MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU…………………………………………………………………….3
1. Lý do chọn đề tài…………………………………………………………………..3
2. Lịch sử nghiên cứu của vấn đề……………………………………………………..4
3. Phương pháp tiếp cận………………………………………………………………7
4. Phạm vi nghiên cứu………………………………………………………………...8
5. Những đóng góp của đề tài…………………………………………………………8
PHẦN NỘI DUNG…………………………………………………………………...9
CHƢƠNG 1: NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG GIỮA MỸ VÀ CHÂU ÂU TƢ̀
SAU CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ HAI ĐẾN NAY………………………..10
1.1.Bối cảnh quốc tế.......................................................................................................10
1.1.1.Bối cảnh quốc tế Âu – Mỹ trong thời kỳ Chiến tranh lạnh (1945 – 1991)................10
1.1.2.Bối cảnh quốc tế Âu – Mỹ từ sau khi kết thúc Chiến tranh Lạnh đến nay...............14
1.2.Những vấn đề về lý luận văn hóa........................................................................21
1.2.1.Khái niệm văn hóa…………………………………………………………..21
1.2.2.Bản sắc văn hóa……………………………………………………………..23
1.2.3.Khái niệm và mô hình tiếp xúc văn hóa…………………………………….23
1.2.4.Khái niệm tiếp biến văn hóa………………………………………………..26
1.2.5.Toàn cầu hóa………………………………………………………………..31
1.2.6.Hội nhập văn hóa………………………………………………………......33
CHƢƠNG 2: TIẾP XÚC VÀ ẢNH HƢỞNG CỦA VĂN HÓA MỸ ĐẾN CHÂU
ÂU TỪ SAU CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ HAI ĐẾN NAY……………….42
2.1.Bản sắc văn hóa Mỹ.....................................................................................42
2.1.1.Cội nguồn văn hóa Mỹ.................................................................................42
2.1.2.Đặc trưng văn hóa Mỹ………………………………………………………….....48
2.2.Bản sắc văn hóa Châu Âu....................................................................................55
2.2.1.Cội nguồn văn hóa châu Âu………………………………………………………55
1
2.2.2.Đặc trưng văn hóa châu Âu……………………………………………………....63
nổi. Giáo sư sử học của Đại học Texas ở Austin Richard Pells, chuyên gia về văn hoá
và điện ảnh Mỹ thế kỷ XX đã từng trực tiếp bày tỏ sự quan tâm sâu sắc đến ảnh
hưởng của văn hoá đại chúng Mỹ trên thế giới cũng như những ảnh hưởng đang tiếp
diễn của văn hoá nước ngoài đối với Mỹ1. Bản thân ông đã có khá nhiều công trình,
bài viết nghiên cứu so sánh về văn hoá Châu Âu và nước Mỹ rất có giá trị, tiêu biểu
như cuốn: Not Like Us: How Europeans have Loved, Hated, and Transformed
American Culture since World War II (Basic Books, 1997). Ở Châu Âu, việc nghiên
cứu về những tương đồng, khác biệt cũng như những ảnh hưởng văn hoá giữa Châu
Âu và nước Mỹ, đặc biệt là quá trình “Mỹ hoá” (Americanization), cũng rất được
quan tâm bởi nó có liên quan mật thiết đến vị trí và vai trò của Châu Âu trong một thế
giới mà cực Mỹ đang tạm thời thao túng cũng như nó góp phần định hình thêm cho
1
http:// www.rediff.com/movies/2006/sep/04pells.htm, cập nhật ngày 4 tháng 9 năm 2006.
3
chính sách văn hoá của Liên minh Châu Âu…Tuy được quan tâm nghiên cứu rộng rãi
như vậy nhưng vấn đề tiếp xúc, ảnh hưởng văn hoá giữa Châu Âu và Mỹ vẫn chưa
thực sự được thể hiện một cách hệ thống và đầy đủ. Thật khó tìm thấy một công trình,
bài viết nào giúp chúng ta định hình một cách toàn diện, rõ nét về mối duyên nợ văn
hoá Âu - Mỹ. Do vậy, đề tài này mong muốn đem lại một cách nhìn khái quát song
tương đối toàn diện, hệ thống hơn về ảnh hưởng của văn hoá Mỹ đến Châu Âu từ sau
chiến tranh Thế giới thứ hai cho đến nay.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nguồn tài liệu mà đề tài tham khảo và sử dụng là rất rộng lớn, có thể lên đến
hàng ngàn đầu sách và bài viết, cả bằng tiếng Việt và ngoại ngữ, cả của các tác giả
trong nước và tác giả nước ngoài.
Vấn đề văn hóa Âu - Mỹ và sự ảnh hưởng, tác động qua lại lẫn nhau đã được
yếu hướng sự phân tích vào các khía cạnh chủ yếu của văn hóa Mỹ là: (1) Các cội
nguồn của văn hóa Mỹ, trong đó chủ yếu là cội nguồn Châu Âu; (2) Các thành tựu
lớn của văn hóa Mỹ; (3) Hệ giá trị đặc sắc của nền văn hóa Mỹ; (4) Toàn cầu hóa và
các phương thức truyền bá văn hóa Mỹ ra thế giới. Nhìn một cách khái quát, đây là
một công trình được xây dựng theo quan điểm “lịch sử tri thức”.
Đặc biệt, trong công trình nghiên cứu cấp Nhà nước: Ảnh hưởng của văn hóa
Tây Âu, Bắc Mỹ đối với thế giới và Việt Nam trong quá trình toàn cầu hóa của
TSKH. Lương Văn Kế, tác giả đã phân tích các vấn đề quan trọng như: Bản chất của
toàn cầu hóa và quan hệ của nó với các quá trình khu vực hóa, bản địa hóa và quốc tế
hóa; các không gian văn hóa, các nền văn minh, đặc điểm của tiếp xúc văn hóa và
5
tiếp xúc ngôn ngữ; vấn đề liên văn hóa và một nghiên cứu điển hình về liên văn hóa ở
Châu Âu. Tác giả cũng lần lượt phân tích ảnh hưởng của văn hóa Tây Âu, Bắc Mỹ
đối với các khu vực.
Trong cuốn Phác thảo chân dung đời sống văn hoá Đức đương đại của TSKH.
Lương Văn Kế (NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2004), tác giả đã dành hẳn một
chương bàn về khái niệm văn hoá và bản sắc văn hoá nói chung; dành một mục quan
trọng để bàn về bản sắc văn hoá Châu Âu và biểu hiện của nó trong văn hoá Đức.
Công trình đi sâu phân tích đặc điểm của các lĩnh vực chủ yếu của đời sống văn hoá
Đức với tư cách là một nền văn hoá lớn và điển hình của văn hoá Châu Âu.
Trong cuốn Hồ sơ văn hoá Mỹ nhà nghiên cứu Hữu Ngọc là người đầu tiên ở
Việt Nam tiếp cận một cách hệ thống và khá khách quan các hiện tượng văn hoá Mỹ.
Công trình này gợi mở nhiều suy nghĩ trong xã hội và giới nghiên cứu văn hoá về bản
sắc của văn hoá Mỹ và sức mạnh đặc biệt của nó. Còn trong cuốn Liên bang Mỹ Đặc trưng xã hội - văn hoá, tác giả Nguyễn Thái Yên Hương lại tiếp cận theo hướng
mở rộng từ đặc thù thể chế chính trị Mỹ đến đặc thù văn hoá, xem văn hoá Mỹ là sự
cởi trói khỏi các định kiến Châu Âu phù hợp với đặc thù một quốc gia đa chủng hỗn
tạp và luôn luôn sống động. Có quan điểm gần gũi trong cách nhìn nhận về văn hoá
Mỹ là đề tài Đặc trưng văn hoá Mỹ của tác giả Lê Thế Quế (ĐQQG Hà Nội, 2006).
7
4. Phạm vi nghiên cứu
Thứ nhất, khi nói đến văn hóa đây là một định nghĩa rất rộng, trong phạm vi
nghiên cứu của đề tài thì tập trung phân tích và so sánh ảnh hưởng của văn hóa Mỹ
đến Châu Âu trên lĩnh vực: Chính trị và các khía cạnh khác của đời sống văn hóa xã
hội.
Thứ hai, về mặt thời gian, đề tài chỉ đưa vào phạm vi nghiên cứu phạm vi thời
gian từ sau Chiến tranh Thế giới thứ hai đến nay vì thời gian này ảnh hưởng của văn
hóa Mỹ đến các nước Châu Âu là rõ nét nhất.
Thứ ba, về mặt không gian đề tài hạn định lại phạm vi đối tượng để tập trung
phân tích nên đã chọn hai nước tiêu biểu là Đức và Pháp.
Trong các nước Tây Âu, Pháp là một nước tự hào về một truyền thống văn hoá
mạnh mẽ và được thế giới tôn trọng. Đồng thời, so với nhiều quốc gia Tây Âu, Nhà
nước Pháp nắm giữ vai trò mạnh mẽ hơn hết đối với văn hoá trong đời sống đương
đại.
Đối với trường hợp của Đức, ảnh hưởng của văn hoá Mỹ ở Đức là rất khác nhau
giữa các thế hệ, các nhóm người và các vùng khác nhau. Trong khi Tây Đức tiếp
nhận văn hoá Mỹ với một sự cởi mở nhất định thì Đông Đức tỏ ra khá bảo thủ và dè
dặt trong việc tiếp nhận.
Với việc chọn hai nước Đức và Pháp sẽ làm rõ được sự ảnh hưởng của văn hóa
Mỹ đến hai nước này nói riêng và khu vực châu Âu nói chung.
5. Những đóng góp của đề tài
Với nội dung nghiên cứu của đề tài mong muốn đem lại một cách nhìn mới, hệ
thống, đúng đắn về bản chất và tính ưu việt của nền văn hoá Mỹ từ đó thấy được bản
8
sắc và giá trị của văn hoá Mỹ đối với Châu Âu nói chung và thế giới nói riêng. Đây
trị…Từ đây tham vọng làm bá chủ thế giới của Mỹ ngày càng bộc lộ và đây cũng là
cơ sở để Mỹ triển khai nhanh chóng kế hoạch của mình trong một bối cảnh quốc tế và
tương quan so sánh lực lượng hết sức thuận lợi đứng cả về hai phía quan hệ; Mỹ với
2
cập nhật
ngày 6/11/2013.
3
cập ngật ngày 1/4/2011.
10
các nước trong khối đồng minh tư bản chủ nghĩa; Mỹ với Liên Xô và các nước xã hội
chủ nghĩa. Tuy nhiên, sức mạnh và ưu thế của Mỹ không kéo dài được mãi, nó đã bị
giảm sút tương đối từ những năm 60 của thế kỷ XX trở đi, đặc biệt từ những năm 70
khi các nước tư bản phục hồi và vươn lên nhanh chóng, trước hết là Tây Âu và Nhật
Bản.
Hai cường quốc Xô - Mỹ từ quan hệ đồng minh trong Chiến tranh thế giới thứ
hai, sau chiến tranh quan hệ ấy nhanh chóng chuyển thành quan hệ đối đầu. Từ quan
hệ đối đầu giữa hai nước chuyển thành quan hệ đối đầu giữa hai phe - phe xã hội chủ
nghĩa và phe tư bản chủ nghĩa. Tuy nhiên, trong bối cảnh thế giới hai cực, quan hệ
Xô - Mỹ, mặc dù mâu thuẫn, nhưng vẫn phụ thuộc và kiềm chế nhau, đều thực hiện
chiến lược phòng ngự, đều tránh đụng đầu trực tiếp với nhau. Vì thế, về đại cục, hòa
bình thế giới được duy trì trong suốt thời kì Chiến tranh lạnh và cả sau đó.
Một biến chuyển lớn sau Chiến tranh thế giới thứ hai, đó là sự ra đời của hệ
thống xã hội chủ nghĩa. Một loạt các nước Đông Âu, Châu Á và khu vực Mỹ Latin
sau khi hoàn thành cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân, đã tuyên bố đi lên chủ
nghĩa xã hội cùng với Liên Xô hợp thành một hệ thống xã hội chủ nghĩa hùng mạnh.
khác.
Trong những năm 1947 - 1949, Mỹ thi hành “chính sách ngăn chặn” nhằm
ngăn chặn “sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản”, rồi tiến tới tiêu diệt nó. Mỹ cho
rằng, Liên Xô bị suy yếu trong Chiến tranh thế giới thứ hai, kiệt quệ cả về vật chất và
tinh thần, chỉ cần đặt trước Liên Xô một lực lượng mạnh trong vòng 10 - 15 năm,
Liên Xô sẽ tự bị tiêu diệt và sẽ ngăn chặn được chủ nghĩa cộng sản, ngăn chặn được
cập nhật ngày 1/6/2013
4
12
khuynh hướng xâm lược của người Nga. Để thực hiện “chính sách ngăn chặn” chủ
nghĩa cộng sản, Mỹ đã xúc tiến việc chia cắt nước Đức và Triều Tiên.
Sự ra đời của hai khối quân sự lớn nhất toàn cầu do Mỹ và Liên Xô đứng đầu,
đối địch nhau, đều chạy đua vũ trang, trang bị những vũ khí hiện đại để tăng cường
sức mạnh của khối mình, đã làm cho tình hình thế giới càng căng thẳng.
Hai bên tiếp tục chạy đua vũ trang, thi nhau chế những vũ khí và trang thiết bị
hiện đại. Cuộc chạy đua vũ trang lên tới đỉnh cao vào những năm 60 của thế kỷ XX.
Hai bên Xô - Mỹ đã có một kho vũ khí hạt nhân khổng lồ. Theo ước tính của những
nhà quân sự thì chỉ cần phóng một nửa số kho vũ khí hạt nhân của Mỹ hoặc của Liên
Xô, cũng đủ hủy diệt toàn bộ sự sống con người và nền văn minh nhân loại.
Nhưng ngay sau đó, cuộc chạy đua vũ trang giữa Liên Xô và Mỹ chuyển sang
trạng thái hòa hoãn, hợp tác giải trừ quân bị. Động thái này có dấu hiệu từ năm 1969.
Lý do Mỹ đang sa lầy ở Việt Nam, muốn thoát khỏi tình trạng đó, những dấu hiệu sa
sút nền kinh tế; Liên Xô cũng có nhiều khó khăn về kinh tế, đặc biệt là vấn đề mối
quan hệ giữa hai miền của nước Đức, cuộc xung đột biên giới Liên Xô - Trung (từ
tháng 3 đến tháng 6 - 1969). Tình hình đó buộc hai nước Mỹ - Xô phải chuyển sang
hòa hoãn, tìm sự nhân nhượng của nhau.
1.1.2. Bối cảnh quốc tế Âu - Mỹ từ sau kết thúc chiến tranh lạnh đến nay
Từ nửa sau thập niên 80, sau khi M. Goócbachốp lên cầm quyền ở Liên Xô,
quan hệ Xô - Mỹ đã thực sự chuyển từ đối đầu sang đối thoại để giải quyết những vấn
đề trong quan hệ giữa hai nước và quan hệ quốc tế. Quá trình đàm phán cắt giảm vũ
5
/>cập nhật 29/6/2014
6
cập nhật ngày 16/4/2011
14
khí chiến lược tấn công trải qua chặng đường dài đầy khó khăn, cuối cùng cũng đã
đạt được những kết quả đáng ghi nhận, tạo cơ sở quan trọng cho việc kết thúc cuộc
chiến tranh lạnh giữa hai cường quốc lớn nhất thế giới. Ngày 2 - 12 - 1989, tại Manta,
Tổng Bí thư Đảng cộng sản Liên Xô, Goócbachốp và Tổng thống Mỹ G. Bush đã có
cuộc gặp gỡ không chính thức. Trong cuộc gặp này, hai bên đã chính thức tuyên bố
chấm dứt tình trạng chiến tranh lạnh giữa hai nước, đồng thời cũng chấm dứt cuộc
chạy đua vũ trang quyết liệt làm cho tình hình thế giới luôn luôn căng thẳng trong
suốt hơn 40 năm qua.
Trong những năm cuối thập niên 80, đầu thập niên 90, những biến động chính
trị to lớn đã diễn ra ở Liên Xô và Đông Âu. Công cuộc cải tổ ở Liên Xô do
Goócbachốp khởi xướng đã phạm phải những sai lầm nghiêm trọng, gây ra tình trạng
hỗn loạn về chính trị và làm cho nền kinh tế Liên Xô ngày càng trì trệ hơn. Những
nhân tố đó là tiền đề cho sự tan vỡ không thể tránh khỏi của Nhà nước liên bang.
Ngày 21 - 12 - 1991, Liên Xô tuyên bố giải thể, 15 nước Cộng hoà trở thành các quốc
gia độc lập. Ở Đông Âu, từ thập niên 80, các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu cũng
tiến hành chính sách cải cách với những mức độ khác nhau. Công cuộc cải tổ ở Liên
Xô đã tác động tiêu cực đến tình hình kinh tế, chính trị Đông Âu. Trong khi đó, các
sau khi Chiến tranh kết thúc, trật tự thế giới mới đã không thể ra đời ngay sau khi
Liên Xô tan rã. Mặc dù Tổng thống Mỹ G. Bush (cha), năm 1991 đã tuyên bố về một
trật tự thế giới đơn cực do Mỹ chi phối, nhưng thực tế lịch sử đã không diễn ra theo ý
muốn của Mỹ. Liên Xô tan rã nhưng Liên bang Nga vẫn tiếp tục tồn tại với tiềm lực
quân sự kế thừa Liên Xô cũ và không phải là một cường quốc bại trận để chấp nhận
một trật tự thế giới do Mỹ áp đặt. Các trung tâm kinh tế, các cường quốc khu vực như
Tây Âu, Nhật Bản, Trung Quốc… không ngừng lớn mạnh và cố gắng tạo cho mình
một vị thế đáng kể để chia sẻ quyền lực chi phối đời sống chính trị quốc tế. Trong lúc
16
các cường quốc đang nổi lên thì Mỹ vẫn là một siêu cường, một cường quốc vượt trội
và là cường quốc duy nhất có ảnh hưởng ở cấp độ toàn cầu. Nước Mỹ vừa trải qua
một chu kì tăng trưởng dài nhất trong lịch sử nước này (1992 - 2001), với tốc độ tăng
trưởng kinh tế cao (từ 3 đến 4%), chỉ số thất nghiệp thấp, mức lạm phát thấp. Với số
dân chỉ bằng 4,7% dân số thế giới, nhưng nước Mỹ chiếm trên 30% GDP toàn cầu,
với khoảng 10.000 tỉ đôla hàng năm, bằng GDP của tất cả các nước thành viên Liên
minh châu Âu (EU) cộng lại7. Theo đánh giá của các nhà nghiên cứu, sức mạnh tổng
hợp của Mỹ (gồm 7 lĩnh vực: kinh tế, quân sự, khoa học công nghệ, tài nguyên thiên
nhiên, chính trị, xã hội, ảnh hưởng trên trường quốc tế) lớn hơn hai lần Nhật Bản và
hơn bốn lần Trung Quốc. Với sự giải thể Liên bang Xô Viết, Mỹ không còn đối thủ
cạnh tranh và có mưu đồ thiết lập trật tự thế giới một cực. Nhằm đạt được mục tiêu
chiến lược ngăn chặn không cho cường quốc nào, dù là đồng minh hay đối thủ vươn
lên thách thức vai trò siêu cường của mình, Mỹ thực hiện chính sách đối ngoại đơn
phương, chà đạp lên các nguyên tắc của luật pháp quốc tế, coi thường các tổ chức
quốc tế, kể cả Liên Hợp Quốc và chỉ lợi dụng các tổ chức này khi cần thiết vì lợi ích
của Mỹ. Mỹ cho triển khai hệ thống phòng thủ tên lửa chống tên lửa (NMD), rút ra
khỏi hiệp ước ABM, từ chối không phê chuẩn Hiệp ước cấm thử vũ khí hạt nhân…
Chiến lược xây dựng một thế giới đơn cực do Mỹ chi phối được bắt đầu ngay sau
chiến tranh lạnh và được thể hiện bằng những biện pháp cứng rắn, công khai hơn
điểm, thái độ riêng đối với các vấn đề quốc tế. Thực tế cho thấy, điều đó được thể
hiện trong thái độ của các nước đối với các vấn đề quốc tế lớn hiện nay như: vấn đề
chống khủngbố quốc tế, cuộc chiến tranh Apganixtan, chiến tranh Irắc, vai trò của
Liên Hợp Quốc, vấn đề môi trường, vấn đề hạt nhân, nhân quyền… và hàng loạt
những vấn đề khác. Sự tập hợp lực lượng trở nên cơ động, linh hoạt, tuỳ theo từng
vấn đề, từng thời điểm trong quan hệ quốc tế, không phân biệt chế độ chính trị - xã
hội khác nhau, trên cơ sở đảm bảo tốt nhất cho lợi ích dân tộc.
18
Thứ ba là mâu thuẫn về sắc tộc, tôn giáo. Đây là mâu thuẫn đã từng tồn tại từ
lâu đời trong lịch sử nhân loại. Xung đột sắc tộc, tôn giáo vốn được biết đến như
những hậu quả của chính sách “chia để trị” của chủ nghĩa thực dân, đồng thời còn bắt
nguồn từ sự bất bình đẳng về kinh tế, chính trị, văn hoá, việc tranh giành ảnh hưởng
quyền lực giữa các nhóm sắc tộc, sự xúi giục, kích động của một số thế lực bên
ngoài… Sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc, trong xu thế dân chủ, đa nguyên, đa đảng,
các cuộc xung đột sắc tộc, tôn giáo bùng nổ, lan rộng và diễn ra ngày càng quyết liệt
ở các khu vực khác nhau trên thế giới. Trong đó, chủ nghĩa Hồi giáo cực đoan có điều
kiện tăng cường hoạt động và trở thành nguồn gốc của chủ nghĩa khủng bố quốc tế
hiện nay. Xu hướng chính của chủ nghĩa Hồi giáo cực đoan là chống Mỹ và các nước
phương Tây thân Mỹ, nhưng lấy thủ đoạn khủng bố làm vũ khí. Chính sách đối ngoại
hiếu chiến của chính quyền Mỹ đã khiến cho Mỹ trở thành đối tượng của chủ nghĩa
khủng bố ở khắp mọi nơi trên thế giới. Khủng bố quốc tế có tác động mạnh mẽ đến
quan hệ quốc tế, gây bất ổn định trong nội bộ quốc gia, đồng thời tác động đến hoà
bình, an ninh khu vực nói riêng và trên thế giới nói chung. Tình hình sẽ trở nên đặc
biệt phức tạp khi khủng bố và chống khủng bố trở thành công cụ của nhà nước này
chống lại nhà nước khác, làm căng thẳng quan hệ quốc tế.
Thứ tư là mâu thuẫn về hệ tư tưởng. Đã hơn 10 năm trôi qua sau khi chiến
tranh lạnh kết thúc. Liên Xô tan rã, nhưng mâu thuẫn về ý thức hệ không vì thế mà
mất đi. Trên bình diện quốc tế, các nước tư bản chủ nghĩa đứng đầu là Mỹ vẫn chưa
Nhìn chung có thể thấy, các mâu thuẫn cơ bản của thời đại vẫn còn tồn tại,
song sự vận động của chúng có những biểu hiện mới, không giống như thời kỳ chiến
tranh lạnh. Điều đó có tác động quyết định đến chiều hướng phát triển của quan hệ
quốc tế sau chiến tranh lạnh.
8
cập nhật
ngày 27/05/2011
20
1.2. Những vấn đề lý luận về văn hóa
1.2.1. Khái niệm văn hoá
Chúng ta không thể bỏ qua khái niệm “văn hoá” trước khi đề cập đến văn hoá
Mỹ ảnh hưởng đến các nước châu Âu. Từ “văn hoá” là một trong các từ ngữ được
dùng rộng rãi nhất không chỉ trong các môn khoa học tinh thần, trong hoạt động văn
hoá và du lịch, mà còn cả trong đời thường của mọi dân tộc.
Vậy văn hoá là gì? Đường lối văn hoá của Đảng Cộng sản Việt Nam xác định
“Văn hoá vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển”. Nhưng đó là nói trên
khía cạnh chức năng văn hoá9.
Nhìn lại các định nghĩa về văn hoá, thấy có hai cách hiểu: cách hiểu thứ nhất
dựa vào các đặc trưng dân gian, chủ yếu chỉ các tập quán của một dân tộc, bộ tộc hay
một nhóm người và có thể là của một tập thể bất kỳ; cách hiểu thứ hai hướng đến sự
đối lập giữa giới tự nhiên và văn hoá.
Trong nghiên cứu văn hoá , các nhà nghiên cứu đã trải qua mấy thế kỷ tranh
luận mới đến được ý tưởng xem văn hoá như một hình thức duy nhất đúng và ở trình
độ phát triển cao nhất. Ở đây có một sự thống nhất tương đối giữa các nhà khoa học.
Trong đó công trình Primitive Cultrure (Văn hoá nguyên thuỷ) của E. B. Tylor xuất
bản năm 1871 được xem là viên đá tảng của dân tộc học hiện đại10. Theo Tylor thì
trừu tượng hoá và sản phẩm của hành vi của con người.
Định nghĩa văn hoá này có ngoại diên đủ rộng để bao chứa các loại yếu tố của
văn hoá; có nội hàm đủ sâu để chỉ thừa nhận những tinh hoá có giá trị của một xã hội.
Văn hoá có đặc tính là sự kết tinh, sự đọng lại của lịch sử. Chừng nào một yếu tố
chưa trở thành truyền thống, chưa trở thành chuẩn mực và giá trị của số đông, thì yếu
tố đó chưa thể coi là văn hoá đích thực. Trong quan niệm về văn hoá, cần đặc biệt
nhận thức đúng tầm quan trọng của hệ giá trị, của cách thức tư duy và hành động của
12
Dẫn theo W. Bisang et al. (ed): Văn hoá Ngôn ngữ, Tiếp xúc (tiếng Đức), Wuerzburg 2004, tr38.
“Culture is product; is historical; includes ideas patterns and values; is selective; is learned; is
based upon symbols; and is an abstraction from behavior and the products of behavior.” Trong:
Kroeber, A./Kluckhohn, C.K.M.: Culture: a critical review of concepts and definitions. Papers of
Peabody Museum of American Archaeology and Ethnology, Havard University, 47.12 Cambridge,
Mass. 1952. Dẫn theo W. Bisang trong: Sđd
13
22
con người, vì đó là cái gốc của mọi biểu tượng, mọi thành công hay thất bại, văn
minh hay lạc hậu của một nền văn hoá.
1.2.2. Bản sắc văn hoá
Theo cách hiểu tâm lý - xã hội học thì bản sắc thường có hai cách định nghĩa:
(1) Bản sắc là toàn bộ các đặc trưng có thể giúp phân biệt một cá thể này với mọi
cá thể khác. Định nghĩa này cho phép người ta đồng nhất một cách rõ rệt các sự
vật theo cách nhìn tâm thần học.
(2) Bản sắc là toàn bộ các đặc trưng làm nên một cá nhân và phân biệt giữa bản
sắc – Tôi (những đặc trưng duy nhất) và bản sắc – Ta (những đặc trưng cùng
cụ thể.
Động cơ nảy sinh tiếp xúc văn khá đa dạng:
- Động cơ kinh tế: Trao đổi hàng hoá nhằm cải thiện đời sống; khai thác các
nguồn nguyên liệu mà mình không có (khoáng sản, lầm thổ sản, vật liệu xây
dựng); tăng cường lực lượng lao động bằng cách thuê công nhân nước
ngoài, hoặc để tăng dân số; khắc phục tình trạng nguy cấp do thiên tại, địch
hoạ, biến đổi thời tiết.
14
W Bisang: Kultur and Sprache aus der Perspektive des Kontaktes (Văn hoá và ngôn ngữ theo
cách nhìn tiếp xúc) trong: W. Bisang/ T. Bierscheck/D. Kreikenbom/U. Verhoeven (ed): Văn hoá,
Ngôn ngữ, Tiếp xúc (tiếng Đức) Wuerzburg 2004 tr.2
24
- Động cơ chính trị: Gìn giữ hoà bình; tìm kiếm uy quyền, bành trướng thế
lực và sự can thiệp bằng các cuộc xâm chiếm lãnh thổ, cấu kết với các thế
lực bên ngoài nhằm thay đổi cán cân trong tranh giành quyền lực.
- Động cơ tôn giáo và hệ tư tưởng: Du nhập tôn giáo, tín ngưỡng, lễ hội tôn
giáo mới; hoặc học tập các hệ tư tưởng cách mạng hay cải cách, hoặc các
trào lưu chính trị thời thượng.
- Động cơ cá nhân, hiểu biết và nhu cầu tâm lý – xã hội: Do hôn nhân, hiếu
kỳ, cô đơn, nhu cầu cảm thông và chia sẻ (ví dụ trao đổi các trang blog nhật
ký cá nhân trên Internet ngày nay), học tập nâng cao trí thức (vd.y dược
học, toán học, địa lý học).
- Do lãnh thổ liền kề nhau15.
Biểu hiện dễ thấy nhất về kết quả tiếp xúc văn hóa là trên lĩnh vực ngôn ngữ
(ví dụ từ/ thuật ngữ ngoại lai, từ/thuật ngữ vay mượn), trang phục, tín ngưỡng – tôn