Rèn luyện cho học sinh lớp 11 kỹ năng lập luận bác bỏ trong làm văn nghị luận - Pdf 31

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

DƯƠNG THỊ HƯỜNG

RÈN LUYỆN CHO HỌC SINH LỚP 11 KĨ NĂNG
LẬP LUẬN BÁC BỎ TRONG LÀM VĂN NGHỊ LUẬN

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN

Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
(BỘ MÔN NGỮ VĂN)
Mã số: 60 14 10

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN QUANG NINH

HÀ NỘI – 2012

1


MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài..........................................................................................1
2. Lịch sử vấn đề .............................................................................................5
3. Mục đích nghiên cứu...................................................................................11
4. Nhiệm vụ nghiên cứu ..................................................................................13
5. Đối tượng nghiên cứu .................................................................................13
6. Phạm vi nghiên cứu....................................................................................14
7. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................14

2.3.3. Bài tập chữa lỗi ....................................................................................58
2.4. Tổ chức cho học sinh rèn luyện kĩ năng lập luận bác bỏ trong làm
văn nghị luận ...................................................................................................60
2.4.1. Định hướng chung của việc rèn luyện kĩ năng lập luận bác bỏ
trong làm văn nghị luận .................................................................................60
2.4.2. Cách thức luyện tập...............................................................................66
Chƣơng 3: THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM....................................................75
3.1. Mô tả thực nghiệm ...................................................................................75
3.1.1. Mục đích thực nghiệm ..........................................................................75
3.1.2. Đối tượng và địa bàn thực nghiệm........................................................76
3.1.3. Nội dung và tiến trình thực nghiệm .....................................................78
3.2. Giáo án thực nghiệm ................................................................................79
3.4. Kết quả thực nghiệm ................................................................................92
3.4.1. Tiêu chí đánh giá ...................................................................................92
3.4.2. Kết quả thu được ...................................................................................92
3.4.3. Kết luận rút ra qua thực nghiệm ...........................................................94
KẾT LUẬN CHUNG ....................................................................................95
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................99

4


MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Trong những năm gần đây, vấn đề giáo dục luôn được quan tâm và
bàn tới, đặc biệt là vấn đề thay đổi và cải biến phương pháp dạy học
Một xu hướng dạy học hiện đại và tiến bộ được đưa ra là thay đổi vị trí,
vai trò của người thầy và người trò: người Thầy đóng vai trò chủ đạo, tổ chức
và hướng dẫn học sinh chiếm lĩnh tri thức, học sinh đóng vai trò chủ động,
tích cực trong quá trình chiếm lĩnh tri thức. Ngoài ra còn có xu hướng khác

Làm văn là quá trình sáng tạo của cá nhân học sinh, là cơ hội để học
sinh được bộc lộ rõ nét, tập trung vốn hiểu biết nhiều mặt cùng những phẩm
chất và năng lực của mình, đặc biệt là tư duy sáng tạo, năng lực ngôn ngữ. Có
thể nói, chỉ đến công đoạn làm văn, học sinh mới thực sự luyện tập được cả
về kiến thức cũng như kĩ năng. Mỗi bài viết của học sinh là một tác phẩm
nhỏ, qua đó các em thể hiện vốn sống, vốn văn hoá, nhân cách, khả năng tư
duy, khả năng lập luận cũng như khả năng diễn đạt của mình. Trên thực tế,
việc dạy và học làm văn chưa chú trọng tính chất tổng hợp, tính chất sáng tạo
của phân môn, chưa chú trọng đúng mức việc rèn luyện kĩ năng làm văn cho
học sinh, đặc biệt là kĩ năng lập luận. Nguyên nhân của vấn đề trên một phần
là do sách giáo khoa còn nặng về cung cấp lí thuyết, chưa chú trọng đúng mức
hệ thống bài tập luyện tập, hay cách thức, biện pháp, yêu cầu rèn luyện cụ thể.
Mặt khác, do giáo viên chưa phân bố thời gian hợp lí cho việc luyện tập, giáo
án lên lớp còn nặng về đề mục, chưa chú trọng việc xây dựng hệ thống câu
hỏi và bài tập cho học sinh. Phần nữa là do học sinh chưa ý thức được tầm
quan trọng của phân môn, xem Làm văn là một phân môn tách biệt với hai
phân môn Đọc văn và Tiếng Việt.
Đề xuất các giải pháp thực hành môn Làm văn ở nhà trường phổ thông
được xem là một vấn đề khoa học cấp thiết. Xét về phương diện lí thuyết,
những kiến thức về làm văn không phải là vấn đề khó nắm bắt, song bước vào

2


thực tiễn dạy học lại là cả quá trình thử thách sự nỗ lực của cả người dạy lẫn
người học. Trong khi đó, công trình nghiên cứu có giá trị thực tiễn về làm
văn, về phương pháp dạy học, về rèn luyện kĩ năng, một phần còn ít, một
phần chưa đến được với giáo viên và học sinh nên việc ứng dụng nó vào dạy
học cũng còn hết sức hạn chế. Ngoài ra, việc có quá nhiều loại sách tham
khảo, sách mẫu- những bài viết có sẵn, một kiểu tham khảo với mục đích đào

luận là thao tác lập luận chứng minh, thao tác lập luận giải thích, đến sách
giáo khoa Ngữ văn THPT - SGK Ngữ văn 11 - phần Làm văn giới thiệu thêm
bốn thao tác lập luận: phân tích, so sánh, bác bỏ, và bình luận. Bốn thao tác
lập luận này là trọng tâm phần Làm văn của sách Ngữ văn lớp 11. Trong đó
thao tác lập luận bác bỏ là thao tác dùng lí lẽ và dẫn chứng để phê phán, gạt
bỏ những quan điểm, ý kiến sai lệch hoặc thiếu chính xác... Từ đó, nêu ý kiến
đúng của mình để thuyết phục người nghe. Lập luận bác bỏ là một bộ phận
không thể thiếu trong kĩ năng làm văn nghị luận, nhưng lâu nay chưa đưa vào
trong SGK (sách giáo khoa). Đây là lần đầu tiên được đưa vào trong SGK,
cho nên giáo viên phần nhiều có thể cảm thấy lúng túng. Tuy nhiên, trong
thực tế đời sống, nội dung này không hề xa lạ, bởi nó thường gặp trong báo
chí, tranh luận. Hơn thế nữa, lập luận bác bỏ là một công việc khoa học, nó
đòi hỏi khách quan, trung thực. Những cách bác bỏ bằng xuyên tạc, cắt xén,
bịa đặt bằng chứng giả đều không có giá trị. Do đó, học thao tác lập luận bác
bỏ cũng là bài học có ý nghĩa về đạo đức, rèn luyện trí tuệ và tính trung thực
cho học sinh. Với tất cả những vướng mắc, lúng túng của người giáo viên gặp
phải khi rèn kĩ năng lập luận bác bỏ cho học sinh và với những lợi ích không
thể phủ nhận của thao tác lập luận này trong việc bồi dưỡng tư duy phê phán
khoa học... Xuất phát từ thực trạng dạy học Làm văn hiện nay, cùng với mong
muốn những bài làm văn của học sinh ngày càng được nâng cao về chất
lượng, tránh đi những lỗi đáng có, chúng tôi chọn đề tài “Rèn luyện cho học
sinh lớp 11 kĩ năng lập luận bác bỏ trong làm văn nghị luận”. Với đề tài này,
chúng tôi sẽ tìm tòi và đề xuất một số biện pháp, cách thức và hình thức cũng
như hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng lập luận bác bỏ trong làm văn nghị

4


luận cho học sinh, từng bước trang bị cho học sinh kĩ năng làm văn khoa học
và cũng từng bước trang bị cho các em những kiến thức, hành trang bước vào

văn. Đứng ở góc độ lí thuyết dạy học và phương pháp bộ môn, các tác giả
Phan Trọng Luận, Trương Dĩnh, Nguyễn Thanh Hùng, Trần Thế Phiệt đã xuất
phát từ tình hình dạy học Làm văn ở nhà trường THPT còn nhiều thiếu sót mà
báo động: Sự đơn giản trong tư duy, sự nghèo nàn trong tình cảm và sự phiến
diện trong nhân cách học sinh là điều không thể chấp nhận trong nền giáo
dục của chúng ta. Làm văn mà chỉ biết sao chép kiến thức và phát ngôn theo
những khuôn sáo có sẵn, chắc chắn đó là tình trạng không bình thường trong
giáo dục và giảng dạy văn chương [18, 219]. Không chỉ là những lo ngại về
tình hình học sinh mà vấn đề dạy học của giáo viên cũng đáng lo ngại: Giáo
viên chưa ý thức được đầy đủ yêu cầu của việc rèn luyện kĩ năng cho học sinh
qua môn Làm văn gắn liền với việc hình thành những phẩm chất cần có của
một người lao động như tác phong cẩn thận, đức tính cần cù, bền bỉ cũng như
tinh thần trách nhiệm và tính mực thước trong lao động và trong đời sống. Do
lối dạy văn khuôn mẫu, xơ cứng, do quan niệm làm văn nặng về thi cử, do yêu
cầu chủ yếu đối với học sinh ở nhà trường phổ thông vẫn là sao chép kiến
thức, giáo viên không ý thức được hết nguy hại lâu dài sâu xa của lối dạy làm
văn lâu nay [18, 130]. Với thực trạng ấy, các tác giả đã xác định lại vị trí của
Làm văn trong chương trình Ngữ văn ở THPT, ở những việc cụ thể như dạy lí
thuyết, luyện tập thực hành rèn kĩ năng, việc ra đề kiểm tra, việc chấm và trả
bài cho học sinh.
Bên cạnh đó, trong những giáo trình dạy học phương pháp dạy phân
môn Làm văn, các tác giả như Lê A, Nguyễn Quang ninh, Bùi Minh Toán đã
đi vào xác định vị trí và mục tiêu chương trình của sách giáo khoa cũng như
phân môn làm văn trong trường THPT, chỉ ra những tiền đề lí thuyết của việc
dạy học làm văn từ góc độ ngôn ngữ học văn bản, lí thuyết giao tiếp, lôgic
học, lí luận văn học. Các tác giả khẳng định: Trên con đường xác định một lí
thuyết thực sự khoa học cho môn làm văn, ta lại gặp nhiều vấn đề của làm
văn gắn liền với lôgic. Từ khâu ra đề, chấm bài, rèn luyện kĩ năng, giảng dạy

6


7


2.2. Nhóm các công trình nghiên cứu về việc nâng cao chất lượng dạy học
môn Làm văn
1) Phương pháp làm văn nghị luận- Lê Thanh Thông, Nguyễn Lệ Thu, NXB
Đà Nẵng.
2) Luyện cách lập luận trong đoạn văn nghị luận cho học sinh- Nguyễn Quang
Ninh, Nguyễn Thị Bàn, Trần Hữu Phong, NXB ĐHQG, 2000.
3) Rèn luyện cho học sinh kĩ năng làm văn nghị luận- Nguyễn Ngọc Phúc
(NCGD- Số 11/1980).
4) Muốn viết được bài văn hay- Nguyễn Đăng Mạnh, Đỗ Ngọc Thống, Lưu
Đức Hạnh, NXB Giáo dục, 1995.
5) Mấy vấn đề lí luận và thực hành Làm văn- Phan Trọng Luận (Vụ Giáo viên
Bộ Giáo dục, 1993)
6) 150 bài tập rèn kĩ năng dựng đoạn văn- Nguyễn Quang Ninh, NXB Giáo
dục, 1997.
Tác giả Nguyễn Ngọc Phúc trong bài “rèn luyện cho học sinh kĩ năng
làm văn nghị luận” đã đưa ra vấn đề: rèn kĩ năng làm văn nghị luận phải được
tiến hành một cách toàn diện, công phu và kiên trì và phải được quan tâm
đúng mức. Tác giả đề xuất việc rèn luyện kĩ năng làm văn nghị luận phải rèn
kĩ năng suy nghĩ, phải coi trọng cả hai mặt: cung cấp kiến thức và giúp học
sinh rèn luyện thành thạo kĩ năng làm bài qua tất cả các khâu, trong tất cả các
phân môn của môn Ngữ văn, đồng thời tích hợp với các môn học khác và
trong các hoạt động của nhà trường.
Có thể nói, các công trình nghiên cứu trên đã tập trung nghiên cứu vấn
đề rèn luyện kĩ năng lập luận cho học sinh, cũng như chỉ ra một số vấn đề dạy
học Làm văn trong nhà trường. Những công trình ấy đã xây dựng được một
hệ thống tri thức cơ bản về qui trình tổ chức một bài văn, tuy nhiên lại thiếu đi

bốn phần: Thắng bằng lôgic; Thắng bằng nghệ thuật ngôn từ; Thắng bằng
mưu chước; Thắng bằng vạch trần nguỵ biện. Tranh luận là quá trình giao lưu
ngôn ngữ đòi hỏi cả hai bên phải chứng minh được quan điểm của mình là

9


đúng đắn, bằng những lí lẽ cần thiết. Đồng thời vạch trần sai lầm trong quan
điểm của đối phương, nhằm đi đến một nhận thức chung. Tranh luận là tinh
hoa nghệ thuật của năng lực hành động ngôn ngữ, là cách thức phát triển trí
tuệ, là hòn đá mài sắc tư duy, là vũ khí đánh đổ mọi sai lầm. Thời xưa, tranh
luận đã từng lưu lại nhiều tấm gương sáng chói. Trần Chuẩn nói rõ lí lẽ mà
quân địch phải lui, Tô Tần du thuyết mà sáu nước được an, Gia Cát Lượng
thiệt chiến quần nho mà Ngô- Thục kết liên minh, đánh cho quân Tào Tháo
thất điên bát đảo. Ngày nay, cũng đã có biết bao cuộc tranh luận đã thu hút và
làm nức lòng người.
Bên cạnh những công trình nghiên cứu về lí thuyết làm văn nghị luận,
đặc biệt là lí thuyết về lập luận bác bỏ như trên, còn có khá nhiều những công
trình nghiên cứu về thao tác lập luận trong làm văn nghị luận cho học sinh
THPT. Trong cuốn “Rèn kĩ năng làm văn tốt nghiệp THPT và thi đại học môn
Ngữ văn- nghị luận xã hội”, NXB ĐHQG, năm 2009 có viết: Do đặc trưng
của việc bàn luận, làm sáng rõ một vấn đề xã hội nào đó, cũng giống như các
bài văn nghị luận nói chung, một bài văn nghị luận xã hội cần có sự kết hợp
thành thạo giữa các thao tác nghị luận, lập luận chặt chẽ, thuyết phục, bố cục
lôgic. Và mỗi thao tác lập luận ứng với một mục tiêu cụ thể: Giải thích để làm
rõ và giới hạn khái niệm; phân tích để đi sâu vào những khía cạnh cụ thể;
chứng minh và so sánh để làm sáng tỏ vấn đề; bác bỏ để làm nổi bật sự đúng
đắn của vấn đề; bình luận để đánh giá nâng cao và mở rộng vấn đề.
Thao tác lập luận bác bỏ lần đầu tiên được đưa vào chương trình sách
giáo khoa lớp 11, tập 2 cũng với mục đích là rèn luyện cho học sinh đầu óc

duy. Từ đó, học sinh phát huy được năng lực cá nhân, óc tư duy phê phán,
khả năng sáng tạo cũng như sự tự tin bộc lộ ý kiến riêng trước những vấn đề
văn học hay những vấn đề của đời sống xã hội. Đề tài của chúng tôi cũng có
mong muốn biến động lực học tập môn Ngữ văn thành động lực thực sự từ
bên trong của mỗi cá nhân học sinh để học sinh cảm thấy thực sự hứng thú và
say mê.

11


3.2. Nâng cao ý thức trách nhiệm cũng như khắc phục những hạn chế,
thiếu sót của giáo viên khi dạy học phần Làm văn
Quá trình dạy học là sự tương tác giữa người dạy và người học.
Muốn cho việc học của học sinh đạt được những hiệu quả như ý muốn, đòi
hỏi người thầy cũng phải nâng cao ý thức và trách nhiệm nghề nghiệp. Mỗi
giáo viên phải tự trau dồi chuyên môn, suy nghĩ tìm tòi những hướng đi,
cách làm có hiệu quả trong việc giúp học sinh chiếm lĩnh kiến thức Làm
văn cũng như giúp học sinh rèn luyện hình thành các kĩ năng làm văn một
cách hiệu qủa nhất.
Việc thực hiện đề tài này cũng nhằm giúp giáo viên tự chuẩn hoá lại
kiến thức làm văn, có thể giúp giáo viên khắc phục những hạn chế, thiếu xót
trong công tác giảng dạy của mình. Từ đó, giúp giáo viên có ý thức đầy đủ
hơn về yêu cầu của việc rèn kĩ năng lập luận bác bỏ trong làm văn nghị luận
của học sinh. Và mục đích cao nhất mà mỗi người giáo viên luôn hướng tới là
đào tạo ra những con người có tri thức, có phương pháp, kĩ năng làm việc,
thực sự bản lĩnh, tự tin, sáng tạo làm chủ tương lai của mình.
3.3. Nâng cao hiệu quả giảng dạy của giáo viên cũng như chất lượng học
tập của học sinh trong việc dạy và học làm văn nghị luận
Việc rèn kĩ năng lập luận bác bỏ là một phần rất quan trọng trong rèn
kĩ năng làm văn nghị luận. Công việc này giúp thêm một phần vào việc nâng

luận. Ở lứa tuổi này tuy các em chưa trưởng thành như những học sinh khối
lớp 12 nhưng các em cũng không còn non nớt , bỡ ngỡ như học sinh lớp 10.
Các em đã có thể có những suy nghĩ khá thấu đáo về những vấn đề văn học
hay những vấn đề về đời sống xã hội, từ đó các em tự tin thể hiện những suy
nghĩ của riêng mình hay phát biểu những ý kiến mang tính cá nhân độc lập và
có chính kiến.
Ngoài ra, đối tượng nghiên cứu còn tập trung vào việc dạy học một số
giờ lí thuyết và thực hành về thao tác lập luận bác bỏ, giờ trả bài, hay các giờ
đọc văn. Để từ đó giúp học sinh hình thành những kĩ năng lập luận bác bỏ cơ
bản và vận dụng kĩ năng đó vào việc hoàn thiện bài làm văn cụ thể.

13


Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi còn chú ý tới năng lực viết văn của học
sinh được nhìn trên khả năng viết đoạn văn nghị luận có sử dụng thao tác lập
luận bác bỏ. Đó là kĩ năng vận dụng cao của học sinh để tiến tới hoàn thiện kĩ
năng lập luận bác bỏ nói riêng và kĩ năng làm văn nghị luận nói chung.
6. Phạm vi nghiên cứu
Để viết được bài nghị luận có chất lượng người học sinh cần phải rèn
luyện rất nhiều các kỹ năng. Luận văn này tập trung vào vấn đề rèn luyện cho
học sinh lớp 11 kỹ năng lập luận bác bỏ trong làm văn nghị luận. Đây được
coi là một bộ phận không thể thiếu trong kĩ năng làm văn nghị luận.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để hoàn thành đề tài nghiên cứu này, chúng tôi đã sử dụng tổ hợp các
phương pháp nghiên cứu có nhiều thuận lợi và hiệu quả sau đây:
7.1. Phương pháp phân tích, tổng hợp
Chúng tôi sử dụng nhóm phương pháp nghiên cứu phân tích, tổng hợp
để nghiên cứu phân tích những vấn đề như phân tích tâm lí học sinh, phân tích
năng lực cá nhân của học sinh lớp 11, phân tích những đặc trưng của văn nghị

sử dụng thao tác lập luận bác bỏ.
8. Dự kiến đóng góp của luận văn
8.1. Về lý luận
- Hệ thống hoá những tiền đề về lí luận bác bỏ.
- Góp thêm cơ sở khoa học cho việc đổi mới phương pháp dạy và học Làm
văn THPT.
8.2. Về thực tiễn
- Đề xuất các cách thức rèn luyện kỹ năng lập luận bác bỏ trong làm văn nghị
luận cho học sinh THPT.
- Giúp giáo viên và học sinh thuận lợi hơn trong quá trình dạy và học Làm
văn nghị luận.

15


9. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận chung, tài liệu tham khảo, nội dung chính
của luận văn được trình bày trong 3 chương
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài.
Chương 2: Tổ chức rèn luyện kỹ năng lập luận bác bỏ trong bài làm
văn nghị luận ở lớp 11 trung học phổ thông
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm.

16


CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Thao tác lập luận với tư cách là một hoạt động của tư duy

cách gián tiếp khái quát hiện thực khách quan vào bộ não của con người được
thể hiện trong quá trình hoạt động thực tiễn. Tư duy nảy sinh trên cơ sở của
nhận thức cảm tính, những vượt xa giới hạn của nhận thức cảm tính. Tư duy
phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối liên hệ có tính quy luật của
hàng loạt sự việc, hiện tượng đồng thời nhờ tư duy con người tìm kiếm cái
mới để tiếp tục nhận thức và cải tạo thế giới.
Rèn luyện kĩ năng lập luận bác bỏ cho học sinh lớp 11 trong bài làm
văn nghị luận là một hoạt động có mối liên hệ trực tiếp tới các hoạt động tư
duy, tới vấn đề lôgic và đó là một hoạt động mang tính trí tuệ cao.
1.1.1.2. Về lập luận
* Lập luận
Lập luận là đưa ra các lí lẽ, bằng chứng nhằm dẫn dắt người nghe (đọc)
đến một kết luận nào đó mà người viết (nói) muốn đạt tới.
Lập luận được định nghĩa rất khác nhau tùy theo ngữ cảnh của hiểu biết
về lí tính như là một hình thức của tri thức. Định nghĩa lôgic là hành động sử
dụng lí tính để rút ra một kết luận từ các tiền đề nhất định bằng cách sử dụng
một phương pháp luận cho trước, và hai phương pháp tường minh được sử
dụng rộng rãi nhất để đạt đến kết luận là lập luận suy diễn và lập luận quy
nạp. Tuy nhiên, trong các ngữ cảnh triết học lí tưởng, lập luận là quy trình trí
óc đem lại cho sự tưởng tượng, tri giác, ý nghĩ, và cảm giác của ta bất cứ cái
gì có thể hiểu được mà những hành vi trí óc kia có thể hàm chứa; và do đó
liên hệ trải nghiệm của ta với ý nghĩa toàn thể. Chi tiết cụ thể của các phương
pháp lập luận là mối quan tâm của các ngành như triết học, lôgic, tâm lý học,
và trí tuệ nhân tạo.

18


* Các kiểu lập luận
Lập luận suy diễn là lập luận cho trước các tiền đề đúng, kết luận phải

1.1.2. Bác bỏ với tư cách là một thao tác lập luận
1.1.2.1. Khái niệm bác bỏ và thao tác lập luận bác bỏ
Theo từ điển Tiếng Việt, bác bỏ là bác đi, gạt đi, không chấp nhận.
Bác bỏ ý kiến. Bác bỏ luận điệu vu khống. Dự án bị bác bỏ.
Lập luận bác bỏ là thao tác dùng lí lẽ và dẫn chứng để phê phán, gạt bỏ
những quan điểm, ý kiến sai lệch hoặc thiếu chính xác,... Từ đó, nêu ý kiến
đúng của mình để thuyết phục nghe. Có thể bác bỏ lập luận bằng cách bác bỏ
luận điểm, luận cứ và cách lập luận.
Muốn bác bỏ hiệu quả, có sức thuyết phục, ta cần nắm vững thao tác
lập luận bác bỏ, cần diễn đạt rành mạch, sáng sủa, uyển chuyển để người có
quan điểm, ý kiến sai lệch và người nghe, người đọc dễ tiếp nhận, tin theo.
1.1.2.2. Các phương pháp bác bỏ
* Các phương pháp bác bỏ trong biện luận
- Bác bỏ bằng lôgíc
Lôgíc là khoa học nhiên cứu các quy luật và hình thức của tư duy,
nghiên cứư sự suy luận đúng đắn. Bên cạnh đó, lôgíc còn thể hiện trật tự chặt
chẽ, tất yếu giữa các hiện tượng, sự gắn bó giữa các ý hay cách suy luận chặt
chẽ. Do vậy, bác bỏ bằng lôgíc là gạt đi, không chấp nhận ý kiến sai lầm dựa
trên sự hiểu biết và vận dụng những suy luận đúng đắn, sự chặt chẽ, tất yếu
giữa các hiện tượng, giữa các ý. Stalin đã từng nhận định về lời biện luận của
Lê-nin rằng: "Lúc đó, điều khiến tôi khâm phục chính là sức mạnh lôgíc
không thể chiến thắng nằm trong lời diễn thuyết của người. Sức mạnh lôgíc
này tuy có khô khan, nhưng nó lại tóm chặt lấy người nghe, từng bước từng
bước làm xúc động, và cuối cùng thì cầm tù người nghe, không từ một ai. Tôi
còn nhớ lúc đó có rất nhiều đại biểu nói: "Lôgíc trong bài nói của Lê-nin
khác nào những xúc tu vạn năng, sẽ kẹp chặt lấy anh từ mọi phía bằng kìm,
khiến anh không thể thoát khỏi. Nếu anh không đầu hàng, sẽ thất bại hoàn
toàn" [9, 50].

20


21


của sự nguỵ biện. Muốn không bị thất bại trong những cuộc tranh luận thì
luôn phải chuẩn bị cho mình một khả năng nhận biết và phân tích nhạy bén
với nguỵ biện.
Có một số cách nguỵ biện thường gặp như: đánh tráo khái niệm, đánh
tráo luận đề, gây rối để chiến thắng, tráo đổi trọng tâm...
* Các phương pháp bác bỏ trong văn nghị luận
- Bác bỏ luận điểm
Bác bỏ luận điểm là chỉ ra sự sai lầm của luận điểm qua hai phương
thức chính là dùng thực thế và dùng suy luận.
Dùng thực tế để bác bỏ tức là tìm ra những điểm trái với thực tế đời
sống. Ví dụ, nghiên cứu về Truyện Kiều, Nguyễn Bách Khoa đã đưa ra nhận
định: "Nó chứa chan một chất tàn héo, tiêu ma...Cái đẹp của Truyện Kiều
ngày nay chỉ những tâm hồn muốn thụt lùi mới có thể thưởng ngoạn được".
Luận điểm này có hai điểm chưa thoả đáng: Thứ nhất, chất thơ của Truyện
Kiều tràn ngập sự tàn héo; thứ hai, chỉ những tâm hồn muốn thụt lùi mới
thưởng thức được Truyện Kiều. Bác bỏ ý kiến này, có thể chỉ ra, trong thực tế
của tác phẩm, chất thơ chứa chan của Truyện Kiều không phải là sự tàn héo,
mà là tình yêu và nỗi đau về phẩm giá con người; và nhận định đó trái với
thực tế đời sống, bởi những người có chí tiến thủ, không chịu thụt lùi cũng
đều yêu mến Truyện Kiều.
Dùng phép suy luận để làm cái sai của luận điểm cần phải bác bỏ được
bộc lộ đầy đủ.
Ví dụ: Để bác bỏ luận điểm “cái đẹp của Truyện Kiều ngày nay chỉ
những tâm hồn muốn thụt lùi mới có thể thưởng ngoạn được" (Nguyễn Bách
Khoa), có thể suy luận như sau: Nếu luận điểm “chỉ những tâm hồn muốn thụt
lùi mới có thể thưởng ngoạn được” cái đẹp của Truyện Kiều là đúng, thì phần


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status