Vấn đề chất lượng sản phẩm trên thị trường không chính thức ở các nước đang phát triển - Pdf 31

Vấn đề chất lợng sản phẩm trên thị trờng
không chính thức ở các nớc đang phát triển.
Một đặc trng của nhiều thành phố ở các nớc đang phát triển là sự song song
tồn tại của các hãng kinh doanh lớn , có tổ chức tốt và công nghệ cao với những
ngời buôn bán nhỏ (mà chỉ cần có một cái hòm gỗ làm chỗ bán hàng). Tổ chức lao
động quốc tế (ILO) gọi hai khu vực khác nhau này là thị trờng chính thức và
thị trờng không chính thức.Thị trờng không chính thức đợc đặc trng bởi sự tồn
tại của rất nhiều ngời buôn bán nhỏ đợc tự do gia nhập và rút lui khỏi thị trờng và
không có thể chế pháp lý để kiểm soát chất lợng sản phẩm. Loại thị trờng này
khác với thị trờng cạnh tranh thông thờng ở cách thức tiến hành trao đổi, buôn bán
hàng hoá. Trong thị trờng không chính thức quá trình trao đổi hàng hoá không tập
trung và giá cả đợc định ra nhờ quá trình mặc cả ,thơng lợng giữa ngời mua và ng-
ời bán nhng trong thị trờng cạnh tranh quá trình trao đổi hàng hoá lại tập trung và
giá cả đồng nhất.
Các hoạt động bán hàng rong trên đờng phố ở hầu hết mọi nơi trên thế giới
đặc biệt là ở các nớc đang phát triển là những ví dụ điển hình của thị trờng không
chính thức hợp pháp. Những ngời bán hàng rong trên đờng phố đợc coi là những
ngời làm t, những ngời bán lẻ tham gia vào quá trình phân phối nhiều loại hàng
hoá sản xuất nội địa và hàng nhập khẩu. Trong cuốn Chickering và Salahdine
(1991) Alonzo viết: tại Philippines, trong số những ngời buôn bán lẻ thì những ng-
ời bán hàng rong trên đờng phố chiếm số lợng đông nhất. Thậm chí ở cả những
khu vực nghèo nhất cứ cách 4 đến 5 nhà lại có một loại quầy hàng. Các quầy hàng
thực phẩm bầy dọc theo vỉa hè rất phổ biến. Chính quyền địa phơng ở Metro
Manila không bao giờ can thiệp vào những ngời bán hàng rong miễn là họ trả đủ
thuế kinh doanh cho chính quyền thành phố. Nhng họ vẫn bị chính quyền địa ph-
ơng buộc phải rời đi hết nơi này đến nơi khác vì lấn chiếm viả hè không có giấy
phép. Tại Hồng Kông ở phố Shui
Nguyễn thị kim nhung
1
Wo cứ 100m đờng có đến hơn 300 ngời bán hàng rong. Chính phủ địa phơng
đã cố gắng di dời những ngời này vào các khu chợ nhng đều vô ích. Ngoài ra thì

Vì vậy quan điểm cho rằng vấn đề chất lợng thấp trong thị trờng không chính thức
bắt nguồn từ thị hiếu của ngời tiêu dùng là không phù hợp.Nh vậy câu hỏi tại sao
ngời tiêu dùng lại mua hàng hoá chất lợng thấp vẫn cha đợc trả lời.
Có một cách giải thích khác cho vấn đề chất lợng là có thể ngời tiêu dùng
không nắm đợc đầy đủ thông tin về sản phẩm và sự lựa chọn của họ bị ảnh hởng bởi
quảng cáo (Schmalensee1978).Có thể có một sự thật nào đó trong vấn đề này nhng
khó có thể tin rằng về lâu về dài khách hàng lại hoàn toàn lờ đi những việc làm
trong quá khứ của những ngời bán hàng và động cơ để họ đảm bảo chất lợng hàng
hoá.
Akerlof (1970), là ngời đã quan sát vấn đề chất lợng ở thị trờng ấn Độ lại
cho rằng do thiếu kĩ năng kinh doanh nên những nhà sản xuất đã không đầu t vốn
và xây dựng uy tín của mình .Tuy nhiên khó có thể tin rằng một ngời bán hàng lại
kinh doanh bằng cách gian lận vì thiếu kĩ năng kinh doanh. Việc ngời tiêu dùng
trừng phạt những ngời bán hàng gian lận bằng cách không mua hàng hoá của họ
nữa và thởng cho những ngời buôn bán trung thực bằng cách sẵn sàng mua hàng
chất lợng tốt cuả họ là lẽ đơng nhiên. Thái độ của khách hàng dậy cho những ngời
muốn bán hàng về lâu về dài bài học về giá trị của uy tín bán hàng.
Rashid(1988) đã trả lời cho câu hỏi này, ông biện luận rằng đặc tính gia nhập
dễ dàng vào thị trờng của những ngời buôn bán nhỏ đã làm giảm đi khoản tiền mà
những ngời bán hàng kì vọng có thể kiếm đợc từ việc kinh doanh lâu dài trên thị tr-
ờng nh vậy và do đó đã phá huỷ động lực để duy trì hàng hoá chất lợng cao.
Esfahani (1991)lại có một cách giải thích khác cho sự tồn tại dai dẳng của hàng hoá
chất lợng kém. Ông cho rằng tính không chắc chắn của hàm chi phí của những ngời
sản xuất nhỏ có thể là một đầu mối quan trọng để giải thích cho vấn đề này. Sự
không chắc chắn nh vậy khiến cho những ngời bán hàng có chất lợng cao bán với
Nguyễn thị kim nhung
3
giá rất đắt, từ đó kích thích sản xuất sản phẩm có chất lợng rất đa dạng. Ông nhận
thấy rằng việc lựa chọn sản xuất hàng hoá có chất lợng cao hay thấp phụ thuộc vào
mức độ tơng đối của lợi nhuận kiếm đợc từ việc sản xuất hàng hoá chất lợng cao

thấy rằng khách hàng vẫn không tin tởng vào những ngời bán. Một ngời bán luôn có
khuynh hớng đầu t vào đầu vào rẻ và một ngời mua cũng luôn kỳ vọng vào đầu vào
rẻ.
Trò chơi bắt đầu với các quyết định của ngời bán. Trớc hết một ngời bán
quyết định cho mình là ngời bán tốt hay ngời bán tồi. Một ngời bán tốt là ngời
bán muốn nâng cao chất lợng sản phẩm của mình bằng cách bỏ nhiều chi phí hơn
và kỳ vọng mua đợc đầu vào tốt. Một ngời bán tồi thì đầu t vào đầu vào tồi. Đầu vào
tốt có nhiều khả năng sản xuất đợc hàng hoá chất lợng cao hơn là đầu vào tồi.
Trong khi quyết định xem nên đầu t vào đầu vào đắt hay đầu vào rẻ một ngời bán sẽ
so sánh giá trị hiện tại đã đợc chiết khấu của lợi nhuận có thể kiếm đợc nếu là ngời
bán tốt với lợi nhuận có thể kiếm đợc nếu là ngời bán tồi. Để mô tả mỗi thời kỳ
trong 2 thời kỳ chúng ta sẽ đề cập đến đầu vào cố định này nh là công nghệ rẻ tiền
và công nghệ đắt tiền mà đợc sử dụng để sản xuất ra sản phẩm đầu ra với chi phí
biên bằng không.
Trò chơi diễn ra theo cách thức sau. Trong thời kỳ đầu, một ngời bán quyết
định xem nên đầu t vào công nghệ đắt tiền hay rẻ tiền kéo dài suốt 2 thời kỳ. Một
ngời bán đa ra một mức giá chào hàng sau đó một khách hàng quyết định chấp
nhận hay từ chối lời chào hàng đó. Nếu khách hàng từ chối cả 2 ngời bán trên sẽ
không thu đợc gì và phải đợi đến thời kỳ sau. Trong thời kỳ thứ 2 khách hàng quyết
định xem sẽ mua hàng của ngời bán cũ hay của ngời bán mới. Để quyết định xem
có chấp nhận hay từ chối lời chào hàng, khách hàng sẽ xem xét chất lợng sản phẩm
mà anh ta đã mua của ngời bán hàng trong thời kỳ đầu. Một ngời bán hàng mới sẽ
quyết định gia nhập thị trờng với chi phí gia nhập bằng không chỉ khi lợi ích kỳ
vọng của anh ta là không âm và có cầu đối với hàng hoá của anh ta.
Nguyễn thị kim nhung
5
Trong chơng này có hai giả thiết liên quan đến tính tự nhiên của một thị tr-
ờng không chính thức. Giả thiết thứ nhất là chất lợng của các yếu tố đầu vào không
ổn định. Những ngời bán tốt mua công nghệ đắt tiền nhng cuối cùng thì công nghệ
đó có thể lại là công nghệ tồi. Giả thiết này dựa trên đặc điểm của thị trờng không

thơng mại đơn phơng thì sản phẩm thơng lợng có thể tích trữ đợc và ngời bán đơc
trợ vốn trên một đơn vị sản phẩm. Do đó tối đa chỉ có một cuộc trao đổi thơng mại
đợc diễn ra trong toàn bộ thời kì. Trong chơng này mô hình là mô hình các trò chơi
mặc cả thơng mại đa phơng. Sản phẩm thơng lợng không thể tích trữ đợc và trong
mỗi thời kỳ lại có một đơn vị sản phẩm đợc trợ giá. Do đó, có duy nhất một và chỉ
một đơn vị sản phẩm có thể đợc trao đổi trong mỗi thời kỳ. Mô hình này cũng có
thể đợc áp dụng đối với những sản phẩm nh là các sản phẩm dịch vụ hay các loại
hàng hoá cho thuê lâu bền.
Chơng này chỉ ra rằng cân bằng của ngời bán tồi luôn luôn tồn tại trong đó
khách hàng không bao giờ tin tởng ngời bán và ngời bán nhận thấy đầu t vào công
nghệ rẻ tiền có lợi hơn. Ngời bán không có động lực nào để nâng cao chất lợng sản
phẩm. Vì không mất chi phí gia nhập hay rút lui khỏi thị trờng nên trong thời kỳ
đầu ngời bán hàng chất lợng thấp có thể dễ dàng thay đổi vị trí bán hàng của mình
và trở thành một ngời bán hàng mới ở một nơi khác. Trong phần IV.1 chúng ta
chính thức hoá những tranh cãi ở trên bằng cách chỉ rõ ra một mô hình về bài học
may rủi và uy tín dới sự bất ổn định của đầu vào và quá trình sản xuất. Trong phần
IV.2 và IV.3 chúng ta lần lợt xem xét các chiến lợc thị trờng của những ngời bán
hàng đơng nhiệm và các chiến lợc thị trờng của những ngời bán hàng mới gia nhập
thị trờng. Tiếp theo phần IV.4 sẽ là lời nhận xét kết luận.
IV.1 mô hình
Nguyễn thị kim nhung
7
Xem xét một sản phẩm đợc sản xuất với 2 chất lợng khác nhau: chất lợng cao
(kí hiệu:H) và chất lợng thấp (kí hiệu:L). Giả định là mỗi ngời bán hàng có thể gia
nhập vào thị trờng bằng cách là phải chịu chi phí cho một yếu tố đầu vào cố định.
Chúng ta nói đến đầu vào cố định này nh là công nghệ mà sản xuất sản phẩm đầu
ra với chi phí biên bằng không tại mỗi thời kì trong 2 thời kì liên tiếp và sau đó đầu
vào này sẽ ngừng hoạt động (ví dụ nh một con bò sữa cho sữa trong 2 năm sau đó
thì không cho nữa). Mỗi ngời bán bị hạn chế về khả năng sản xuất và mỗi thời kì
chỉ sản xuất một đơn vị. Vì đợc tự do gia nhập vào thị trờng nên cả những ngời bán

H
>U
L
. Giả sử U
L
>C
b
khi đó về mặt xã hội thì sản phẩm luôn đáng giá trị
để sản xuất. Điều kiện này đảm bảo cho sự tồn tại cân bằng chất lợng thấp khi mà
Nguyễn thị kim nhung
8
thị trờng cha có đủ nhu cầu về chất lợng cao vì bất kì một lý do nào. Mỗi khách
hàng đợc giả định là ngời trung lập chịu rủi ro. Anh ta tối đa hoá lợi ích kì vọng của
mình bằng cách là trong mỗi một thời kì tiêu dùng tối đa một đơn vị sản phẩm đầu
ra. Tại thời điểm mua sản phẩm đầu ra khách hàng không thể quan sát đợc chất l-
ợng của sản phẩm nhng sau khi mua và tiêu dùng sản phẩm thì chất lợng của sản
phẩm trong thời kì đầu sẽ đợc tất cả những ngời mua biết đến.
Chúng ta đặt điều kiện cho một dãy các sự việc nh sau:trong giai đoạn 1, tất
cả những ngời bán đều là những ngời mới gia nhập vào thị trờng, họ chào hàng
bằng cách đa ra mức giá và sản lợng cho khách hàng, khách hàng sẽ quyết định
xem nên chấp nhận hay từ chối lời đề nghị đó. Nếu anh ta chấp nhận thì quá trình
trao đổi sẽ đợc diễn ra, ngợc lại nếu từ chối thì anh ta sẽ tìm đến ngời bán hàng
khác. Đến cuối thời kì khách hàng đã có kinh nghiệm về chất lợng thực tế của sản
phẩm mà họ đã mua và những ngời bán hàng sẽ quyết định xem nên ở lại hay rút lui
khỏi thị trờng. ở đầu thời kì thứ 2 mỗi khách hàng quyết định: nên quan tâm đến
sản phẩm của những ngời bán đơng nhiệm tức là sản phẩm mà anh ta đã mua trong
giai đoạn trớc hay là đi tìm những ngời bán khác (mới gia nhập thị trờng). Đầu tiên
mỗi ngời bán đơng nhiệm thông báo cho khách hàng hiện tại của mình về giá P và
lợng Q của sản phẩm. Nếu khách hàng chấp nhận lời chào hàng thì quá trình trao
đổi đợc diễn ra, ngợc lại thì ngời mua lại đi tìm kiếm những lời chào hàng khác với

)U
L
Nếu khách hàng từ chối sự chào hàng thì :
EU
t
= 0.
Gọi P
j
là mức giá đợc ngời bán thứ j đa ra, j=g,b. Nếu khách hàng biết loại
yếu tố đầu vào là tốt hay tồi thì anh ta sẽ chấp nhận đặt hàng ở mức (P,Q) chỉ khi:
P
g
[
g
U
H
+ (1-
g
)U
L
với đầu vào (công nghệ) là tốt, (4.1a)
Hoặc P
b
[
b
U
H
+(1-
b
)U

0
đối với những đầu vào của những ngời bán là tốt,
trong đó 0[r
0
[1. Sử dụng quy luật Bayes chúng ta có thể biểu thị xác suất hậu
Nguyễn thị kim nhung
10


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status