Đề tài Cơ sở pháp lý cho việc giao kết và thực tiễn thực hiện hợp đồng bảo hiểm thân tàu của các công ty hàng hải Việt Nam - Pdf 31

TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG
KHOA KINH TẾ NGOẠI THƢƠNG
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ NGOẠI THƢƠNG

------------------

ơ

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
CƠ SỞ PHÁP LÝ CHO VIỆC GIAO KẾT VÀ THỰC TIỄN
THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM THÂN TÀU
CỦA CÁC CÔNG TY HÀNG HẢI VIỆT NAM

Giáo viên hướng dẫn : Th.s. Hồ Thuý Ngọc
Sinh viên thực hiện

: Phan Thị Thu Trang

Lớp

: A5 - K 41B- KTNT

HÀ NỘI - 11/2006


KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP K41

MỤC LỤC
Trang
Danh mục bảng ............................................................................................4

2.2. Thực hiện hợp đồng bảo hiểm thân tàu ..................................................24
3. Cơ sở pháp lý cho việc giao kết và thực hiện hợp đồng bảo hiểm thân tàu
3.1. Các nguồn luật điều chỉnh hợp đồng bảo hiểm thân tàu. ........................32
3..1.1. Các điều ước quốc tế chi phối bảo hiểm thân tàu .............................32
3.1..2. Luật quốc gia. ....................................................................................35
3.1.3. Tập quán hàng hải. .............................................................................37
Chương II
THỰC TRẠNG CƠ SỞ PHÁP LÝ CHO VIỆC GIAO KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP
ĐỒNG BẢO HIỂM THÂN TÀU CỦA CÁC CÔNG TY HÀNG HẢI VIỆT NAM

I. Thực trạng giao kết và thực hiện hợp đồng bảo hiểm thân tàu của các công
ty hàng hải Việt Nam. ................................................................................38
1. Hình thức tham gia bảo hiểm thân tàu chủ yếu của các công ty hàng hải
Việt Nam ....................................................................................................38

2

PHAN THỊ THU TRANG


KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP K41

2. Tình hình giao kết và thực hiện hợp đồng bảo hiểm thân tàu của các công
ty hàng hải Việt Nam..................................................................................39
II. Đánh giá về thực trạng cơ sở pháp lý cho việc giao kết và thực hiện hợp
đồng bảo hiểm thân tàu của các công ty hàng hải Việt Nam. ......................54
1. Thuận lợi ................................................................................................54
2. Khó khăn ................................................................................................57
Chƣơng III
MỘT SỐ KIẾN NGHỊ GÓP PHẦN CẢI THIỆN CƠ SỞ PHÁP LÝ CHO VIỆC GIAO


PHAN THỊ THU TRANG


KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP K41

LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong ngành giao thông vận tải, vận tải biển đóng một vai tró hết sức
quan trọng, nhất là khi quá trình quốc tế hoá về thương mại phát triển
mạnh thì ngành vận tải đường biển càng đóng vai trò then chốt trong việc
chuyên chở và vận chuyển hành khách, hàng hoá từ nước này sang nước
khác, từ châu lục này sang châu lục khác . . .
Không ai có thể phủ nhận lợi ích kinh tế của ngành hàng hải. Hàng
năm ngành này đã trực tiếp hay gián tiếp tạo ra nguồn lợi nhuận khổng lồ
cho nền kinh tế của các quốc gia nói riêng và nền kinh tế thế giới nói
chung, lợi nhuận mà ngành hàng hải đem lại chiếm tỷ trọng lớn trong tổng
thu nhập quốc dân của mỗi quốc gia. Đối với Việt Nam, ngành hàng hải có
nhiệm vụ là tổ chức thực hiện các hoạt động vận tải, bốc xếp và dịch vụ
liên quan để phục vụ xuất nhập khẩu và lưu thông hàng hóa, góp phần vào
việc tăng khả năng cạnh tranh cũng như mở rộng thị trường cho hoạt động
xuất nhập khẩu của đất nước. Chính vì vây, Việt Nam và các quốc gia trên
thế giới đều hết sức chú trọng vào việc phát triển các đội tàu chuyên chở
hàng hoá bằng đường biển với quy mô lớn và đồng bộ.
Tuy nhiên, do đặc trưng kinh doanh của ngành hàng hải là phạm vi
hoạt động rộng khắp trên các vùng sóng nước và thời gian hành trình trên
biển dài nên phương tiện vận chuyển phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện
thiên nhiên, gánh chịu nhiều rủi ro, hiểm hoạ như: Thiên tai, thời tiết xấu,
bão lốc, sóng thần, cướp biển, các tai nạn hàng hải (Mắc cạn, đâm va, cháy
nổ …). Đặc biệt là đối với ngành hàng hải của Việt Nam, do hệ thống cảng

một số hạn chế trong việc kinh doanh nghiệp vụ bảo hiểm thân tàu của các
công ty bảo hiểm và mong muốn đóng góp phần nhỏ bé của mình vào việc
nghiên cứu các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc giao kết và thực

6

PHAN THỊ THU TRANG


KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP K41

hiện hợp đồng bảo hiểm thân tàu nói riêng và thúc đẩy thị trường bảo hiểm
thân tàu ở Việt Nam phát triển nói chung.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Bảo hiểm hàng hải là một lĩnh vực rộng, bao gồm nhiều nghiệp vụ
như: bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu chuyên chở bằng đường biển, bảo
hiểm thân tàu biển, bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ tàu… Vì vậy
trong khuôn khổ hạn hẹp của luận văn này, em chỉ tập trung vào nghiên
cứu nghiệp vụ bảo hiểm thân tàu. Phạm vi nghiên cứu chỉ giới hạn trong
pháp luật về bảo hiểm của Việt Nam, thị trường bảo hiểm thân tàu ở Việt
Nam, các công ty hàng hải Việt Nam và các doanh nghiệp bảo hiểm Việt
Nam cung cấp dịch vụ bảo hiểm thân tàu.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử: Những vấn đề của
lý luận và thực tiễn đều được xem xét trong điều kiện hoàn cảnh lịch sử cụ
thể.
- Phương pháp thống kê kinh tế: Tổng hợp số liệu, nghiên cứu các số
liệu rút ra từ các kết luận.
- Phương pháp phân tích tổng hợp: Mổ xẻ, bóc tách vấn đề từ đó rút
ra những kết luận mang tính bản chất.


PHAN THỊ THU TRANG


KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP K41

CHƢƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CƠ SỞ PHÁP LÝ CHO VIỆC
GIAO KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM THÂN TÀU
I. Bảo hiểm thân tàu
1. Sự ra đời của bảo hiểm thân tàu.
Từ những năm 3000 trước công nguyên những lái buôn người
Trung Quốc đã nghĩ ra và áp dụng một số nguyên tắc bảo hiểm trong việc
chuyên chở hàng hoá trên sông Trường Giang vốn nổi tiếng nguy hiểm với
đá ngầm và ghềnh thác. Để đối phó với những rủi ro có thể xảy ra họ quyết
định phân tán khả năng xảy ra tổn thất bằng cách tại các đầu thác họ chia
đều các bao hàng của mỗi thuyền cho các thuyền khác. Như vậy khi một
thuyền bị tổn thất cũng có nghĩa là mỗi thuyền chỉ bị tổn thất một bao hàng
thôi.
Từ thế kỷ 13 bảo hiểm hàng hải đã trở thành một yếu tố không thể
thiếu trong đời sống buôn bán ở các cảng thuộc Địa Trung Hải. Bảo hiểm
tàu biển đã xuất hiện ở Anh và Châu Âu từ thế kỷ 16. Phương thức bảo
hiểm thời đó là các chủ tàu hoặc các thương nhân để được bảo hiểm phải
chuẩn bị một bản khai chi tiết về các rủi ro tài chính của chuyến đi, bên
dưới bản khai này “Các nhà buôn trung thực” hoặc các chủ ngân hàng
muốn chia sẻ rủi ro sẽ ghi số tiền mà họ phải chịu trách nhiệm và ký tên.
Do đó bảo hiểm hàng hải là nguồn gốc của thuật ngữ được sử dụng:
“Người bảo hiểm” (Underwriter) và “Bảo hiểm” (Underwriting).
Bảo hiểm thân tàu chỉ thực sự hình thành và phát triển thành một
nghiệp vụ kinh doanh từ cuối thế kỷ 17, bắt nguồn từ quán cà phê của
người thuyền trưởng giàu kinh nghiệm tên Eward Lloyd ở phố Tower

hàng hải. Như vậy từ cuối thế kỷ 17, các thể lệ và luật lệ về bảo hiểm tàu
biển đã ra đời. Từ năm 1881, các điều khoản đã trở thành tiêu chuẩn cho
các đơn vị bảo hiểm thân tàu (Hull Policies) và đã được tập hợp thành một
bộ điều khoản để dùng cho các đơn bảo hiểm thân tàu và máy tàu. Sau đó
Hiệp hội những người bảo hiểm London ấn hành gọi là ITC hay điều
khoản bảo hiểm thời hạn thân tàu (Institute Time Clauses). Qua nhiều lần
chính lý, bổ sung như ITC 01/10/1983 và điềù khoản bảo hiểm thân tàu
mới nhất là ITC 2001. Dù việc sử dụng các điều khoản này không có tính
chất bắt buộc song việc chấp hành nó đã trở thành hiển nhiên vì ITC đã trở

10

PHAN THỊ THU TRANG


KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP K41

thành cơ sở cho các điều khoản bảo hiểm thân tàu trên toàn thế giới. Như
vậy, bảo hiểm thân tàu phần nào đảm bảo cho ngành vận tải biển tái sản
xuất mở rộng và kinh doanh tàu biển.
Ở Việt nam, bảo hiểm thân tàu là một trong các nghiệp vụ đầu tiên
khi Tổng công ty bảo hiểm Việt Nam (BAOVIET) được thành lập vào năm
1965. Năm 1975 sau khi giải phóng miền Nam thống nhất đất nước,
BAOVIET mở rộng hệ thống chi nhánh vào các tỉnh phía nam và phát triển
nhất là công ty bảo hiểm thành phố Hồ chí Minh (BAOMINH), trên nền
tảng của công ty bảo hiểm VAR- Một công ty bảo hiểm hàng hải hàng đầu
hoạt động trước giải phóng miền Nam: thành lập (tháng11 năm 1994)
BAOMINH tiếp tục phát triển nghiệp vụ bảo hiểm tàu biển, pha sông, tàu
sông và tàu cá. Năm 1990, với sự ra đời của Bộ luật Hàng hải, nhà lập
pháp đã qui định hẳn một chương riêng (chương 16) dành cho hợp đồng

được chủ hàng trả trước, cũng có thể trả sau. Tuy nhiên, để đảm bảo chắc
chắn chủ tàu sẽ được khoản cước này thì chủ tàu phải mua bảo hiểm trước.
 Các chi phí quản lý, trị giá gia tăng.
3. Các hình thức bảo hiểm thân tàu:
Bảo hiểm thân tàu thường được tiến hành theo các hình thức sau đây:
- Bảo hiểm theo thời hạn thân tàu (Hull Time Insurance)
Bảo hiểm thời hạn thân tàu là bảo hiểm thân tàu trong một thời gian
nhất định. Loại hình bảo hiểm này thường áp dụng cho hầu hết các loại tàu.
Thời hạn bảo hiểm theo hình thức này là 12 tháng hay ít hơn và phải được
ghi rõ trong hợp đồng bảo hiểm. Thời điểm bắt đầu và kết thúc hiệu lực của
bảo hiểm cũng cần phải được cụ thể. Chẳng hạn, ở Anh thường ghi: “12
months from 1 September 19… to 31 August 19… both days inclusive”

12

PHAN THỊ THU TRANG


KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP K41

(B.D.I). Hình thức bảo hiểm này thường được bảo hiểm theo các điều kiện
sau đây:
 Điều kiện bảo hiểm thân tàu “mọi rủi ro” (Institute Time Clauses
(Hull) –“All Risks” );
 Điều kiện miễn bồi thường tổn thất riêng (Institute Time Clauses FPA
absolutely: ITC – FPA abs.);
 Điều kiện miễn bồi thường hư hỏng (Institute Time Clauses F.O.D.
abs.).
Hình thức bảo hiểm theo thời hạn thường được áp dụng cho các loại tàu
khác nhau: Tàu buôn (thường từ 100 GRT trở lên), tàu đánh cá, tàu dưới

(2) Điều kiện bảo hiểm miễn tổn thất riêng theo thời hạn (thân tàu)
(Institute Time Clauses – F.P.A. absolutely);
(3) Điều kiện bảo hiểm theo thời hạn (thân tàu) miễn tổn thất bộ phận
(Institute Time Clauses – FOD absolutely);
(4) Điều kiện bảo hiểm “mọi rủi ro” theo chuyến (thân tàu) (Institute
Voyage Clauses (IVC) “All Risks”);
(5) Điều kiện bảo hiểm miễn tổn thất riêng (Institute Voyage Clauses F.P.A. absolutely);
(6) Điều kiện bảo hiểm tổn thất toàn bộ (Institute Standard T.L.O.
Clause) (thường dùng cho tàu nhỏ theo hình thức thời hạn và chuyến).
Các điều kiện bảo hiểm miễn tổn thất bộ phận (FOD) và miễn tổn thất
riêng (FPA), hiện ít được sử dụng.

14

PHAN THỊ THU TRANG


KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP K41

- Các điều kiện bảo hiểm các rủi ro tại cảng
(1)

Institute Time Clauses Hulls: Port Risks (20/7/87): bảo hiểm

những rủi ro nằm tại cảng, thường dùng cho tàu nằm xó (laid up ship);
(2)

Institute Clauses for Builders’ Risks (1/6/88): bảo hiểm rủi ro

của nhà đóng tàu, thường bảo hiểm các rủi ro như: cháy, sang thần, đắm khi

II. HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM THÂN TÀU

1. Khái niệm về hợp đồng bảo hiểm thân tàu.
1.1. Khái niệm và phân loại hợp đồng bảo hiểm thân tàu
Xuất phát từ ý thức trách nhiệm nhằm bảo toàn tài sản để đảm bảo
cho việc kinh doanh và sự phát triển cũng như yên tâm về tài chính khi
có bất kỳ rủi ro gì xảy ra, việc mua bảo hiểm đối với những công ty vận
tải biển có trọng tải lớn, tuyến hoạt động rộng, những người bán và người
mua phải đi thuê tàu để chuyên chở hàng hoá là một yêu cầu bức thiết, cho
dù bảo hiểm là hoàn toàn từ nguyện. Hợp đồng bảo hiểm thân tàu là căn cứ
pháp lý quan trọng để xác định quan hệ giao dịch giữa các bên.
Hợp đồng bảo hiểm thân tàu là một văn bản trong đó người bảo hiểm
cam kết cho người được bảo hiểm những mất mát, thiệt hại của đối tượng
bảo hiểm do một rủi ro được bảo hiểm gây nên còn người được bảo hiểm
cam kết trả phí bảo hiểm.
Hợp đồng bảo hiểm thân tàu (hợp đồng bảo hiểm) có thể được ký kết
theo hai loại: Hợp đồng bảo hiểm chuyến thân tàu và hợp đồng bảo hiểm
thời hạn thân tàu
 Hợp đồng bảo hiểm chuyến thân tàu: Khi một hợp đồng bảo hiểm
thân tàu có bao gồm thuật ngữ “tại và từ” hoặc từ một địa điểm này đến địa
điểm khác thì gọi là hợp đồng bảo hiểm chuyến.

16

PHAN THỊ THU TRANG


KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP K41

 Hợp đồng bảo hiểm thời hạn thân tàu: Nếu một hợp đồng bảo hiểm

- Phần I: Nguyên tắc chung. Trong phần này các bên chủ thể của
hợp đồng sẽ đề cập đến những nguyên tắc chung nhất về thoả thuận giữa
hai bên, về đối tượng bảo hiểm…
- Phần II: Luật điều khoản, điều kiện chi phối hợp đồng. Trong
phần này thường đề cập đến luật chi phối hợp đồng,
- Phần III: Thủ tục bảo hiểm. Phần này của hợp đồng đề cập đến
những nội dung chi tiết về thủ tục của quá trình giao kết và thực hiện hợp
đồng giữa các bên chủ thể như: yêu cầu bảo hiểm, chấp nhận bảo hiểm,
hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm.
- Phần IV: Phí bảo hiểm. Phần này của hợp đồng thường đề cập
đến một số nội dung chủ yếu như: tỷ lệ phí bảo hiểm, loại tiền đóng phí
bảo hiểm, thời hạn thanh toán phí bảo hiểm, phương thức thanh toán phí
bảo hiểm, hoàn phí bảo hiểm …
- Phần V: Thông báo giải quyết khiếu nại. Phần này của hợp đồng
thường bao gồm những nội dung như: thông báo sự cố, thu thập hồ sơ,
khắc phục sự cố, giải quyết bồi thường.
- Phần VI: Trách nhiệm bảo lưu quyền khiếu nại người thứ ba.
Phần này đề cập đến trách nhiệm của người được bảo hiểm trong trường
hợp tổn thất có liên quan đến người thứ ba về việc bảo lưu quyền khiếu
nại cho bên bảo hiểm.

18

PHAN THỊ THU TRANG


KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP K41

- Phần VII: Chế tài bồi thường.
- Phần VIII: Thời hạn khiếu nại.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status