BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
KHOA CÔNG NGHỆ THỰC PHẨM
----o0o----
PHẠM THỊ SÂM
NGHIÊN CỨU THU HỒI HỖN HỢP CAROTEN-PROTEIN
TỪ ĐẦU TÔM THẺ CHÂN TRẮNG BẰNG PHƯƠNG PHÁP
Ủ XI LÔ KẾT HỢP HCL VÀ LACTIC
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành : CÔNG NGHỆ THỰC PHẨM
Nha Trang, tháng 07 năm 2015
BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
KHOA CÔNG NGHỆ THỰC PHẨM
----o0o----
PHẠM THỊ SÂM
NGHIÊN CỨU THU HỒI HỖN HỢP CAROTEN-PROTEIN
TỪ ĐẦU TÔM THẺ CHÂN TRẮNG BẰNG PHƯƠNG PHÁP
Ủ XI LÔ KẾT HỢP HCL VÀ LACTIC
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành : CÔNG NGHỆ THỰC PHẨM
kiến để bài báo cáo được hoàn thiện.
Xin chân thành cảm ơn.
Nha trang, ngày
tháng
Sinh viên
Phạm Thị Sâm
năm
ii
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN ..........................................................................................................i
LỜI MỞ ĐẦU ........................................................................................................vi
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN ....................................................................................3
1. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan tới đề tài. .......................3
1.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới ....................................................................3
1.2. Tình hình nghiên cứu trong nước ......................................................................4
2. Tìm hiểu về phế liệu tôm .....................................................................................5
2.1. Phế liệu tôm.....................................................................................................5
2.2. Thành phần hóa học của vỏ và đầu tôm ............................................................6
3. Tìm hiểu về carotenoprotein ................................................................................8
3.1. Carotenoid ........................................................................................................9
3.1.1. Tính chất vật lý của astaxanthin ................................................................... 12
3.1.2. Tính chất hóa học ........................................................................................ 12
3.2. Ứng dụng của caroten-protein......................................................................... 14
4. Tổng quan về phương pháp ủ xi lô..................................................................... 15
3.2.1.1. Ảnh hưởng của nồng độ acid HCl sử dụng đến hiệu suất thu hồi và hàm
lượng protein và carotenoid của chế phẩm giàu carotenoid.................................... 36
3.2.1.2. Ảnh hưởng của thời gian thủy phân HCl đến hiệu suất thu hồi và hàm lượng
astaxanthin của hỗn hợp caroten-protein................................................................ 38
3.2.2. Điều kiện thủy phân thích hợp của acid lactic trong công đoạn sau của quá
trình hu nhận hỗn hợp giàu carotenoid ừ đầu tôm .................................................. 40
3.2.2.1. Ảnh hưởng của nồng độ acid lactic đến hiệu suất thu hồi, và hàm lượng
astaxanthin trong hỗn hợp caroten-protein ............................................................. 41
iv
3.2.2.2. Ảnh hưởng của thời gian xử lý đầu tôm bừng acid lactic đến hiệu suất thu
hồi và hàm lượng astaxanthin trong hỗn hợp carotein-protein................................ 43
3.3. Đề xuất quy trình thu hồi hỗn hợp caroten-protein bằng phương pháp ủ xi lô kết
hợp acid HCl và acid lactic từ đầu tôm thẻ chân trắng ........................................... 44
3.4. Thành phần hóa học của hỗn hợp caroten-protein ........................................... 46
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ............................................................................... 48
TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................................................... 49
PHỤ LỤC.............................................................................................................. 53
v
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Thành phần hóa học chính của đầu và vỏ phế liệu tôm . ...........................6
Bảng 1.2. Thành phần hóa học cơ bản của đầu tôm thẻ chân trắng ..........................8
Bảng 1.3. Các ứng dụng chính của hỗn hợp protein và carotenoid ........................ 15
Bảng 3.1. Thành phần hóa học cơ bản của đầu tôm thẻ chân trắng......................... 35
Bảng 3.2. Đánh giá cảm quan của hỗn hợp caroten-protein thu nhận từ đầu tôm .......... 47
Hình 3.7. Mẫu đối chứng....................................................................................... 46
1
LỜI MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài
Ở nước ta, chế biến thủy sản là ngành mũi nhọn. Ước tính phế thải tôm
khoảng hơn 240.000 tấn/năm (theo tổng cục thủy sản Việt Nam), trong đó có
khoảng 144,000 tấn đầu tôm [2]. Phế thải tôm được sử dụng để làm thức ăn chăn
nuôi với các phương pháp truyền thống như: Sấy khô hoặc phơi nắng sau đó đem đi
xay mịn bổ sung vào thức ăn chăn nuôi. Việc sấy khô đòi hỏi năng lượng lớn, tốn
kém. Phơi nắng thì phụ thuộc vào thời tiết, mất vệ sinh và gây ô nhiễm môi trường.
Cả hai phương pháp này không loại được khoáng và chitin mà hai chất này gây khó
tiêu cho gia súc, gia cầm. Vậy nếu lợi dụng tổng hợp phế thải này bằng cách tách
riêng phần protein ở đầu tôm ra phục vụ chăn nuôi, tách hợp chất màu
(Astaxanthin) để phục vụ công nghiệp nhuộm, chế biến chitosan để phục vụ nông
nghiệp, công nghiệp, mỹ phẩm, y tế thì giá trị mang lại từ nguồn phế liệu tôm sẽ lớn
hơn gấp nhiều lần so với chỉ đem phế liệu tôm đi sấy khô hay phơi nắng nghiền bột
cho gia súc, gia cầm ăn.
Trước tình hình đó các nhà nghiên cứu đã đưa ra các giải pháp vừa giải quyết
được vấn đề ô nhiễm môi trường, vừa nâng cao giá trị sử dụng cho các phế liệu đem
lại hiệu quả kinh tế cao. Một trong những giải pháp đó là sử dụng phế liệu tôm để
sản xuất chitin-chitosan, tuy nhiên chưa ai chú ý đến công đoạn tiền xử lý bằng acid
trước khi ủ để loại bỏ một phần khoáng và protein nhằm mục đích rút ngắn thời
gian xử lý, nâng cao chất lượng chitin-chitosan, đồng thời tận thu được nguồn
protein và sắc tố có giá trị dinh dưỡng cao từ đầu tôm. Do đó việc sử dụng công
đoạn tiền xử lý bằng acid trong sản xuất chitin-chtosan rất quan trọng, cho nên
trong đề tài này với mục tiêu là áp dụng acid hydrochloric ở công đoạn đầu để tạo
điều kiện cho acid lactic hoạt động tốt hơn, duy trì pH thích hợp cho vi khuẩn lactic
Đề xuất quy trình thu nhận hỗn hợp caroten-protein từ đầu tôm thẻ chân trắng bằng
phương pháp ủ xi lô kết hợp hai acid vô cơ và hữu cơ.
5.
Đánh giá chất lượng hỗn hợp caroten-protein thu được theo quy trình đề xuất.
Mục tiêu: Nghiên cứu quy trình thu nhận hỗn hợp caroten-protein có hàm
lượng carotenoid cao từ đầu tôm thẻ chân trắng bằng phương pháp ủ xi lô kết hợp
hai acid vô cơ và hữu cơ.
Ý nghĩa khoa học: Hoàn thiện phương pháp ủ xi lô bằng acid thu hồi hỗn hợp
caroten-protein đạt hiệu quả cao với chi phí thấp.
Ý nghĩa thực tiễn: Áp dụng công nghệ sản xuất caroten-protein vào trong
công nghiệp. Sản xuất thức ăn cho cá hồi, cá cảnh.
Phạm vi nghiên cứu: Đầu tôm thẻ chân trắng thu nhận tại các nhà máy chế
biến thủy sản tại Khánh Hòa.
3
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN
1. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan tới đề tài.
1.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Trên thế giới, việc tận dụng các phế liệu thủy sản ở các nước có nền công
nghiệp chế biến thủy sản phát triển để sản xuất ra các sản phẩm gia tăng có chất
lượng được các nhà nghiên cứu hết sức chú trọng và quan tâm. Hợp chất chitin,
chitosan được các nhà nghiên cứu chú trọng [29] và có nhiều thành tựu trong lĩnh
vực này.
Bên cạnh đó, việc thu nhận bột đạm giàu carotenoid cũng được quan tâm
nghiên cứu. Các sản phẩm protein thu được có thể ứng dụng trong chế biến thức ăn
phương pháp sinh học (vi sinh vật và enzyme) sử dụng protease hay lên men để
thủy phân protein. Song các phương pháp trên có chi phí cao hơn rất nhiều so với
phương pháp hóa học. Bên cạnh đó, các nhà khoa học đã sử dụng phương pháp ủ xi
lô nhằm khử khoáng và protein trong công nghệ sản xuất chitin-chitosan nhưng
chưa chú tâm đến việc thu hồi hỗn hợp caroten-protein. Sử dụng phương pháp hóa
học vào việc thu hồi hỗn hợp caroten-protein, ngoài quan tâm đến hiệu suất thu hồi
và hàm lượng astaxanthin thì còn phải quan tâm đến việc giảm chi phí, thời gian
ngắn nhất cho việc thu hồi để có thể ứng dụng kết quả nghiên cứu vào trong thực
tiễn, công nghiệp.
Năm 2004, Hoàng Thị Huệ An nghiên cứu chiết xuất astaxanthin từ phế liệu
vỏ tôm bằng dung môi [1]. Trang Sĩ Trung và Trần Thị Luyến (2010) cũng đã có
nhiều nghiên cứu về sử dụng enzyme protese như papain, Flavourzyme, Alcalase để
khử protein [18]. Bên cạnh đó còn có một số nghiên cứu sử dụng các loại vi khuẩn
Bacillus subtilic để tận thu caroten-protein. Đồng thời protein trong dịch thủy phân
có thể sử dụng để bổ sung vào thức ăn của động vật thủy sản.
Trong khi đó năm 2009, Ngô Thanh Lĩnh cũng đã nghiên cứu sử dụng acid
hữu cơ ở nồng độ thấp trong quy trình sản xuất chitin-chitosan để khử protein,
khoáng đồng thời tận thu được dịch ủ, thu hồi caroten-protein. Nhưng phương pháp
này thì tiết kiệm được chi phí nhưng tốn nhiều thời gian, dịch thủy phân thu được
hỗn hợp caroten-protein chất lượng chưa cao [6].
5
Năm 2011, Nguyễn Lệ Hà đã nghiên cứu tách chiết và ứng dụng chế phẩm
enzyme protease từ đầu tôm sú vào mục đích thủy phân phế liệu đầu và vỏ tôm sú
để thu nhận bột caroten-protein với hàm lượng protein (70,7%) và carotenoid cao
(0,706 mg/g) [4]. Bột caroten-protein giàu đạm, giàu acid amin mà còn chứa hàm
lượng carotenoid, hợp chất chống oxy hóa từ thiên nhiên mang lại lợi ích về sức
khỏe con người.
theo giống loài và phương pháp chế biến mà lượng phế liệu tôm thu được là khác
nhau. Trong thành phần phế liệu tôm, phần đầu thường chiếm khoảng 35 – 45%
trọng lượng tôm nguyên liệu, phần vỏ chiếm 10 - 15%, còn lại là các phế liệu khác
[23]. Tuy vậy tỷ lệ này còn phụ thuộc vào giống loài, giai đoạn sinh trưởng và công
đoạn chế biến.
2.2. Thành phần hóa học của vỏ và đầu tôm
Thành phần chiếm tỉ lệ đáng kể trong đầu, vỏ tôm là chitin, protein, canxi
cacbonat, sắc tố,…và tỷ lệ giữa các thành phần này là không ổn định, chúng thay
đổi theo đặc điểm sinh thái, sinh lý, loài,… Thành phần chitin và protein trong vỏ
tôm tươi tương ứng là 4,5% và 8,05%; trong vỏ tôm khô là 11 – 27,5% và 23,25 –
53%.
Hàm lượng chitin, protein, khoáng và carotenoid trong phế liệu vỏ tôm thay
đổi rất rộng phụ thuộc vào điều kiện bảo quản cũng như phụ thuộc vào loài, trạng
thái dinh dưỡng, chu kỳ sinh sản. Vỏ giáp xác chứa chủ yếu là protein (30 – 40%),
khoáng (30 – 50%), chitin (13 – 42%).
Bảng 1.1 Thành phần hóa học chính của đầu và vỏ phế liệu tôm [24].
Phế liệu
Protein* Chitin*
Lipid*
Tro*
Canxi*
Phospho*
Đầu
53,5
11,1
- Dạng tự do: Dạng này tồn tại trong cơ quan nội tạng và trong các cơ gắn phần vỏ.
- Dạng phức tạp: Dạng này protein không hòa tan và thường liên kết với chitin,
canxi, carbonate, với lipid tạo lipoprotein, với sắc tố tạo nên protein–caroten như
một phần thống nhất quyết định tính bền vững của vỏ tôm.
Chitin: Tồn tại dưới dạng liên kết với protein, khoáng và nhiều hợp chất hữu cơ
khác, chúng là nguyên nhân gây khó khăn cho việc tách và tinh chế chúng.
Canxi: Trong thành phần vỏ, đầu tôm có chứa 1 lượng lớn muối vô cơ, chủ yếu là
cacbonat canxi (CaCO3).
Astaxanthin: Là sắc tố chủ yếu trong đầu, vỏ tôm, astaxanthin là dẫn xuất của
caroten, thường ở dạng liên kết với acid béo (ester hóa) hay với protein tạo nên một
phức hợp chặt chẽ có màu xanh đặc trưng cho tôm. Khi liên kết này bị phá vỡ thì
astaxanthin dễ dàng bị oxy hóa thành astaxin [4].
Lipid: Chứa một lượng đáng kể, chủ yếu gồm các acid béo chưa no bão hòa như
eicosapentaenoic (EPA), decosahexaenoic (DHA). Đây là những acid béo rất có lợi
cho sức khỏe con người và có nhiều ứng dụng khác trong y học.
Enzyme: Trong phế liệu tôm cũng có chứa một số loại enzyme theo tạp chí thuỷ
sản (số 5/1993) hoạt độ enzyme protease của đầu tôm khoảng 6,5 đơn vị hoạt động
tươi. Trong đầu tôm có chứa enzyme tiêu hóa chymotrypsin, được sử dụng trong
điều trị bệnh ung thư. Một vài loại enzyme khác có mặt trong phế liệu tôm như
alkaline phosphatase, -N-acetyl glucosaminse, chitinase cũng được ứng dụng
nhiều trong thực tế. Ngoài ra còn có một số khoáng chất như P, K, Mg, Mn và Fe
(Trang Sỹ Trung và cộng sự, 2010) [18].
8
Bảng 1.2. Thành phần hóa học cơ bản của đầu tôm thẻ chân trắng [12].
Chỉ tiêu
Hàm lượng
carotenoid và protein là một đặc điểm sinh lý quan trọng trong cơ thể một số sinh
vật sống. Carotenoid ở trong cơ thể sinh vật có tính bền vững hơn so với khi đã
được tách chiết. Trong những hệ thống quang hợp, các sắc tố như carotenoid,
chlorophyll hoặc bacteriochlorophyll đều được định vị trong những phức hợp
protein - sắc tố nhằm đảm bảo vị trí và sự định hướng chính xác của các loại sắc tố
này, đóng vai trò quan trọng trong quá trình truyền năng lượng ở cơ thể sinh vật [3].
Ngoài ra, sự phân bố của carotenoprotein trong tự nhiên cũng khá đa dạng. Ở
thực vật thường tồn tại với một lượng lớn của grana của lục lạp. Theo Zagalsky
(1976) caroten được chia làm hai nhóm chính: Caroten-protein thật có sự liên kết
giữa carotene và protein đơn giản hoặc glycoprotein và corotenolyprotein là
caroteneoid liên kết với một lipoprotein hoặc glycoprotein [36]. Phản ứng giữa các
nhóm 4 và 4’ keto trong các vòng mang điện của β-astaxanthin là điều kiện tiên
quyết cho phản ứng giữa nhóm carbonyl trong carotenoid với các gốc amin để hình
thành caroten-protein [36].
9
Hình 1. Các liên kết hóa học có thể có của astaxanthin với các phân tử khác
trong tôm [21]
Tất cả các caroten-protein đều được tách ra thành carotenoid và apoprotein
bằng aceton hoặc ethanol. Crustacyanain và ovorudin là những carotenoprotein có
thể được khôi phục lại dạng tự nhiên khi trộn hỗn hợp dung dịch aceton của
carotenoid với dung dịch protein, pha loãng với nước tách aceton ra. Các carotenoid
có liên quan đến protein thì ít bị oxi hóa hơn các carotenoid khác ở dạng tự do [18].
Phức hợp carotenoprotein hòa tan trong nước và có tính bền vững trong một
vài trường hợp, màu sắc của nó bền đến vài năm trong không khí ở điều kiện nhiệt
độ phòng.
Carotenoprotein là phức hợp của carotenoid và protein. Tuy nhiên, đối với
đối tượng lớp giáp xác thì thành phần carotenoid chủ yếu là astaxanthin. Do vậy
oxy hóa, liên kết giữa astaxanthin và protein bị cắt đứt, giải phóng astaxanthin có
màu đỏ cam.
Do cấu trúc có nhiều nối đôi nên astaxanthin là một chất chống oxy hóa hiệu
quả, có khả năng bảo vệ màng tế bào và các mô khỏi bị tổn thương. Đặc tính chống
oxy hóa thể hiện ở sự ngăn cản hình thành các gốc tự do bằng cách loại bỏ oxy tự
do, trong trường hợp gốc tự do đã hình thành thì astaxanthin có thể liên kết với các
gốc tự do đó để vô hoạt chúng, nhờ đó astaxanthin bảo vệ lipid khỏi oxy hóa. Các
11
nghiên cứu cho thấy: đặc tính chống oxy hóa của astaxanthin là cao nhất trong các
hợp chất carotenoid, gấp 10 lần so với beta-caroten (Higuera-Ciapara và cộng sự,
2006) [28] và lớn hơn gấp 100 lần so với vitamin E (Miki, 1991) [31].
Hình 1.1. Cấu tạo của astaxanthin [21]
Hình 1.2. Cấu trúc hóa học của một vài Astaxanthin [28]
Astaxanthin là một trong những thành phần quan trọng của nhiều loại dược
phẩm như: thuốc điều trị các chứng viêm ruột, viêm dạ dày do nhiễm khuẩn
12
Helicobacter. Nó là thành phần của một số chế phẩm vitamin được tung ra thị
trường trong vài năm gần đây nhằm bổ sung cho chế độ dinh dưỡng hàng ngày cho
con người.
3.1.1. Tính chất vật lý của astaxanthin
Nhiệt độ nóng chảy 215-216oC, kết tinh từ piridin dạng vảy tím.
Khối lượng phân tử M = 596,82
Hình 1.3. Sự thay đổi cấu trúc phân tử astaxanthin khi tương tác với acid yếu
* Phản ứng với base: Trong môi trường kiềm, khi có mặt không khí,
astaxanthin bị oxy hóa nhanh chóng thành astacene có màu đỏ sẫm :
Hình 1.4 . Astacene
* Phản ứng khử (hydrua hóa)
Khi xử lý bằng tác nhân khử NaBH4/ EtOH, các nhóm keto trong phân tử
astaxanthin sẽ chuyển thành nhóm hydrroxyl, tạo thành crustaxanthin: làm chuyển
dịch cực đại hấp thụ của astaxanthin khoảng 20 – 30 nm về phía sóng ngắn.
Hình 1.5. Crustaxanthin
14
Astaxanthin là sắc tố thuộc nhóm carotenoid có màu đỏ, tím, kết tinh, điểm nóng
chảy 238-240oC. Astaxanthin dễ bị oxy hóa khi có mặt của oxy tạo thành astacene.
Astaxanthin là loại carotenoid có tính acid, có thể tác dụng với rượu tạo ra muối
không ổn định. Trong vỏ tôm nó tồn tại ở dạng phức hợp Protein-Astaxanthin.
3.2. Ứng dụng của caroten-protein
Carotenoid và caroten-protein chịu trách nhiệm tạo nên những màu sắc khác
nhau trong cơ thể động vật giáp xác. Những hợp chất này thu hút sự quan tâm
nghiên cứu của nhiều nhà khoa học trên thế giới nhờ vào các tính chất quan trọng
của chúng như có nguồn gốc tự nhiên, không chứa độc tố, cung cấp những sắc tố
tan được cả trong nước và chất béo. Một trong những ứng dụng được quan tâm lớn
hiện nay của phức hợp caroten-protein là nó có thể được sử dụng làm thức ăn cho cá
hồi để tạo màu sắc đẹp tươi tự nhiên cho thịt cá [30]. Do cá hồi không thể tự tổng
hợp astaxanthin từ nguồn bên ngoài như ở các loại vi tảo hoặc từ thức ăn có bổ sung
loại sắc tố này.
Mặt khác trong tình hình hiện nay, khi mà nguồn astaxanthin tổng hợp bị
stress cho vật nuôi
Tăng hệ miễn dịch, chống lão hóa, ngăn chặn
khả năng gây ung thư, tim mạch, bệnh về mắt…
Mỹ phẩm
Hạn chế và giảm nếp nhăn, chống lão hóa
Với hàm lượng cao astaxanthin trong chế phẩm người ta sử dụng để làm thức
ăn cho các đối tượng nuôi trồng thủy sản.
-
Trong kỹ thuật nuôi cá hồi: Màu sắc là một trong những yếu tố để đánh giá chất
lượng của cá hồi. Trong khi cá hồi nuôi theo phương thức truyền thống thì đáp ứng
được chỉ tiêu chất lượng và yêu cầu của khách hàng vì vậy cần bổ sung astaxanthin vào
thức ăn để làm tăng màu sắc cơ thịt của cá và chất lượng của cá được nâng cao [14].
- Trong nuôi cá cảnh: Thức ăn có astaxanthin sẽ góp phần tạo màu sắc cho cá.
Nếu cho cá ăn thích hợp thì cá sinh trưởng và phát triển tốt, màu sắc đẹp.
- Trong phòng bệnh ở tôm: Theo Belinda K.Howell và Anthoy D. Matthew
nghiên cứu thì nguyên nhân của bệnh đốm xanh ở tôm là do thiếu carotenoid trong
khẩu phần ăn. Việc bổ sung carotenoid vào khẩu phần ăn là điều cần thiết [10].
4. Tổng quan về phương pháp ủ xi lô
Ủ xi lô hay còn gọi là ủ chua là phương pháp đã được người dân sử dụng lâu
đời để ủ thức ăn cho gia súc và động vật. Là kết quả của sự lên men trong điều kiện
yếm khí nhờ hệ vi sinh vật lên men tạo ra acid lactic và một lượng acid hữu cơ
16
Ủ xilô
Ép
Sản xuất chitin
thức ăn chăn nuôi
Hình 1.4. Quá trình thu hồi caroten-protein bằng phương pháp ủ xi lô
* Ủ xi lô bằng acid
Việc ủ xi lô có bổ sung acid nhằm mục đích hạ thấp pH ban đầu, khống chế
quá trình gây thối, do vi sinh vật gây thối, bảo quản nguyên liệu đồng thời tạo điều
kiện thuận lợi cho quá trình lên men lactic và các enzyme nội tại hoạt động.
Việc sử dụng các acid hữu cơ như acid lactic để bảo quản phế liệu từ nguyên
liệu tươi đã được dùng trong thực phẩm bắt đầu từ sau chiến tranh thế giới thứ II.
Với những lợi ích của acid lactic như trên thì ngoài ra khi sử dụng acid hữư cơ này
trong quá trình ủ xi lô không tạo ra thành phần acid thừa trong dịch ủ, và do vậy
không cần phải trung hòa bằng một bazơ trước khi sử dụng. Nhìn chung giá thành
của acid hữu cơ này tương đối cao nên người ta đã kết hợp thêm các thành phần
acid vô cơ khác để có thể giảm bớt giá thành sử dụng. Vì vậy, khi ủ xi lô cho phế
liệu tôm, có thể sử dụng hỗn hợp acid hữu cơ và vô cơ như acid formic, acid
chlohydric, và/hoặc acid sunfuric, acid propyonic và hydrochloric và/hoặc acid
sunfuric với các nồng độ khác nhau [3].
Việc kết hợp bổ sung acid ở nồng độ thấp trong quá trình ủ xi lô có những
tác dụng đáng kể sau:
+ Có tác dụng thủy phân protein trong phế liệu tôm do hoạt động của enzyme
protease trong bản thân nguyên liệu, hạ pH thúc đẩy lên mem lactic nhờ quá trình ủ
có bổ sung rỉ đường.