: 500m, loại 3: 300m, loại 4: 100m, loại
5: 50 m.
Trường học không nên xây dựng sát đường giao thông lớn, giữa trường
và đường giao thông phải có hành lang cây xanh bảo vệ để chắn khói bụi và
tiếng ồn. Cổng trường phải được bố trí thuận lợi để học sinh có thể ra vào
nhanh chóng, không nên mở ra đường giao thông lớn để tránh ách tắc giao
thông và hạn chế tai nạn thương tích cho học sinh khi tới trường.
1.3. Nguyên tắc 3: Tạo ra toàn bộ môi trường vật chất mang tính sư
phạm, thuận lợi cho các hoạt động giáo dục và dạy học; các điều kiện về vệ
sinh sức khỏe, điều kiện an toàn, điều kiện thẩm mỹ, làm cho nhà trường có
bộ mặt sạch đẹp, yên tĩnh, trong sáng, cần thiết cho một cơ sở giáo dục.

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status