ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
TRẦN THỊ KIM NHUNG
QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN
THEO BỘ CHUẨN NGHỀ NGHIỆP TẠI TRƢỜNG TRUNG HỌC
PHỔ THÔNG TÂY ĐÔ, TỪ LIÊM – HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
HÀ NỘI – 2013
1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
TRẦN THỊ KIM NHUNG
QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN
THEO BỘ CHUẨN NGHỀ NGHIỆP TẠI TRƢỜNG
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TÂY ĐÔ, TỪ LIÊM –HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số :
60 14 05
công cụ đánh giá giáo viên của các cấp quản lý theo hướng chuyển từ đánh
giá mang tính chất định tính sang đánh giá mang tính định lượng và đồng thời
cũng là căn cứ để giáo viên tự đánh giá năng lực của mình từ đó xây dựng kế
hoạch học tập, rèn luyện phấn đấu để nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ
chính trị, chuyên môn nghiệp vụ của bản thân.
1
Chuẩn hóa đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý cả về số lượng cơ cấu,
chất lượng, trong đó nâng cao chất lượng là trọng tâm đang trở thành vấn đề
mang tính thời sự của ngành giáo dục.
1.2. Lý do chủ quan
Trường Trung Học Phổ Thông Tây Đô là một trường tư thục được
thành lập theo xu hướng xã hội hóa giáo dục của Nhà nước. Việc tuyển dụng
giáo viên, quản lý đội ngũ và đảm bảo đời sống cho giáo viên là do Nhà
trường chịu hoàn toàn trách nhiệm. Vì vậy chất lượng đội ngũ giáo viên là
yếu tố quan trọng nhất để Nhà trường quản lý, Sứ mệnh của Nhà trường phần
lớn phụ thuộc vào đội ngũ giáo viên. Do đó tìm ra biện pháp quản lý đội ngũ
giáo viên cho Trường Trung Học Phổ Thông Tây Đô để nâng cao chất lượng
đội ngũ giáo viên và chất lượng quá trình dạy học là vấn đề cần thiết và cấp
bách.
Từ những lý do khách quan và chủ quan đã nêu trên chúng tôi quyết
định chọn nghiên cứu đề tài “Quản lý đội ngũ giáo viên theo bộ chuẩn nghề
nghiệp giáo viên Trung Học Phổ Thông tại Trường Trung Học Phổ Thông
Tây Đô – Từ Liêm – Hà Nội”.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng đội ngũ giáo viên và thực trạng quản
lý đội ngũ giáo viên của Trường Trung Học Phổ Thông Tây Đô từ đó đề xuất
biện pháp quản lý đội ngũ giáo viên theo bộ chuẩn nghề nghiệp giáo viên
Đội ngũ giáo viên của trường là do Nhà trường toàn quyền tuyển dụng
và bồi dưỡng. Tuy nhiên từ trước đến nay việc quản lý đội ngũ giáo viên cơ
bản dựa vào trình độ đào tạo của giáo viên và kết quả dạy học của họ trong
quá trình công tác. Do đó so với việc đánh giá giáo viên theo bộ chuẩn nghề
nghiệp giáo viên THPT thì vẫn còn nhiều bất cập.
Nếu quản lý đội ngũ giáo viên trường THPT Tây Đô theo bộ chuẩn
nghề nghiệp giáo viên trung học phổ thông sẽ nâng cao chất lượng giáo viên
và chất lượng quá trình dạy học của trường THPT Tây Đô.
3
7. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng quản lý đội ngũ giáo viên
trường trung học phổ thông Tây Đô để từ đó đề xuất biện pháp quản lý đội
ngũ giáo viên theo bộ chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học phổ thông.
Số liệu thống kê về kết quả đánh giá giáo viên trường THPT Tây Đô
trong 3 năm học 2010 – 2011, năm học 2011 – 2012, năm học 2012 – 2013.
8. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
- Ý nghĩa lý luận
Tổng kết công tác quản lý đội ngũ giáo viên ở trường THPT Tây Đô.
Chỉ ra những bài học thành công và mặt hạn chế, cung cấp cơ sở khoa học để
xây dựng quy trình quản lý đội ngũ giáo viên của trường THPT Tây Đô.
- Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu vừa giúp cho giáo viên có cơ sở đánh giá bản thân
từ đó có kế hoạch tự học tự bồi dưỡng để nâng cao năng lực nghề nghiệp vừa
là công cụ quản lý đội ngũ giáo viên ở trường THPT Tây Đô. Không những
thế kết quả nghiên cứu còn có thể áp dụng vào quá trình quản lý đội ngũ giáo
viên của các trường THPT nói chung.
9. Phƣơng pháp nghiên cứu
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ
GIÁO VIÊN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THEO CHUẨN
NGHỀ NGHIỆP CỦA GIÁO VIÊN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1. Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề
Quản lý đội ngũ giáo viên là một nhiệm vụ cơ bản của các cấp quản lý
giáo dục trực tiếp là Hiệu trưởng đến sở giáo giáo dục và trên cùng là Bộ giáo
dục và đào tạo.
Trong những năm gần đây ngành giáo dục và đào tạo đang thực hiện
đổi mới quản lý về mọi mặt, trong đó việc quản lý, đánh giá đội ngũ giáo viên
được chuyển từ quản lý truyền thống sang quản lý theo chuẩn nghề nghiệp.
Quá trình kiểm định chất lượng giáo viên cũng được thực hiện theo bộ chuẩn
nghề nghiệp giáo viên trung học phổ thông mà bộ giáo dục đã ban hành kèm
theo thông tư 30/2009/TT – BGDĐT ngày 22/10/2009.
Từ khi có chuẩn nghề nghiệp giáo viên THPT, đã có một số nghiên cứu
về vấn đề quản lý đội ngũ giáo viên như: “Biện pháp quản lý giáo viên trường
THPT Thịnh Long –Tỉnh Nam Định đáp ứng chuẩn nghề nghiệp giáo viên
Trung học” của tác giả Phạm Thị Ngọc, “Biện pháp quản lý đội ngũ giáo viên
theo chuẩn nghề nghiệp ở trường THPT Việt Bắc tỉnh Lạng Sơn của tác giả
Đặng Hồng Cường, “Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên các trường THPT ở
huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội theo chuẩn nghề nghiệp” của tác giả
Nguyễn Quốc Nam,…
Tuy vậy chưa có nghiên cứu nào đề cập đến vấn đề Quản lý đội ngũ
giáo viên trường THPT Tây Đô theo chuẩn nghề nghiệp. Do đó chúng tôi
chọn nghiên cứu vấn đề tìm hiểu thực trạng quản lý đội ngũ giáo viên ở
trường THPT Tây Đô để từ đó đề xuất biện pháp quản lý đội ngũ giáo viên
của trường theo bộ chuẩn nghề nghiệp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ và
chất lượng dạy học và giáo dục ở trường THPT Tây Đô.
6
7
Theo H.Koontz (Người Mỹ): “ Quản lý là hoạt động đảm bảo phối hợp
những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được mục đích của tổ chức trong một môi
trường và đối với những điều kiện nguồn lực cụ thể”.
Theo quan điểm của Đặng Quốc Bảo: Quản lý được hiểu một cách đơn
giản trên cơ sở chiết tự các thành tố cấu thành khái niệm này. Cụ thể: “Quản “
là sự coi sóc giữ gìn duy trì hệ ở trạng thái ổn định, “lý” là sự sửa sang sắp
xếp đổi mới. Quản lý là duy trì ổn định và đổi mới. Đặc biệt, luôn có sự thống
nhất biện chứng giữa quản và lý: trong quản (giữ) có lý (chỉnh sửa), trong lý
(chỉnh sửa) có quản (giữ) [2, tr.1]
Theo Nguyễn Quốc Chí – Nguyễn Thị Mỹ Lộc giới thiệu định nghĩa
kinh điển về quản lý là: “Hoạt động quản lý là hoạt động có định hướng, có
chủ đích của chủ thể quản lý (ngưởi quản lý) đến khách thể quản lý (người bị
quản lý) trong tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích
của tổ chức”. [13, tr.1]
Từ những ý chung của các khái niệm và xét quản lý với tư cách là một
hoạt động có thể lấy định nghĩa quản lý mà hai tác giả Nguyễn Quốc Chí –
Nguyễn Thị Mỹ Lộc giới thiệu làm căn cứ nghiên cứu: “Quản lý là quá trình
đạt được mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức
năng) kế hoạch hóa tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra” [13, tr.1].
Hoạt động quản lý được tiến hành trong một tổ chức hay một nhóm xã
hội do đó hoạt đông quản lý là những động tác phối hợp nỗ lực của mỗi cá
nhân để nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức; Quản lý là sự tác động mang
tính chủ quan nhưng lại phù hợp với quy luật khách quan.
1.2.2. Chức năng quản lý
Quản lý phải thực hiện các chức năng khác nhau, mỗi chức năng có
tính độc lập tương đối nhưng chúng được liên kết hữu cơ trong một hệ thống
nhất. Quản lý có các chức năng cơ bản cụ thể như sau :
để biến mục tiêu dự kiến thành kết quả, biến kế hoạch thành hiện thực.
Nội dung của việc chỉ đạo là điều hành công việc, động viên khuyến
khích, giám sát tiến hành, đánh giá hoạt động và điều chỉnh, uốn nắn các sai
lệch nảy sinh trong quá trình hoạt động của hệ thống.
9
*) Kiểm tra
Kiểm tra là một chức năng có liên quan đến mọi cấp quản lý để đánh
giá đúng kết quả hoạt động của hệ thống, đo lường các sai lệch nảy sinh trong
quá trình hoạt động so với mục tiêu và kế hoạch đã định, nhằm kịp thời điều
chỉnh sai sót và đưa ra những quyết định để điều chỉnh nhằm đạt được mục
tiêu đã xác định. Đây là chức năng cơ bản.
Kiểm tra là tai mắt của quản lý, vì vậy cần tiến hành thường xuyên và
kết hợp linh hoạt nhiều hình thức kiểm tra.
Kiểm tra giúp cho việc thu nhận mối liên hệ ngược trong quá trình
quản lý. Nó giúp cho chủ thể quản lý điều khiển một cách tối ưu hệ quản lý.
Các chức năng trên được thực hiện nối tiếp nhau, đan xen vào nhau, phối hợp
bổ sung tạo sự kết nối theo hướng phát triển tạo thành một chu trình quản lý
mà trong đó yếu tố thông tin luôn có mặt trong tất cả các giai đoạn, nó vừa là
điều kiện vừa là phương tiện không thể thiếu được trong quá trình ra quyết
định quản lý. Thông tin có thể được sắp xếp ở vị trí như một chức năng trung
tâm trong sơ đồ sau:
Kế hoạch
Kiểm tra
Thông tin
Theo Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý giáo dục là hệ thống những tác
động có mục đích, có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm
cho hệ thống vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực
hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà tiêu
điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục là thế hệ trẻ đưa giáo dục tới mục
tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất.”
Trong giáo dục, chủ thể quản lý và khách thể quản lý được phân thành
nhiều cấp độ theo quy mô và chức năng quản lý:
+ Ở cấp độ vĩ mô: chủ thể quản lý giáo dục là chính phủ và chức năng
chuyên ngành của Bộ trưởng bộ GDĐT, khách thể quản lý là tất cả các yếu tố
11
của hệ thống giáo dục quốc dân và toàn bộ nội dung những công việc liên
quan của nó đến hệ thống giáo dục đó.
Trên địa bàn vùng lãnh thổ (tỉnh, huyện, xã) chủ thể quản lý giáo dục là
UBND các cấp và người đứng đầu cơ quan chức năng quản lý giáo dục địa
phương (giám đốc sở, trưởng phòng giáo dục đào tạo quận, huyện, thị xã),
khách thể quản lý ở đây là các yếu tố của hệ thống giáo dục quốc dân được
phân cấp cho địa phương quản lý và cộng đồng xã hội ở địa phương cùng với
những công việc liên quan đến hệ thống giáo dục quốc dân trên vùng lãnh thổ
đó.
+ Ở cấp độ vi mô: quản lý giáo dục trên phương diện quản lý một cơ sở
giáo dục. Chủ thể quản lý nhà trường là lãnh đạo của các trường, khách thể
quản lý là các yếu tố, thành viên, bộ phận cùng toàn thể các điều kiện vật chất
kỹ thuật phục vụ cho hoạt động của nhà trường. Quản lý giáo dục được hiểu
là những tác động tự giác (có ý thức có mục đích có kế hoạch, có hệ thống
hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tập thể cán bộ, giáo viên, công nhân
viên, học sinh, cha mẹ học sinh, các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà
phương pháp); Khai thác, sử dụng có hiệu quả điều kiện đào tạo; giữ gìn môi
trường đào tạo: môi trường tự nhiên, môi trường xã hội trong lành phù hợp
với các yêu cầu kinh tế của dạy học giáo dục; xây dựng bộ máy đào tạo năng
động có hiệu lực trong chỉ đạo điều hành; hoàn thiện qua cơ chế đào tạo theo
luật pháp quy định và thích hợp với hoàn cảnh của trường.
Quản lý nhà trường khác với quản lý xã hội khác, quản lý nhà trường
thực hiện trên cơ sở những quy luật chung của quản lý và có nét riêng đặc thù
của giáo dục. Sản phẩm của các hoạt động nhà trường là nhân cách học sinh
được hình thành trong quá trình học tập tu dưỡng và rèn luyện. Quản lý nhà
trường với mục đích cuối cùng là hình thành, phát triển nhân cách cho học
sinh.
Phạm Minh Hạc đã nhận định “quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo
dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận
hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo
đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh”.
13
1.2.5.Quản lý nguồn nhân lực
* Nguồn nhân lực:
Nguồn nhân lực theo nghĩa rộng được hiểu như nguồn nhân lực con
người của một quốc gia, một vùng lãnh thổ, là một bộ phận của các nguồn lực
có khả năng huy động, tổ chức quản lý để tham gia vào quá trình phát triển
kinh tế xã hội.
Theo Phạm Minh Hạc thì nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao
động của một nước hay một địa phương sẵn sàng tham gia một công việc nào
đó. Những người trong độ tuổi quy định và ngoài độ tuổi lao động, đủ 15 tuổi
trở lên có khả năng lao động hay còn gọi là lực lượng lao động cần được quản
lý, chăm sóc và phát triển.
hiện tại và nhu cầu phát triển trong tương lai của tổ chức, đơn vị.
Trong giáo dục đào tạo, quản lý nhân lực là quản lý toàn thể đội ngũ
những người làm công tác giáo dục đào tạo bao gồm CBQL, nhà giáo, nhân
viên phục vụ, đây chính là nguồn nhân lực, vốn người của toàn ngành giáo
dục đào tạo nói chung và của giáo dục trung học nói riêng.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII đã nêu: “phát triển con người
không chỉ là sự tăng lên của thu nhập quốc dân mà còn là tạo ra một môi
trường trong đó mọi người có thể phát triển mọi khả năng của mình và làm
chủ một cuộc sống sáng tạo hữu ích phù hợp với lợi ích và nhu cầu của họ”.
Quản lý phát triển nguồn nhân lực là quản lý nhấn mạnh phát triển toàn
diện con người: Thể lực, trí lực, tâm lực, thái độ sống, thái độ lao động, hiệu
quả lao động.
Quản lý phát triển nguồn nhân lực được xem xét tổng hợp dưới các góc
độ: góc độ kinh tế, góc độ giáo dục, góc độ chính độ - xã hội.
1.2.6. Giáo viên – đội ngũ giáo viên
1.2..6.1. Giáo viên
Theo từ điển tiếng Việt thì giáo viên là những người làm nghề dạy học
ở bậc phổ thông hoặc tương đương. [15, tr.396]
Theo luật giáo dục 2005 (đã sửa đổi bổ sung 2009) thì giáo viên là nhà giáo
giảng dạy ở các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề
nghiệp.
15
Nhà giáo – giáo viên là tên gọi vừa bao hàm nội dung nghề nghiệp vừa
mang ý nghĩa tôn vinh, trân trọng. Từ xưa đến nay, nghề dạy học đòi hỏi
người thầy phải là người thật sự gương mẫu, là tấm gương sáng về nhân cách,
là người hướng đạo trên đường đời cho học sinh. Bất cứ ai và bất cứ lúc nào,
khi bàn về phẩm chất lý tưởng mà nhà giáo phải có, đều nghĩ tới mô hình
1.2.7. Quản lý đội ngũ giáo viên
Tập hợp giáo viên của một trường trung học gọi là đội ngũ giáo viên
của trường trung học đó. Tập hợp tất cả các giáo viên trung học của toàn
ngành giáo dục một tỉnh được gọi là đội ngũ giáo viên cấp trung học của tỉnh
đó. Khi nói đến đội ngũ giáo viên trung học ta phải hiểu và xem xét trên quan
điểm hệ thống. Đó không phải là một tập hợp rời rạc, mà các thành tố trong
đó có mối quan hệ lẫn nhau, bị ràng buộc bởi những cơ chế nào đó. Vì vậy,
mỗi tác động và các thành tố đơn lẻ của hệ thống vừa có ý nghĩa cục bộ vừa
có ý nghĩa toàn thể.
Như vậy, quản lý đội ngũ giáo viên là hoạt động của người quản lý
giáo dục tác động lên đội ngũ giáo viên trong nhà trường hoặc cơ sở giáo dục
nhằm đạt được mục tiêu của cơ sở giáo dục hay nhà trường đó.
Quản lý đội ngũ giáo viên trung học là tác động của người quản lý lên
đội ngũ giáo viên trung học trong nhà trường trung học nhằm đạt được mục
tiêu giáo dục trung học.
1.3. Một số vấn đề về chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học phổ thông
1.3.1. Chuẩn
Từ điển tiếng Việt định nghĩa: “ Chuẩn là cái được chọn làm căn cứ để
đối chiếu, để hướng theo đó mà làm cho đúng” hay “ là cái được chọn làm
mẫu để thể hiện một đơn vị đo lường”.
1.3.2. Chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học phổ thông
Chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học được quy định kèm theo Thông
tư 30/2009/TT-BGDĐT ngày 22 tháng 10 năm 2009 của Bộ trưởng Bộ Giáo
dục và Đào tạo quy định chi tiết, có hệ thống nội dung về phẩm chất, năng lực
nghề nghiệp của giáo viên. Các phẩm chất, năng lực được logic các công đoạn
17
hoạt động giáo dục, dạy học. Theo đó, mỗi hoạt động ở từng công đoạn được
- Quyết định số 09/2005/QĐ-TTg ngày 11 tháng 1 năm 2005 của Thủ
tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án (Xây dựng, nâng cao chất lượng đội
ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục giai đoạn 2005- 2010);
- Điều lệ trường ThCS, Trường THPT và trường phổ thông có nghiều
cấp học (ban hành kèm theo Quyết định số 07/2007/QĐ-BGDDT ngày 02
tháng 04 năm 2007 của Bộ giáo dục và Đào tạo);
- Quyết định số 202/TCCP- VC ngày 08 tháng 6 năm 1994 của Bộ
trưởng – Trưởng ban tổ chức- Cán bộ Chính phủ ( Nay là bộ nội vụ) về việc
ban hành Tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch công chức ngành Giáo dục và Đào
tạo (ngạch giáo viên trung học và trung học cao cấp);
- Quyết định số 06/2006/QĐ-BNV ngày 21 tháng 3 năm 2006 của Bộ
trưởng Bộ nội vụ về việc ban hành Quy chế đánh giá, xếp laoij giáo viên mầm
non và giáo viên phổ thông công lập;
- Quyết đinh số 16/2008/QĐ- BGDĐT ngày 16 tháng 4 năm 2008 của
Bộ giáo dục và Đào tạo về việc ban hành Quy định đạo đức Nhà giáo
1.3.3.2. Căn cứ vào đặc điểm lao động sư phạm của giáo viên
Chuẩn phải tiếp thu, vận dụng những xu hướng về sự thay đổi chức
năng của người giáo viên trong bối cảnh khoa học, kỹ thuật, công nghệ đang
phát triển rất nhanh hướng tới kinh tế tri thức và xã hội học tập.
- Giáo viên không còn chỉ đóng vai trò là người truyền đạt tri thức mà
phải là người tổ chức, chỉ đạo, hướng dẫn, gợi mở, cố vấn, trọng tài cho các
hoạt động học tập tìm tòi khám phá, giúp học sinh tự lực chiếm lĩnh kiến thức
mới. Giáo viên phải có năng lực đổi mới phương pháp dạy học, chuyển từ
kiểu dạy tập trung vào vai trò giáo viên và hoạt động dạy sang kiểu dạy tập
trung vào vai trò của học sinh và hoạt động học, từ cách dạy thông báo – biện
thích – minh hoạ sang cách dạy hoạt động tìm tòi khám phá.
- Trong bối cảnh kĩ thuật công nghệ phát triển nhanh, tạo ra sự chuyển
dịch định hướng giá trị, giáo viên trước hết phải là nhà giáo dục có năng lực
mới đáp ứng được nhu cầu, trình độ nhận thức đã khá phát triển của học sinh
trung học.
- Bối cảnh hiện nay đòi hỏi giáo viên trung học phải có trình độ tin học
20
và sử dụng phương tiện công nghệ thông tin trong dạy học, trình độ ngoại ngữ
mới theo kịp yêu cầu phát triển nội dung, đổi mới phương pháp dạy học môn
học của mình ở trường THCS và THPT.
1.3.3.3. Về công tác đánh giá giáo viên
Cho đến nay ở Việt Nam chưa thực hiện việc đánh giáo giáo viên trung
học gắn liền với quyết định thăng tiến về nghề nghiệp của họ. Tuy nhiên hằng
năm, các trường THCS và THPT vẫn tiến hành đánh giá giáo viên dựa trên
các văn bản sau:
- Thông tư số 43/2006/TT-BGDĐT ngày 20/10/2006 về việc hướng dẫn thanh
tra toàn diện nhà trường, cơ sở giáo dục khác và thanh tra hoạt động sư phạm
của nhà giáo;
- Quyết định số 06/2006/QĐ-BNV ngày 21/3/2006 của Bộ Nội vụ về việc ban
hành Quy chế đánh giá, xếp loại giáo viên mầm non và giáo viên phổ thông
công lập. Theo Quyết định này, nội dung đánh giá gồm các mặt: phẩm chất
chính trị, đạo đức, lối sống; kết quả công tác được giao; khả năng phát triển.
Trên cơ sở đánh giá công chức này, tập thể giáo viên bình bầu các danh hiệu
thi đua: Lao động giỏi, chiến sĩ thi đua...
Việc đánh giá công nhận danh hiệu giáo viên giỏi thường được tiến
hành qua các hội giảng (hội thi) giáo viên giỏi từ cấp trường đến cấp quốc gia.
Giáo viên được công nhận danh hiệu giáo viên giỏi trước hết phải qua các Hội
thi giáo viên giỏi và tiết dạy của giáo viên đó được Hội đồng chấm đánh giá
loại giỏi và các mặt khác được cở sở (nhà trường, Phòng Giáo dục, Sở GDĐT) đánh giá tốt.
Như vậy, cho đến nay, việc đánh giá giáo viên trung học hàng năm là
Đào tạo.
Chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non, về cấu trúc và nội dung, được xây
dựng tương tự như Chuẩn nghề nghiệp giáo viên tiểu học. Quy định về Chuẩn
nghề nghiệp giáo viên mầm non được ban hành kèm theo Quyết định số
02/2008/QĐ-BGDĐT ngày 21/01/2008 của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
22
1.3.4. Mục đích xây dựng chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học phổ
thông
Đánh giá giáo viên theo Chuẩn nhằm:
- Xác định chính xác, khách quan mức độ năng lực nghề nghiệp của
giáo viên ở thời điểm đánh giá theo các tiêu chí trong Chuẩn. Trên cơ sở đó
đưa ra những khuyến nghị cho giáo viên và các cấp quản lý giáo dục trong
việc tổ chức đào tạo bồi dưỡng (xây dựng chương trình, lập kế hoạch, quy
hoạch đào tạo bồi dưỡng, v.v...) nâng cao năng lực cho giáo viên;
- Trên cơ sở xác định mức độ năng lực nghề nghiệp giáo viên, tiến
hành xếp loại giáo viên;
- Cung cấp thông tin cho việc xây dựng chương trình đào tạo, bồi
dưỡng đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục;
- Cung cấp những thông tin xác đáng làm cơ sở cho việc xây dựng và
thực hiện các chính sách đối với giáo viên...
1.3.5. Nội dung chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học phổ thông
Tiêu chuẩn 1: Phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống
1. Tiêu chí 1. Phẩm chất chính trị
Yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội; chấp hành đường lối, chủ trương của
Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tham gia các hoạt động chính trị xã hội; thực hiện nghĩa vụ công dân.
2. Tiêu chí 2. Đạo đức nghề nghiệp
Yêu nghề, gắn bó với nghề dạy học; chấp hành Luật Giáo dục, điều lệ,