Cải cách kinh tế - xã hội của Nhật Bản sau chiến tranh thế giới thứ hai và vai trò của Mỹ - Pdf 25

class="bi x0 y0 w1 h1"

- 1 -

MỤC LỤCDANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 3
DANH MỤC CÁC BẢNG 4
MỞ ĐẦU 5
CHƯƠNG 1. THỰC TRẠNG KINH TẾ - XÃ HỘI NHẬT BẢN SAU
CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ HAI VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI CẢI
CÁCH 12
1.1. Sự CầN THIếT PHảI THAY ĐỔI MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN 12
1.2. NHỮNG HẬU QUẢ NẶNG NỀ DO CHIẾN TRANH 17
1.2.1. SỰ KIỆT QUỆ CỦA NỀN KINH TẾ 18
1.2.2. NỀN KINH TẾ CỰC KỲ KHÓ KHĂN 19
1.3. NHU CẦU TÁI LẬP LẠI TRẠNG THÁI BÌNH THƯỜNG CỦA XÃ
HỘI VÀ NỀN KINH TẾ 28
1.4. SỰ CHIẾM ĐÓNG VÀ CHỈ ĐẠO CỦA QUÂN ĐỒNG MINH,
TRƯỚC HẾT LÀ MỸ 29
CHƯƠNG 2. MỘT SỐ CẢI CÁCH KINH TẾ - XÃ HỘI CĂN BẢN CỦA
NHẬT BẢN SAU CHIẾN TRANH 31
2.1. THỦ TIÊU TÌNH TRẠNG TẬP TRUNG QUÁ MỨC VỀ KINH TẾ
33
2.2. CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT Ở NHẬT BẢN 49
2.2.1. ĐẠO LUẬT VỀ CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT 50
2.2.2. VIỆC THỰC HIỆN VÀ KẾT QUẢ 53
2.2.3. Ý NGHĨA CỦA CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT 58
2.3. CẢI CÁCH (HAY DÂN CHỦ HOÁ) LAO ĐỘNG 61
2.3.1. CÁC ĐẠO LUẬT VỀ LAO ĐỘNG 62

CIE Ban thông tin và giáo dục SCAP
- 4 -

DANH MỤC CÁC BẢNG

Số hiệu bảng Tên bảng Trang
Bảng 1.1: Sức mạnh quân sự của Nhật Bản trong Chiến tranh
thế giới thứ hai
13
Bảng 1.2: Tình hình cung cấp các hàng tiêu dùng trong chiến
tranh
15
Bảng 1.3: Tổng giá trị thiệt hại của Nhật Bản trong Chiến tranh
Thái Bình Dương
20
Bảng 1.4: Chiều cao và cân nặng của trẻ em Nhật Bản trước và
sau Chiến tranh thế giới thứ hai
22
Bảng 1.5: Lạm phát sau chiến tranh dẫn đến chỉ số giá bán
buôn tăng
24
Bảng 1.6: Các khoản mà Nhật Bản phải bồi thường theo yêu
cầu của quân Đồng Minh
25
Bảng 2.1: Số tiền cho vay của 4 zaibatsu lớn nhất Nhật Bản
năm 1944
41
Bảng 2.2: So sánh tỷ lệ số tiền cho vay của 4 ngân hàng vào
năm 1944 và 1958
45

Những thành công của những cải cách quan trọng của Nhật Bản trong
giai đoạn lịch sử này, nhất là những cải cách kinh tế, không chỉ là sản phẩm
của sự sáng tạo và làm việc hết mình của người Nhật, mà còn có sự đóng góp
- 6 -

không nhỏ của Mỹ trong việc thúc ép, khuyến khích và hỗ trợ cho người Nhật
trong tiến trình cải cách này.
Việc học viên lựa chọn chủ đề “Cải cách kinh tế - xã hội của Nhật Bản
sau Chiến tranh thế giới thứ hai và vai trò của Mỹ” làm chủ đề nghiên cứu
cho luận văn cao học của mình, với mục đích, thứ nhất, đây là cách thiết thực
để học viên nâng cao thêm hiểu biết vốn còn hạn hẹp của mình về giai đoạn
phát triển này của Nhật Bản, trong đó, có những cải cách kinh tế - xã hội căn
bản của Nhật Bản; thứ hai, góp thêm một cái nhìn, một đánh giá nữa về
những cải cách kinh tế - xã hội của Nhật Bản trong thời kỳ này cũng như vai
trò của Mỹ trong đó. Đồng thời, là một quốc gia đang phát triển và với mục
tiêu trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020, chắc
chắn Việt Nam rất cần những kinh nghiệm quý báu để phát triển đất nước như
những kinh nghiệm mà Nhật Bản đã từng trải qua. Do vậy, việc nghiên cứu về
những cải cách kinh tế - xã hội Nhật Bản sau Chiến tranh thế giới thứ hai và
vai trò của Mỹ trong đó, sẽ có ý nghĩa thực tiễn không nhỏ đối với một quốc
gia đang tiến hành cải cách và mở cửa như Việt Nam hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài:
Các học giả trên thế giới và Việt Nam đã có rất nhiều các công trình
nghiên cứu, sách, bài báo và tham luận về các cải cách kinh tế - xã hội Nhật
Bản sau Chiến tranh thế giới thứ hai, trong đó tác giả đã tiếp cận được hầu hết
các công trình nghiên cứu đã được liệt kê trong Tài liệu tham khảo ở cuối
Luận văn. Song những công trình sau đây đã được học viên nghiên cứu kỹ và
dựa vào để viết luận văn và đưa ra những đánh giá của mình như:
Cuốn "Chính sách kinh tế Nhật Bản" (Ủy ban khoa học xã hội Việt
Nam, Viện kinh tế Thế giới, Hà Nội, 1988, tập I); Cuốn "Thành công của

- 8 -

kinh tế thế giới, Hà Nội năm 1991, Q1 tập 4); Cuốn “Sự phát triển kinh tế của
Nhật Bản” (Yoshihara Kunio, Nxb. KHXH, Hà Nội, 1991)’; Cuốn “Sogo
Shosha - Đội tiền phong của nền kinh tế Nhật Bản” (Yoshihara Kunio, Ủy
ban khoa học xã hội, Hà Nội, 1993),…
Trong quá trình thu thập và tìm hiểu các tài liệu, đặc biệt là những công
trình trên, về các cải cách kinh tế - xã hội của Nhật Bản sau Chiến tranh thế
giới thứ hai và vai trò của Mỹ, tác giả nhận thấy có một số điểm đáng chú ý
sau:
- Các cải cách kinh tế - xã hội của Nhật Bản sau Chiến tranh thế giới
thứ hai đã được đề cập khá kỹ và toàn diện trong các công trình nghiên cứu
của các học giả nước ngoài, song phần lớn các quan điểm được bày tỏ, dù
không phải là không khách quan, lại là các quan điểm của các học giả nước
ngoài, đứng trên lợi ích của họ, chứ không phải là của người Việt Nam, xuất
phát từ lợi ích của Việt Nam để phân tích.
- Còn các công trình nghiên cứu của các nhà nghiên cứu Việt Nam, lại
chưa thấy có công trình nghiên cứu nào chỉ chuyên sâu về các cải cách kinh tế
- xã hội Nhật Bản trong giai đoạn này, mà thường được phân tích kết hợp với
những cải cách khác (như cải cách chính trị trong tác phẩm của Hoàng Thị
Minh Hoa) hoặc chỉ là một vấn đề trong nhiều vấn đề của Nhật Bản giai đoạn
này (như tác giả Nguyễn Văn Kim, Lê Văn Sang hay Lưu Ngọc Trịnh).
Do đó, cái gọi là điểm mới hay đúng hơn là điểm khác (chứ không dám
nói là phát triển) của Luận văn này là trình bày các cải cách kinh tế - xã hội
này một cách có hệ thống hơn, tập trung hơn theo quan điểm của một người
đứng cách xa các cải cách này tới 60 - 70 năm để đánh giá (cả bản thân các
cải cách kinh tế - xã hội lẫn vai trò của Mỹ) và với mục đích rút ra một số bài
học kinh nghiệm (cho tiến trình cải cách và mở cửa của Việt Nam hiện nay).
- 9 -


kê, phân tích, diễn giải và so sánh, Luận văn sẽ cố gắng xác định, trình bày,
kiến giải một cách rõ ràng các vấn đề mà chủ đề nghiên cứu đòi hỏi phải giải
quyết.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để đạt được mục đích nghiên cứu như trên đề tài có những nhiệm vụ
sau:
- Trình bày bối cảnh trong và ngoài nước Nhật Bản ngay sau Chiến
tranh thế giới thứ hai như là cơ sở và nguyên nhân dẫn đến những cải cách
kinh tế - xã hội thời gian đó.
- Trình bày và phân tích những cải cách kinh tế - xã hội căn bản nhất
của Nhật Bản ngay sau Chiến tranh thế giới thứ hai; Chỉ rõ và phân tích vai
trò của Mỹ trong việc tiến hành các cải cách này của Nhật Bản trong những
năm ngay sau Chiến tranh thế giới thứ hai.
- Đưa ra một số đánh giá và rút ra một số bài học kinh nghiệm từ tiến
trình cải cách kinh tế - xã hội này của Nhật Bản.
7. Kết cấu của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, tài liệu tham khảo, kết cấu luận
văn gồm 3 chương:
Chương 1: Thực trạng kinh tế - xã hội Nhật Bản ngay sau Chiến
tranh thế giới thứ hai và sự cần thiết phải cải cách.
Chương 2: Một số cải cách kinh tế - xã hội căn bản của Nhật Bản
sau Chiến tranh thế giới thứ hai.
- 11 -

Chương 3: Vai trò của Mỹ và một số đánh giá, bài học rút ra từ
tiến trình cải cách kinh tế - xã hội của Nhật Bản sau chiến tranh. - 12 -


một khu vực sản xuất rộng lớn phục vụ các mục đích quân sự. Trong phạm vi
nước Nhật, đã có sự cải tổ lớn đối với các nghành công nghiệp dân sự, bắt đầu
bằng việc nghành công nghiệp dệt và các doanh nghiệp nhỏ. Gần như tất cả
các công ty thuộc các ngành dân sự này đều bị đóng cửa và tuyệt đại đa số
nhà máy và thiết bị nghành dệt đã được biến thành sắt vụn để sản xuất thép.
Các nhà máy được chuyển sang sản xuất đạn dược và quân trang, quân dụng.
Các công ty và tất cả các nghành công nghiệp đều bị đóng cửa và nhân viên
của họ đều bị cưỡng bức vào làm trong các cơ sở sản xuất đạn dược. Thép
thiếu nhiều đến nỗi, ngay cả các lan can cầu và đường ray xe điện đều bị dỡ
bỏ .
Các nhà máy sản xuất máy bay đã được mở rộng trên quy mô lớn vào
giữa cuộc chiến tranh, chúng đã huy động rất nhiều thiết bị và nhân viên
nhằm hoàn thành kế hoạch đề ra. Bảng 1.1 cho chúng ta cùng thấy một số dữ
liệu về sức mạnh quân sự của Nhật Bản trong Chiến tranh thế giới thứ hai.
Trong thực tế, chỉ tồn tại một khu vực sản xuất tối thiểu phục vụ đời
sống nhân dân và khu vực này cũng đã bị siết lại tới mức cùng kiệt. Trong
trường hợp các hàng hóa công nghiệp khác, như thực phẩm, dệt, bột giấy và
hóa chất, tất cả đều giảm mạnh vào đầu những năm 1940. Toàn bộ ngoại tệ
mà các công ty kinh doanh có được đều phải nộp lại cho nhà nước để nhập
khẩu nguyên nhiên vật liệu phục vụ sản xuất quân sự và việc sử dụng ngoại tệ
của họ cũng bị kiểm soát gắt gao. Chẳng hạn, nếu các công ty muốn nhập
khẩu những nguyên liệu vật tư cần thiết cho sản xuất, đều phải xin phép chính
phủ cho từng trường hợp một.
- 14 -

Bảng 1.1: Sức mạnh quân sự của Nhật Bản trong Chiến tranh thế giới thứ hai
Danh mục 1941 1942 1943 1944 1945
Máy bay (Chiếc) 6.174 10.185 20.028 26.507 5.823
Động cơ (chiếc) 13.022 18.498 35.368 40.274 6.509
Tàu chiến (tàu) 48 59 77 248 101

yếu hàng ngày cực kỳ thiếu thốn, hầu như tất cả các mặt hàng đều được cung
cấp theo khẩu phần và chẳng có gì để ăn nên mọi người làm việc trong các
nhà máy quân sự đã phải bỏ ra ngoài tới các vùng nông thôn để tìm mua
lương thực. Các tàu hỏa chật ních người với những bao tải trên lưng. Vì số
lượng lương thực cung cấp không đủ sống nên buôn bán chợ đen và tình trạng
hai giá tồn tại dai dẳng. Bỏ ra ngoài và mua lương thực ở các vùng nông thôn
là vi phạm luật cung cấp lương thực, thực phẩm nhưng mọi người đều làm
điều đó một cách công khai. Chất lượng cuộc sống giảm mạnh và liên tục.
- 16 -

Bảng 1.2 sau đây sẽ cho chúng ta thấy mức độ sẵn có của các mặt hàng tiêu
dùng hàng ngày vào tháng 7 năm 1945, bắt đầu bằng các thực phẩm và lấy
năm 1941 là năm tình hình cung cấp đã trở nên căng thẳng, làm năm cơ sở là
100.
Bảng 1.2: Tình hình cung cấp các hàng tiêu dùng trong chiến tranh
Danh
mục
Năm 1941 Tháng 7-1945 Năm 1937 Tháng 7-1945

Gạo
11,74 triệu
kg
9,42 triệu kg
Hàng dệt bông
200
2%
Thịt 100 20% Hàng dệt len 100 1%
Cá 100 30%
Giày ống của
công nhân 100

cùng to lớn cho một tham vọng xâm lược ngông cuồng đã khiến người dân
Nhật Bản nói chung và giới lãnh đạo Nhật Bản nói riêng nhận thức rõ một
điều là: Không thể phát triển đất nước bằng các bóc lột, cưỡng bức và kìm
kẹp người dân nước mình và xâm lược, đàn áp người dân nước khác bằng vũ
lực, mà phải bằng các biện pháp phát triển kinh tế trong một môi trường dân
chủ và hoà bình, khiến mọi người tự nguyện đem mọi nguồn lực sẵn có của
mình phục vụ đất nước.
1.2. Những hậu quả nặng nề do chiến tranh
Sự thất bại và nhục nhã của nước Nhật càng lớn hơn, vì sau khi tiếp
nhận “Tuyên cáo Posdam” và đầu hàng quân Đồng minh không điều kiện,
nước Nhật còn bị quân Đồng minh và thực tế là quân Mỹ chiếm đóng.
Đồng thời, Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, đã để lại cho người
Nhật một đất nước bị tàn phá nặng nề và đổ nát điêu tàn, khiến nền kinh tế
- 18 -

hầu như bị ngừng trệ, mức sản xuất công nông nghiệp bị tụt giảm chỉ bằng
một phần mức trước chiến tranh, cuộc sống người dân cực kỳ khó khăn.
1.2.1. Sự kiệt quệ của nền kinh tế
Những thiệt hại to lớn về người và của đã làm cho nước Nhật kiệt quệ.
Nhật Bản chẳng những mất hết thuộc địa (diện tích tương đương 44% toàn bộ
diện tích nước Nhật) mà nền kinh tế cũng lâm vào tình trạng bị phá hủy hoàn
tòan.[19,
tr. 61]
Nếu tính cả những người chết trận hoặc do chết vì bệnh tật ở ngoài mặt
trận thì con số đó lên tới khoảng 1,14 triệu người trong lục quân, 410.000
người trong hải quân. Các cuộc oanh tạc máy bay của quân Đồng minh còn
làm cho 300.000 người chết, đưa tổng số người bị chết, bị thương và bị mất
tích trong chiến tranh lên tới 2,53 triệu người. Nếu tính cả số lượng người bị
chết, bị thương và mất tích ở nước ngoài thì con số này lên tới 3 triệu người.


thép chỉ còn 2,5 triệu tấn. Sản lượng công nghiệp bị đẩy lùi về mức những
năm 1926 - 1930. Theo ước tính, Nhật Bản bị mất 1/4 số tài sản quốc gia có
khả năng sản xuất trong chiến tranh. Bảng 1.3 là một số thống kê về những
thiệt hại của Nhật Bản trong cuộc chiến tranh Thái Bình Dương.
1.2.2. Nền kinh tế cực kỳ khó khăn

Sau chiến tranh, Nhật Bản còn phải đương đầu với tình trạng bao vây,
cấm vận từ bên ngoài, khiến cho việc nhập khẩu nguyên liệu từ bên ngoài bị
gián đoạn. Như chúng ta biết, là một đảo quốc gồm 3.900 hòn đảo lớn nhỏ với
diện tích là 378.000km
2
và chỉ có 30% là diện tích trồng trọt, nguồn tài
- 20 -

nguyên khoáng sản của Nhật Bản hầu như không có gì mà chủ yếu phải nhập
khẩu. Do vậy, nhiều nhà phân tích cho rằng, việc gián đoạn nhập khẩu nguyên
liệu đã gây nhiều thiệt hại cho nền kinh tế hơn so với việc vốn cố định bị phá
hủy. Kim ngạch nhập khẩu năm 1946 chỉ còn bằng 1/8 năm 1935. Cùng với
việc bị phong tỏa các hàng nhập khẩu, sản xuất than trong nước cũng bị giảm
nghiêm trọng do các thợ mỏ người Trung Quốc và Nam Triều Tiên, ngoài
phần lớn lượng người đã bị điều vào quân dịch trong chiến tranh, đã bỏ về
nước. Số thợ mỏ, do vậy, đã giảm đột ngột, tới 40%, từ 460.000 vào năm
1944 xuống còn 270.000 năm 1945. Quá trình này cũng gây nên tình trạng
hỗn loạn như đình công thường xuyên và thậm chí bạo loạn ở rất nhiều mỏ
than.

- 21 -

Bảng 1.3: Tổng giá trị thiệt hại của Nhật Bản trong Chiến tranh Thái Bình Dương
(Đơn vị tính: tỷ yên)


Nguồn: Ban ổn định kinh tế, Taiheiyo Senso ni Yoru Wagakuni no Higai Sogo Hokokusho (Báo cáo toàn diện
về sự thiệt hại của nước ta trong cuộc Chiến tranh Thái Bình Dương), 1949.[44, tr. 36]
- 23 -

Trong thời gian này, do chiến tranh kết thúc và sản xuất bị đình đốn,
nên số người mất việc làm tăng mạnh và nguồn cung việc làm giảm sút, dẫn
đến tình trạng thất nghiệp lan tràn và hậu quả là nguy cơ rối loạn xã hội luôn
rình rập xảy ra rộng khắp trên cả nước. Cụ thể, trong thời kỳ này có 7,61 triệu
binh sĩ của các lực lượng dự bị giải thể, 4 triệu người phục vụ cho các cơ quan
và các nhà máy quân sự hoặc các hoạt động quân sự bị thất nghiệp do việc
đình sản xuất, trong đó có 750.000 phụ nữ và khoảng 1,5 triệu người hồi
hương từ các thuộc địa hải ngoại trở về. Tổng số những người không có việc
làm lên tới 13,1 triệu người. Nếu trừ những người sau này có thể quay trở lại
việc cũ, và nông dân có thể quay về nông thôn làm ruộng, thì con số này cũng
lên tới 10 triệu người.[44, tr. 45]. Rất nhiều người không nhà và những địa
điểm như công viên, cầu đường, các nơi công cộng biến thành nơi tá túc của
những người lính giải ngũ từ Đài Loan, Triều Tiên, Mãn Châu hoặc từ các
nước châu Á khác. Ở Nhật Bản, thời gian này, mặc dù người ăn mày rất ít và
các cảnh cướp bóc hầu như rất hiếm hoi, nhưng “chợ đen” thì mọc lên nhiều
vô kể, đặc biệt nhiều ở những nơi như thủ đô Tokyo và một số thành phố lớn
khác. Nhiều người thất nghiệp đã tìm được việc làm ở chợ đen, buôn bán
vặt… Nạn thất nghiệp, cảnh không nhà ở và chợ đen làm nảy sinh ra nhiều
căn bệnh xã hội khác như: bệnh tật, mại dâm, Đó là những vấn đề nan giải
xảy ra với tất cả các nước sau chiến tranh và không ngoại trừ đối với Nhật
Bản. Tình trạng thiếu năng lượng và lương thực cũng diễn ra trầm trọng.
Các nguồn năng lượng chính là than và thủy điện giảm sút nghiêm
trọng và không đáp ứng nổi nhu cầu. Vào mùa thu năm 1945, ngành than chỉ
cung cấp được 1 triệu tấn/tháng, chỉ đảm bảo được nhu cầu ở mức 1/4 - 1/3
tháng so với mức cung cấp trước chiến tranh. Nguyên nhân chủ yếu của tình


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status