Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Vấn đề chất lượng sản phẩm trờn thị trường khụng chớnh thức ở
cỏc nước đang phỏt triển.
Một đặc trưng của nhiều thành phố ở cỏc nước đang phỏt triển là sự song
song tồn tại của cỏc hóng kinh doanh lớn , cú tổ chức tốt và cụng nghệ cao với
những người buụn bỏn nhỏ (mà chỉ cần cú một cỏi hũm gỗ làm chỗ bỏn hàng).
Tổ chức lao động quốc tế (ILO) gọi hai khu vực khỏc nhau này là “thị trường
chớnh thức” và “thị trường khụng chớnh thức”.Thị trường khụng chớnh thức
được đặc trưng bởi sự tồn tại của rất nhiều người buụn bỏn nhỏ được tự do gia
nhập và rỳt lui khỏi thị trường và khụng cú thể chế phỏp lý để kiểm soỏt chất
lượng sản phẩm. Loại thị trường này khỏc với thị trường cạnh tranh thụng
thường ở cỏch thức tiến hành trao đổi, buụn bỏn hàng hoỏ. Trong thị trường
khụng chớnh thức quỏ trỡnh trao đổi hàng hoỏ khụng tập trung và giỏ cả được
định ra nhờ quỏ trỡnh mặc cả ,thương lượng giữa người mua và người bỏn
nhưng trong thị trường cạnh tranh quỏ trỡnh trao đổi hàng hoỏ lại tập trung và
giỏ cả đồng nhất.
Cỏc hoạt động bỏn hàng rong trờn đường phố ở hầu hết mọi nơi trờn thế
giới đặc biệt là ở cỏc nước đang phỏt triển là những vớ dụ điển hỡnh của thị
trường khụng chớnh thức hợp phỏp. Những người bỏn hàng rong trờn đường
phố được coi là những người làm tư, những người bỏn lẻ tham gia vào quỏ trỡnh
phõn phối nhiều loại hàng hoỏ sản xuất nội địa và hàng nhập khẩu. Trong cuốn
‘Chickering và Salahdine (1991) Alonzo viết: tại Philippines, trong số những
người buụn bỏn lẻ thỡ những người bỏn hàng rong trờn đường phố chiếm số
lượng đụng nhất. Thậm chớ ở cả những khu vực nghốo nhất cứ cỏch 4 đến 5 nhà
lại cú một loại quầy hàng. Cỏc quầy hàng thực phẩm bầy dọc theo vỉa hố rất phổ
biến. Chớnh quyền địa phương ở Metro Manila khụng bao giờ can thiệp vào
những người bỏn hàng rong miễn là họ trả đủ thuế kinh doanh cho chớnh quyền
NguyÔn thÞ kim nhung
1
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
thành phố. Nhưng họ vẫn bị chớnh quyền địa phương buộc phải rời đi hết nơi
nguyờn chất về và tự pha loóng chỳng. Như thế điều kiện vệ sinh của quỏ trỡnh
chế biến được đảm bảo hơn và thậm chớ là giỏ cũng cú thể thấp hơn. “Tụi cú thể
NguyÔn thÞ kim nhung
3
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
chắc chắn một điều là người dõn khụng thực sự muốn mua sữa đó bị pha loóng
,vỡ sữa do chớnh họ pha loóng thỡ họ vừa cú thể kiểm soỏt được mức độ pha
loóng lại vừa đảm bảo được nước dựng để pha loóng là nước sạch”(Rashid 1988,
trang 247). Thờm vào đú Barghan và Kletzer(1984) cũng chỉ ra rằng người tiờu
dựng luụn muốn tỡm đến những hàng hoỏ chất lượng tốt vỡ vậy khi họ mua phải
hàng hoỏ chất lượng thấp họ cảm thấy như bị lừa. Vỡ vậy quan điểm cho rằng
vấn đề chất lượng thấp trong thị trường khụng chớnh thức bắt nguồn từ thị hiếu
của người tiờu dựng là khụng phự hợp.Như vậy cõu hỏi tại sao người tiờu dựng
lại mua hàng hoỏ chất lượng thấp vẫn chưa được trả lời.
Cú một cỏch giải thớch khỏc cho vấn đề chất lượng là cú thể người tiờu
dựng khụng nắm được đầy đủ thụng tin về sản phẩm và sự lựa chọn của họ bị ảnh
hưởng bởi quảng cỏo (Schmalensee1978).Cú thể cú một sự thật nào đú trong vấn
đề này nhưng khú cú thể tin rằng về lõu về dài khỏch hàng lại hoàn toàn lờ đi
những việc làm trong quỏ khứ của những người bỏn hàng và động cơ để họ đảm
bảo chất lượng hàng hoỏ.
Akerlof (1970), là người đó quan sỏt vấn đề chất lượng ở thị trường ấn Độ
lại cho rằng do thiếu kĩ năng kinh doanh nờn những nhà sản xuất đó khụng đầu tư
vốn và xõy dựng uy tớn của mỡnh .Tuy nhiờn khú cú thể tin rằng một người bỏn
hàng lại kinh doanh bằng cỏch gian lận vỡ thiếu kĩ năng kinh doanh. Việc người
tiờu dựng trừng phạt những người bỏn hàng gian lận bằng cỏch khụng mua hàng
hoỏ của họ nữa và thưởng cho những người buụn bỏn trung thực bằng cỏch sẵn
sàng mua hàng chất lượng tốt cuả họ là lẽ đương nhiờn. Thỏi độ của khỏch hàng
dậy cho những người muốn bỏn hàng về lõu về dài bài học về giỏ trị của uy tớn
bỏn hàng.
Rashid(1988) đó trả lời cho cõu hỏi này, ụng biện luận rằng đặc tớnh gia
5
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Trong chương này chỳng ta xõy dựng một mụ hỡnh lý thuyết trũ chơi mà
đưa ra được một lời giải thớch khỏc cho sự tồn tại dai dẳng của vấn đề chất lượng
sản phẩm trong thị trường khụng chớnh thức. Nếu tồn tại sự khụng chắc chắn
trong cỏc thị trường yếu tố sản xuất và trong quỏ trỡnh sản xuất thỡ giỏ cả sẽ
khụng thể là dấu hiệu nhận biết chất lượng sản phẩm và uy tớn khụng thể khuyến
khớch những người bỏn hàng nõng cao chất lượng sản phẩm của họ. Khỏch hàng
nhận biết được cỏc kiểu người bỏn hàng khỏc nhau thụng qua hoạt động kinh
doanh của họ trong quỏ khứ và thụng qua chất lượng sản phẩm của họ trước đú.
Chỳng ta nhận thấy rằng cõn bằng của những người bỏn hàng tồi mà trong đú
người bỏn hàng chọn cỏch đầu tư vào đầu vào rẻ và khỏch hàng khụng tin tưởng
vào người bỏn hàng luụn luụn là cõn bằng chiến lược thuần tuý. Điều này cú
nghĩa là người bỏn khụng cú động lực để nõng cao chất lượng sản phẩm của họ.
Để xỏc định được liệu rằng cạnh tranh giữa những người bỏn cú thể nõng cao
chất lượng sản phẩm hay khụng, những người bỏn hàng mới được dẫn dắt gia
nhập tự do vào thị trường khụng chớnh thức. Trong mụi trường cạnh tranh chỳng
ta thấy rằng khỏch hàng vẫn khụng tin tưởng vào những người bỏn. Một người
bỏn luụn cú khuynh hướng đầu tư vào đầu vào rẻ và một người mua cũng luụn kỳ
vọng vào đầu vào rẻ.
Trũ chơi bắt đầu với cỏc quyết định của người bỏn. Trước hết một người
bỏn quyết định cho mỡnh là “người bỏn tốt” hay “người bỏn tồi”. Một người bỏn
tốt là người bỏn muốn nõng cao chất lượng sản phẩm của mỡnh bằng cỏch bỏ
nhiều chi phớ hơn và kỳ vọng mua được đầu vào tốt. Một người bỏn tồi thỡ đầu
tư vào đầu vào tồi. Đầu vào tốt cú nhiều khả năng sản xuất được hàng hoỏ chất
lượng cao hơn là đầu vào tồi. Trong khi quyết định xem nờn đầu tư vào đầu vào
đắt hay đầu vào rẻ một người bỏn sẽ so sỏnh giỏ trị hiện tại đó được chiết khấu
của lợi nhuận cú thể kiếm được nếu là người bỏn tốt với lợi nhuận cú thể kiếm
NguyÔn thÞ kim nhung
6
vào tốt cú nhiều khả năng sản xuất được sản phẩm chất lượng cao hơn là đầu vào
tồi. Đõy là sự bất ổn định trong sản xuất. Sự bất ổn định này là một vấn đề đặt ra
đối với những doanh nghiệp nhỏ thõm dụng lao động và sử dụng cụng nghệ trong
nước. Cả 2 giả thiết trờn đều là đặc tớnh của thị trường khụng chớnh thức ở cỏc
nước đang phỏt triển.
Chỳng ta cũng giả sử là một người bỏn hàng chọn phương ỏn đầu tư trước
khi cỏc hoạt động thương mại được diễn ra. Đõy là một yếu tố quan trọng trong
mụ hỡnh. Giả thiết này khỏc với giả thiết của Esfahani(1991) cho rằng một người
bỏn phải bắt đầu sản xuất chỉ sau khi lời chào hàng của người đú đó được một vài
khỏch hàng nào đú ưng thuận. Giả thiết của ụng cú thể đỳng trong một vài trường
hợp nhưng như trong trường hợp của chỳng ta thỡ nú lại khụng thể ỏp dụng được
đối với hoạt động mua bỏn của những người bỏn hàng rong. Mụ hỡnh đồng thời
cũng ỏm chỉ rằng thụng bỏo của người bỏn hàng khụng quan trọng. Trong thời kỳ
thứ 2 khỏch hàng hoàn toàn khụng quan tõm đến việc người bỏn hàng thụng bỏo
hàng của họ chất lượng cao hay thấp. Khỏch hàng chỉ xem xột hoạt động kinh
doanh của người bỏn trong thời kỳ trước. Vỡ vậy lời núi là khụng cú trọng lượng
đối với khỏch hàng và họ khụng tớnh gỡ đến nú khi quyết định cú chấp nhận lời
chào hàng của người bỏn hay khụng. Trong thời kỳ đầu dự người bỏn cú thụng
bỏo hàng của họ chất lượng cao hay thấp thỡ khỏch hàng vẫn định ra một mức
giỏ chung cho tất cả những người bỏn.
Mụ hỡnh này khỏc với cỏc mụ hỡnh trũ chơi mặc cả thương mại đơn
phương liờn tiếp (SBG) vớ dụ như mụ hỡnh của Rubinstein(1982). Trong mụ
hỡnh trũ chơi mặc cả thương mại đơn phương thỡ sản phẩm thương lượng cú thể
tớch trữ được và người bỏn đươc trợ vốn trờn một đơn vị sản phẩm. Do đú tối đa
chỉ cú một cuộc trao đổi thương mại được diễn ra trong toàn bộ thời kỡ. Trong
chương này mụ hỡnh là mụ hỡnh cỏc trũ chơi mặc cả thương mại đa phương. Sản
NguyÔn thÞ kim nhung
8
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
phẩm thương lượng khụng thể tớch trữ được và trong mỗi thời kỳ lại cú một đơn
tranh trờn thị trường ở thời kỡ thứ 2. ở thời kỡ đầu thỡ tất cả những người bỏn
đều là những người mới gia nhập thị trường.
Những người bỏn cú thể là tốt hoặc xấu. Những người bỏn tốt trả chi phớ là
C
g
cho một yếu tố đầu vào là tốt với xỏc suất λ và là tồi với xỏc suất (1-λ),
0<λ<1. Khụng thể quan sỏt được chất lượng của cỏc yếu tố đầu vào một cỏch
trực tiếp, thậm chớ cả người bỏn mà đi mua yếu tố đầu vào cũng khụng thể quan
sỏt được chất lượng của nú. Những người bỏn tồi mua yếu tố đầu vào với chi phớ
là C
b
<C
g
. Cả đầu vào tốt và đầu vào tồi đều cú thể sản xuất được sản phẩm đầu ra
cú chất lượng cao nhưng đầu vào tốt thỡ sẽ cho ra sản phẩm chất lượng cao với
xỏc suất π
g
trong khi đú đầu vào tồi thỡ chỉ cho ra sản phẩm chất lượng cao với
xỏc suất là π
b
<π
g
. Sản phẩm đầu ra trong mỗi thời kỡ thỡ hoặc cú chất lượng cao
hoặc cú chất lượng thấp. Những người bỏn được giả định là những người trung
lập về tớnh đồng nhất và rủi ro. Mỗi người bỏn tối đa hoỏ lợi nhuận kỡ vọng mà
được chiết khấu doanh số thu được ở thời kỡ 2 bởi nhõn tố chiết khấu là δ <1.
Đặt giỏ trị tiền tệ của chất lượng Q đối với khỏch hàng là U
Q
, Q=H,L. Tất
nhiờn là U
nhiệm thụng bỏo cho khỏch hàng hiện tại của mỡnh về giỏ P và lượng Q của sản
phẩm. Nếu khỏch hàng chấp nhận lời chào hàng thỡ quỏ trỡnh trao đổi được diễn
ra, ngược lại thỡ người mua lại đi tỡm kiếm những lời chào hàng khỏc với chi
phớ bằng 0 giữa sự thoả hiệp của những người mới gia nhập (P
e
,Q
e
).
IV.2 Cỏc chiến lược thị trường của những người bỏn đương nhiệm.
Lợi ớch kỡ vọng của khỏch hàng là EU(.) cú thể được viết dưới dạng:
Nếu khỏch hàng chấp nhận sự chào hàng và đầu vào là tốt thỡ :
EU
t
= π
g
U
H
+ (1- π
g
)U
L
Nếu khỏch hàng chấp nhận sự chào hàng và đầu vào là tồi thỡ:
NguyÔn thÞ kim nhung
11