Tiểu Luận Tình hình Nhật Bản sau chiến tranh thế giới thứ hai - Pdf 26

MỞ ĐẦU
Ngày nay nói đến Nhật Bản, có lẽ không mấy ai là không biết đến sự
phát triển kinh tế "thần kỳ" của nước này từ sau chiến tranh thế giới II cho
đến 1973. Bước ra khỏi chiến tranh, nền kinh tế bị tàn phá nặng nề và phải
đầu hàng quân đồng minh không điều kiện trong chiến tranh thế giới thứ hai,
chỉ trong vòng hơn hai thập kỷ, Nhật Bản đã vươn lên thành cường quốc kinh
tế thứ hai trên thế giới chỉ sau Mỹ. Vì vậy, việc nghiên cứu nguyên nhân phát
triển kinh tế nhanh của Nhật Bản luôn còn là đề tài hấp dẫn thu hút các nhà
nghiên cứu trên thế giới. Với lý do trên, việc tìm hiểu nguyên nhân này có ý
nghĩa quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế của mỗi quốc gia trên thế
giới nói chung và khu vực Châu Á - Thái Bình Dương nói riêng. Để tìm hiểu
nguyên nhân phát triển nhanh của nền kinh tế Nhật Bản, trước hết em xin
được trình bày sơ lược tình hình Nhật Bản sau chiến tranh thế giới thứ hai.
***********o0o***********
I. THỰC TRẠNG KINH TẾ NHẬT BẢN NĂM SAU CHIẾN TRANH THẾ GIỚI II:
Tháng 8-1945, khi vừa bại trận, Nhật Bản bị tàn phá nặng nề về mọi mặt.
Theo điều tra của cơ quan ổn định kinh tế sau chiến tranh thì 80% tàu bè, 34%
máy móc trong công nghiệp bị phá huỷ; 21% nhà cửa và tài sản riêng của gia
đình bị thiệt hại, tài sản của nhà nước bị tổn thất 25% so với thời kỳ trước
chiến tranh (1934-36). Tổng thiệt hại về vật chất lên tới 64,3 tỉ yên, bằng2 lần
tổng thu nhập quốc dân năm tài chính 1948 - 1949. Như vậy là toàn bộ của cải
tích luỹ được trong 10 năm (1935-1945) đã bị tiêu huỷ hoàn toàn. Những thiệt
hại về người cũng vô cùng to lớn. Nếu tính cả những người chết, bị thương và
mất tích ở nước ngoài thì con số này lên tới gần 3 triệu
(1)
Những vấn đề kinh tế, xã hội gay cấn nhất của Nhật Bản lúc này là: thất
nghiệp, thiếu nguyên liệu và lương thực, lạm phát. Khoảng 4 triệu người thất
(1)
Lê Văn Sang, Lưu ngọc Trịnh "Nhật bản - Đường đi tới một siêu cường kinh tế " NXB KHXH H Nà ội,
1991 tr84.
1

"Lịch sử Nhật bản" NXB VHTT, 1995 tr227
(2)
Hayashi yujiro - tạp chí Ekonomicsato 15/4/1955.
2
Vào mùa thu 1946, do tình hình chiến tranh lạnh với Liên Xô ngày càng
trở nên sâu sắc, Mỹ chủ trương đẩy nhanh sự phục hồi kinh tế và sử dụng sức
mạnh kinh tế và quân sự của Nhật Bản. Năm 1949, cách mạng Trung Quốc
thắng lợi và sự ra đời của nước cộng hoà nhân dân Trung Hoa dưới sự lãnh
đạo của Đảng cộng sản Trung Quốc, càng thôi thúc Mỹ nhanh chóng biến
Nhật Bản thành một số đối trọng với chủ nghĩa cộng sản, mau chóng xây
dựng Nhật Bản thành chỗ dựa vững chắc của Mỹ ở Đông - Bắc Á.
1946, Mỹ bắt đầu viện trợ lương thực cho Nhật Bản, xem như một
phương tiện ngăn chặn nạn đói đang đe doạ ở nước này. Cuối 1946, tư lệnh
SCAP đã chịu trách nhiệm ngăn chặn bệnh tật ở Nhật và quyết định cho phép
nền kinh tế nước này trở lại mức trước chiến tranh. Sau đó, Mỹ bắt đầu viện
trợ dầu mỏ, quặng sắt, các nguyên liệu khác cần thiết cho công nghiệp Nhật
Bản. Tháng 3/1947, Mỹ tuyên bố sẽ đề nghị giảm số tiền bồi thường chiến
tranh của Nhật xuống còn 1/4 Để giải quyết nạn lạm phát trầm trọng và xây
dựng một nền kinh tế tự do cạnh tranh cho Nhật Bản, tháng 2/1949, chính phủ
Mỹ đã cử Giôdép Đocagiơ, chủ tịch ngân hàng Detroit, người đã soạn thảo đề
án cải cách tiền tệ ở Tây đức trong những năm 1945 - 1946, sang làm cố vấn
kinh tế cho SCAP Đoocgiô đề ra kế hoạch chống lạm phát với quy mô lớn,
Kết quả là kế hoạch này đã thành công trong việc chặn đứng lạm phát, giá cả
trên thị trường tự do và cho đến bắt đầu hạ xuống. Trong thời kỳ áp dụng kế
hoạch Đoocgiô, ngân hàng Nhật Bản đã giảm mức tăng của lượng tiền phát
hành từ 40% /năm xuống còn 30% /năm và kiềm chế mức tăng lương khoảng
10% mỗi tháng xuống còn 4% /năm.
Sự tăng trưởng nhanh của Nhật Bản gắn chặt với những điều kiện quốc
tế thuận lợi. Đây là thời kỳ phát triển nhanh trên toàn thế giới nói chung. Bên
cạnh đó, việc thành lập quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), một cơ chế tiền tệ có tính

phát triển kinh tế của Nhật Bản những năm sau chiến tranh, nhưng để đạt
được sự tăng trưởng nhanh kinh tế làm cho thế giới ngạc nhiên thì những điều
kiện trong nước đóng vai trò quyết định.
(1)
Ymamôtô TaiKeshi, "lịch sử ngoại giao Mĩ sau chiến tranh", tập 6, San seiđo, Tôkyô 1984, tr.113.
4
III. NHỮNG NHÂN TỐ BÊN TRONG:
1. Truyền thống văn hoá, giáo dục, phát triển được kế thừa và phát huy.
Người Nhật trong khi mau chóng tiếp thu nền văn hoá, giáo dục và khoa
học - kỹ thuật tiên tiến của thế giới mà vẫn giữ được bản sắc dân tộc của
mình. Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, Nhật bản đã nhanh chóng thoát
khỏi tình trạng lạc hậu về khoa học kỹ thuật và sử dụng những thành tựu của
cách mạng KHKT để phát triển kinh tế. Chi phí nghiên cứu phát triển ở Nhật
Bản tăng nhanh. Năm 1955 mới đạt 40,1 tỉ Yên (0,84% thu nhập quốc dân)
nhưng đã tăng một cách vững chắc trong những năm tiếp theo, đạt gần 1200 tỉ
Yên (1,96% thu nhập quốc dân). Năm 1955 chỉ có khoảng 1445 phòng thí
nghiệm tham gia nghiên cứu khoa học kỹ thuật, năm 1970 tăng lên gấp 9 lần,
đạt tới 12594 phòng thí nghiệm. Số các nhà khoa học và chuyên gia nghiên
cứu cũng tăng lên đáng kể, từ 133000 người (1955) lên đến 419 nghìn người
(1970)
(1)
. Khi bắt đầu mở cửa, Nhật Bản đã thực hiện khẩu hiệu "học bên
ngoài để biến thành của Nhật" , tìm cách mua những bằng phát minh (tính đến
1968 Nhật đã mua bằng phát minh nước ngoài trị giá 5 tỉ đô la mà nếu tự
nghiên cứu phải chi phí tới 200 tỉ đôla).
Nhờ nhập kỹ thuật và phương pháp sản xuất hiện đại của nước ngoài nên
Nhật bản đã đẩy nhanh tốc độ phát triển hàng loạt những ngành công nghiệp
mới, làm cho cơ cấu công nghiệp thay đổi sâu sắc theo chiều hướng có lợi cho
việc nâng nhanh tốc độ phát triển của nền kinh tế.
Cùng với nó là sự nhanh chóng nâng cao năng xuất lao động xã hội.

nghỉ ngày chủ nhật và giờ làm việc bình thường hàng ngày mới chỉ giảm
xuống 8 giờ. Song đó chỉ là số giờ làm việc theo quy định, người công nhân
Nhật Bản còn "tự nguyện" làm việc cho công ty dưới nhiều hình thức khác
nhau ngoài giờ quy định.
Bên cạnh đó, rất ít người Nhật Bản sử dụng hết ngày nghỉ có lương được
luật lao động đảm bảo, mặc dù số ngày nghỉ này không nhiều, khoảng từ 10
đến 20 ngày một năm tuỳ theo thâm niên công tác.
Người Nhật Bản không chỉ cần cù mà còn tiết kiệm, họ hội tụ được cả
hai đức tính rất cần có này cho sự nghiệp phát triển đất nước.
6
Đầu những năm 60, khi thu nhập theo đầu người của Nhật Bản còn thấp,
người Nhật Bản đã tiết kiệm một phần khá lớn. Tính trung bình từ 1961 đến
1967, tỷ lệ tiết kiệm trong thu nhập ở Nhật Bản là 18,6% so với 6,2% ở Mỹ,
7,7% ở Anh và từ đó tự do tiết kiệm tăng lên dần cùng với sự tăng thu
nhập, đạt 20,2% (1969), khoảng 1/4 thu nhập vào giữa những năm 70
(1)

nguồn vốn quan trọng, tác động tích cực đến tích luỹ, mở rộng sản xuất, tăng
trưởng kinh tế. Truyền thống tốt đẹp này của nhân dân Nhật Bản đã được duy
trì và phát huy liên tục như một yếu tố quyết định của tăng trưởng cơ chế,
chính sách quản lý từ thời Minh trị đến nay.
3. Công ty Nhật Bản:
Dưới sự điều chỉnh của nhà nước, cùng với lòng yêu nước và tinh thần
làm việc không mệt mỏi của nhân dân, các công ty Nhật Bản thực sự đóng vai
trò quyết định đối với quá trình khôi phục và tăng trưởng, cũng như quá trình
tạo ra tiềm lực cạnh tranh vững chắc của Nhật Bản trong nền kinh tế thế giới
sau chiến tranh. Khi nói đến sức sống của các xí nghiệp, công ty ấy, trước tiên
phải nói đến nhân tố tổ chức, quản lý, quả thật, đây là một hệ thống quản lý
lôi kéo được người làm công nhập sâu vào công ty đến mức họ buộc phaỉ
cống hiến hầu như vô tận cho lợi lộc của cả công ty lẫn của họ. Có thể nói,

nơi ăn, chốn ở lẫn cuộc sống riêng tư chính những việc làm này đã làm cho
các thành viên trong công ty gắn bó với nhau như những người thân trong gia
đình. Do chế độ làm việc suốt đời, nên chỉ bằng cách dùng mãi một công
nhân, công ty mới có thể khai thác hết được những kinh nghiệm và kỹ năng
mà công nhân đó đã tích luỹ đựơc.
b) Chế độ thâm niên:
Nếu ở phương Tây, chế độ nâng lương, đề bạt chủ yếu dựa vào năng lực
và thành tích cá nhân thì ở Nhật Bản , chế độ trả lương và đề bạt theo thâm
niên. Chế độ này dựa trên tư tưởng "trả công xứng đáng với trình độ lành
nghề đã được tích luỹ lại qua kinh nghiệm". Nó biểu hiện rõ ràng nhất ở
những sự khác nhau về tiền công tuỳ theo lứa tuổi và thâm niên phục vụ công
ty. Đối với người Nhật, thâm niên tự nó được đánh giá như là một loại khả
năng. Đây cũng là một khía cạnh kế thừa truyền thống kính trọng người lớn
8
tuổi của văn hoá phương Đông, họ coi người càng lớn tuổi càng có kinh
nghiệm, có nhiều khả năng.
Các chế độ "Chế độ làm việc suốt đời" và "thâm niên" tuy có những mặt
nhược điểm, nhất là trong giai đoạn hiện nay, nhưng có tác động tích cực làm
cho công nhân gắn bó với công việc, với nhà máy. Thiệt hại về đình công ở
Nhật Bản rất thấp. Nếu như ở Mỹ hàng năm mất tới 105 triệu ngày công do
đình công, Anh - 49 triệu, Italia - 32,44 triệu, Pháp - 9,51 triệu, Tây Đức -
4,79 triệu thì ở Nhật mất có 3,81 triệu ngày công (số liệu 1985)
(1)
c) "Việc tham gia quản lý" của công nhân.
Một nhân tố tích cực khác đối với sự tăng trưởng của Nhật Bản sau chiến
tranh là "việc tham gia quản lý" của công nhân bằng các hình thức khác nhau:
- Chế độ ra quyết định Ringi:
Đây là hình thức ra quyết định tập thể từ dưới lên- Ringisho, qua nheieù
cấp khác nhau sau cùng đến tay ông chủ tịch công ty. Khi ông chủ tịch thông
qua Ringisho, bằng cách đóng dấu thì quyết định là không thay đổi được nữa.

năng sẽ cần đến trong tương lai. Họ chuẩn bị quan hệ tốt vơí mọi thiết chế có
thể sẽ hữu ích.
Như vậy, có thể nói, thái độ năng động, có tầm nhìn xa của giới kinh
doanh là một trong những động lực thúc đẩy kinh tế phát triển, mà kết quả đã
vượt xa các kế hoạch và dự đoán ban đầu của chính phủ và đa số các nhà kinh
tế học.
4. Vai trò tổ chức, lập kế hoạch và điều hành của Nhà nước:
Mặc dù sự tăng trưởng kinh tế nhanh đạt được là do những nỗ lực không
biết mệt mỏi của toàn thể nhân dân Nhật Bản và chủ yếu là do những đóng
góp của công ty, song người ta cũng không thể không kể đến vai trò cực kỳ
quan trọng của nhà nước trong việc hoạch định đường lối, chính sách phát
triển kinh tế đất nước một cách đúng đắn.
Trước hết, ngay sau chiến tranh và nhiều thập kỷ sau đó, chính sách phủ
Nhật Bản, trên cơ sở thực trạng kinh tế, chính trị và xã hội trong và ngoài
10
nước lúc đó, cũng như xuất phát từ những kinh nghiệm cay đắng trong quá
khứ, đã kiên quyết đưa nước Nhật đi theo con đường hướng "về sản xuất", lấy
nguyên tắc "kinh tế trên hết" làm phương châm chỉ đạo.
Ngoài việc đề ra đường lối định hướng cho sự phát triển lâu dài của đất
nước , chính phủ Nhật Bản còn cùng với giới kinh doanh và lao động đề ra
các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội khác nhau tương ứng với mỗi giai
đoạn tiến triển của nền kinh tế và xã hội .
Các kế hoạch kinh tế của Nhật Bản đều có 3 nội dung cơ bản: Làm rõ
phương hướng kinh tế xã hội, chỉ rõ phương hướng chính sách của chính phủ
nhằm thực hiện các mục tiêu trên, là những chỉ dẫn hoạt động cho các cơ sở
kinh doanh, các ngành công nghiệp.
Kế hoạch thành công và có nhiều ảnh hưởng nhất là kế hoạch, tăng gấp
đôi thu nhập quốc dân trong 10 năm (1961-1970) do thủ tướng Hayato Ikeda
vạch ra năm 1960. Nhận thấy tầm quan trọng của sự tăng trưởng, Ikeda đã
thông qua kế hoạch của mình, để đạt tới mục tiêu công ăn việc làm đầy đủ,

tệ thứ hai thi hành từ tháng 10/1953 đến mùa thu 1954 là một sự đối phó với
cuộc khủng hoảng về thanh toán quốc tế. Chính sách này cũng mang lại hiệu
quả nhanh chóng. Cán cân thanh toán quốc tế đã lấy lại được thăng bằng
trong vòng một năm và nền kinh tế đã có những khả năng mới để đi vào tăng
trưởng.
Bên cạnh cái chính sách phù hợp với tình hình kinh tế đất nước là một hệ
thống cơ quan thực hiện có hiệu lực. Trong số các cơ quan chính phủ có vai
trò quan trọng, Bộ công nghiệp và Mậu dịch quốc tế (MITI) đã thu hút sự chú
ý nhiều hơn. Để khuyến khích sự phát triển công nghiệp nặng và hoá chất -
trụ cột của tăng trưởng sau chiến tranh, MITI đã phải đảm đương hai nhiệm
vụ. Một là thông tin cho khu vực tư nhân biết nhu cầu hướng tới các ngành
công nghiệp mới và thu hút các khoản đầu tư cần thiết. Hai là nhiệm vụ phối
hợp. Vì vậy, MITI đã có vai trò cực kỳ quan trọng trong việc tạo dựng cơ cấu
12
công nghiệp nặng và hoá chất sau chiến tranh. MITI còn có vai trò to lớn
trong việc phối hợp ngoài lĩnh vực đầu tư.
Điểm cuối cùng cần đề cập đến vai trò tích cực của nhà nước Nhật Bản
trong việc tạo ra môi trường Kinh doanh thuận lợi cho tăng trưởng là hệ thống
luật pháp và khả năng duy trì trật tự xã hội bằng pháp luật. Một thực tế được
mọi người thừa nhận là hệ thống pháp luật ở Nhật Bản rất chặt chẽ và người
Nhật Bản tôn trọng pháp luật hơn so với người dân ở nhiều nước khác. Có
nhiều nhân tố đóng góp vào sự thành công này: Thứ nhất, lịch sử cai trị xã hội
bằng pháp luật một cách nghiêm ngặt từ thời chính quyền Tôlaigara đã tạo
cho nhân dân thói quen tuân thủ các nhà chức trách. Thứ hai, bộ máy quan
chức chính phủ được nhân dân kính trọng, thậm chí nể sợ. Thứ ba, chính phủ
đã thu hút được nhiều người có năng lực , làm cho bộ máy quan chức này trở
thành một tổ chức tinh hoa, được nhân dân thừa nhận
(1)
. Có thể nói, nền kinh
tế nhật bản là "Một hệ thống kinh tế thông minh nhất thế giới" và chính phủ

6. Lưu Ngọc Trịnh, "Chiến lược con người trong " thần kỳ" kinh tế Nhật
Bản ", NXB CTQG , Hà Nội 1996
7. Lưu Ngọc Trịnh "kinh tế Nhật Bản - những bước thăng trầm trong lịch
sử" NXB Thống kê Hà Nội 1998.
8. Nhiều tác giả , "Lịch sử Nhật Bản" NXB VHTT , Hà Nội 1995
9. Nhiều tác giả, "Tìm hiểu Nhật Bản: Từ Vựng, phong tục, và quan
niệm" NXB KHXH, Hà Nội 1991.
10. NaKamura Takagasa "Những bài giảng về lịch sử kinh tế Nhật Bản
hiện đại, NXB CTQG, Hà Nội 1998.
11. Shigera Nakayama, "Nước Nhật thời hậu chiến, Viên nghiên cứu chủ
nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh". 1993.
12. Yutaka Kosai, "Kỷ nguyên tăng trưởng nhanh, Viên kinh tế thế giới,
Hà Nội 1991.
13. Yoshihara Kunio, "Sự phát triển kinh tế của Nhật Bản" NXB KHXH
1991.
15
MỤC LỤC
16


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status