rèn luyện cho học sinh lớp 8 kỹ năng sử dụng yếu tố biểu cảm khi tạo lập văn bản nghị luận - Pdf 24


ĐẠI HỌC THÁI NGUN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

ĐÀO THỊ HỒNG HẢI

RÈN LUYỆN CHO HỌC SINH LỚP 8
KỸ NĂNG SỬ DỤNG YẾU TỐ BIỂU CẢM KHI
TẠO LẬP VĂN BẢN NGHỊ LUẬN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

CHUN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC VĂN - TIẾNG VIỆT
MÃ SỐ: 60.14.01.11 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC Người hướng dẫn khoa học: GS.TS. LÊ A

Thái Ngun - 2013Số hóa bởi Trung tâm Học liệu –ĐHTN />
iLỜI CAM ĐOAN

Tơi xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu của tơi. Các nội dung
nêu trong luận văn là kết quả làm việc của tơi và chưa được cơng bố trong bất
cứ một cơng trình nào khác./.

Thái Ngun, ngày 08 tháng 08 năm 2013


LỜI CẢM ƠN

Trước tiên em xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến Thầy
giáo, GS. TS. LÊ A - người Thầy hướng dẫn luận văn của em. Thầy đã tạo
mọi điều kiện động viên và giúp đỡ em trong suốt q trình thực hiện và hồn
thành luận văn này.
Em cũng xin chân thành cảm ơn Khoa Ngữ văn; Khoa Sau Đại học -
Trường Đại học Sư phạm Thái Ngun đã tạo điều kiện cho em có một mơi
trường học tập và nghiên cứu thuận lợi để em hồn thành tốt luận văn của mình.
Em xin chân thành cảm ơn các Giáo sư, Phó Giáo sư, Tiến sĩ đã tham
gia giảng dạy tận tình lớp Cao học Lý luận và Phương pháp dạy học Văn -
Tiếng Việt K19 - ĐHSP Thái Ngun.
Xin chân thành cảm ơn các bạn đồng nghiệp, các em học sinh lớp thực
nghiệm và tất cả các bạn bè, người thân đã ủng hộ và tạo điều kiện giúp đỡ tơi
trong q trình thực hiện luận văn. Trong điều kiện hạn hẹp về thời gian và
khả năng có hạn, luận văn này khơng tránh khỏi những thiếu sót nhất định.
Rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của Q thầy, cơ và các bạn
đồng nghiệp.
Trân trọng cảm ơn !
Thái Ngun, ngày 10 tháng 8 năm 2013
Tác giả luận văn
Đào Thị Hồng Hải Số hóa bởi Trung tâm Học liệu –ĐHTN />
iii


1.1.1. Phương thức biểu đạt và các kiểu loại văn bản 11

1.1.2. Kĩ năng và kĩ năng sử dụng kết hợp yếu tố biểu cảm trong bài văn
nghị luận 17

1.2. CƠ SỞ THỰC TIỄN 22

1.2.1. Thực trạng tài liệu ( Sách giáo khoa, sách giáo viên, sách tham khảo) 22

1.2.2. Thực trạng dạy học thực hành kĩ năng sử dụng yếu tố biểu cảm
trong bài văn nghị luận 23

CHƯƠNG 2. BÀI TẬP RÈN LUYỆN KĨ NĂNG SỬ DỤNG YẾU TỐ
BIỂU CẢM TRONG BÀI VĂN NGHỊ LUẬN CHO HỌC SINH LỚP 8 29

2.1. Giới thiệu khái qt các bài tập 29

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu –ĐHTN />
iv

2.2. Miêu tả các bài tập 30

2.2.1. Bài tập loại 1: Nhận diện và phân tích tác dụng của yếu tố biểu
cảm trong văn bản nghị luận 30
2.2.2. Bài tập loại 2: Tạo lập văn bản nghị luận có sử dụng yếu tố biểu cảm. 49

2.2.3. Bài tập loại 3: Bài tập chữa lỗi sử dụng yếu tố biểu cảm trong văn
bản nghị luận 60



3.5. Kết luận chung về dạy học thực nghiệm 97

KẾT LUẬN 98

TÀI LIỆU THAM KHẢO 100

PHỤ LỤC
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu –ĐHTN />
ivDANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮTTHCS : Trung học cơ sở
SGK : Sách giáo khoa
SGV : Sách giáo viên
HS : Học sinh
GV : Giáo viên
NL : Nghị luận
PTBĐ : Phương thức biểu đạt
Nxb : Nhà xuất bản
G.S : Giáo Sư
T.S : Tiến sĩ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu –ĐHTN />
1


văn phải thật sự có cảm xúc trước những điều mình viết (mình nói ), và phải
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu –ĐHTN />
2

biết diễn tả cảm xúc đó bằng những từ ngữ, những câu văn có sức truyền cảm.
Đặc biệt, sự diễn tả cảm xúc cần phải chân thực và khơng phá vỡ mạch lạc
của bài văn; kết hợp yếu tố biểu cảm đúng lúc, đúng chỗ, đúng liều lượng sẽ làm
cho những điều lý trí đã nêu tăng thêm sức lay động và cảm hố lòng người.
1.2. Sử dụng yếu tố biểu cảm trong bài văn nghị luận đúng vị trí và liều lượng
khơng dễ, cần phải được nghiên cứu
Muốn phát huy hết tác dụng của yếu tố biểu cảm trong bài văn nghị
luận, trước hết người viết khơng chỉ cần suy nghĩ đúng, nghĩ sâu về các vấn
đề bàn luận mà còn phải thật sự xúc động trước những điều mình đang viết,
đang nói, đang bàn luận. Đó là cảm xúc chân thành, tự nhiên và sâu sắc, xuất
phát từ đáy lòng, trái tim người viết. Nhưng những cảm xúc chân thành và sâu
sắc ấy phải được biểu hiện trong bài văn nghị luận sao cho phù hợp, khơng
phá vỡ mạch lập luận. Biểu cảm trong văn nghị luận khơng hồn tồn giống
trong văn tự sự, miêu tả hay biểu cảm đơn thuần. Biểu cảm trong nghị luận là
để nghị luận. Nó phải hòa vào luận cứ, luận chứng, làm nổi bật và khắc sâu
luận điểm trong lòng người nghe. Nó diễn tả luận điểm, luận chứng bằng hình
ảnh, bằng câu cảm, bằng từ ngữ gợi cảm nhưng vẫn khơng qn nhiệm vụ
làm sáng tỏ hệ thống luận điểm.
Cho nên khơng phải càng dùng nhiều từ ngữ biểu cảm, nhiều câu cảm
thì giá trị biểu cảm trong bài văn nghị luận càng tăng. Ngược lại nếu dùng q
nhiều mà khơng phù hợp sẽ biến bài văn nghị luận thành lý luận dơng dài,
khơng đáng tin cậy, hoặc làm giảm bớt sự chặt chẽ trong mạch lập luận, thậm
chí phá vỡ lơgic luận chứng. Cuối cùng có thể làm bài nghị luận xa rời thể
loại, lạc sang biểu cảm đơn thuần.Vấn đề ở đây là mức độ, là cách biểu hiện.
Biểu cảm chỉ là yếu tố phụ trợ, biểu cảm nhưng khơng được làm giảm
hoặc làm mất đi đặc trưng nghị luận cả về nội dung cũng như hình thức.Thế

liệu giảng dạy, vừa giúp học sinh có phương tiện để vận dụng lý thuyết để
hình thành những kĩ năng cần có trong khi tạo lập văn bản nghị luận.
Từ nhận thức trên luận văn “Rèn luyện cho học sinh lớp 8 kỹ năng sử
dụng yếu tố biểu cảm khi tạo lập văn bản nghị luận” mong muốn giúp cho
học sinh lớp 8 có thêm kĩ năng làm văn nghị luận bên cạnh nhiều kĩ năng
khác trong việc tổ chức bài nghị luận vốn là rất khó đối với các em.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu –ĐHTN />
4

2. Lịch sử vấn đề
2.1. Tình hình nghiên cứu yếu tố biểu cảm trong văn nghị luận
Từ trước đến nay đã có nhiều nhà nghiên cứu khẳng định tác dụng to
lớn của yếu tố biểu cảm trong văn nghị luận. Trước tiên là cuốn “Văn nghị
luận chọn lọc” đã nhấn mạnh một bài văn nghị luận hay là một bài văn phải
đạt lý, thấu tình “ Một bài văn nghị luận hay vừa chinh phục khối óc, vừa
chinh phục trái tim người đọc. Muốn vậy, bài văn nghị luận ấy phải vừa đạt
lý lại vừa thấu tình, vừa có nội dung tư tưởng cao đẹp lại vừa có tác dụng
truyền cảm thấm thía.” [45] .Tác giả “Làm văn từ lí thuyết đến thực hành”
cho rằng một trong những yếu tố góp phần quan trọng vào kết quả bài viết
văn nghị luận ngồi khả năng vận dụng tư duy logic thì văn nghị luận vẫn cần
màu sắc chủ quan (tình cảm). “ Những bài văn nghị luận hay, khơng chỉ
thuyết phục người nghe bằng lí, bằng ý mà còn lơi cuốn người đọc bằng tình
cảm chân thực, xúc động. [39]. Đồng quan điểm trên, các tác giả Muốn viết
được một bài văn hay cũng cho rằng : “ phải nói lí lẽ gắn với tình cảm, cảm
xúc gắn với tình cảm vì đó là quy luật nhận thức thẩm mĩ, phải nói nội dung
gắn với hình thức, nói chi tiết hay bộ phận gắn với tổng thể, chỉnh thể nghệ
thuật vì đó là đặc điểm của tác phẩm văn học.” [20].
Tác giả Kỹ năng làm văn nghị luận phổ thơng trình bày cụ thể hơn về
tác dụng của yếu tố biểu cảm trong văn nghị luận: “khơi dậy tình cảm của con
người, làm cho khí thế của bài văn thêm mạnh mẽ, biểu hiện được giai điệu

Người viết (nói) phải chú ý làm cho cả cảm xúc và sự diễn tả cảm xúc
của mình đều chân thực.
2.2. Tình hình nghiên cứu việc hình thành kĩ năng sử dụng yếu tố biểu
cảm trong văn bản nghị luận
Với nhu cầu đổi mới việc dạy và học văn trên tất cả các bình diện, mơn
làm văn cũng có nhiều điểm chuyển biến. Các nhà nghiên cứu đã đi tìm và
xác lập những cơ sở lý luận và hình thành kĩ năng làm văn nghị luận cho học
sinh. Song do đề tài nghiên cứu, các cơng trình nghiên cứu về làm văn nói
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu –ĐHTN />
6

chung ít quan tâm đến vấn đề hình thành kĩ năng sử dụng yếu tố biểu cảm khi
tạo lập văn bản nghị luận cho các em. Tuy nhiên cũng có thể kể ra đây một số
tài liệu ít nhiều đề cập đến vấn đề này. Đầu tiên phải kể đến sự đóng góp của
Ngữ văn 8 (Sách học sinh và sách giáo viên). Bộ sách này đã giới thiệu cho
học sinh và giáo viên vai trò của yếu tố biểu cảm và cách đưa các yếu tố này
vào bài văn nghị luận. Đáng lưu ý nhất là các bài tập trong phần luyện tập ở
tiết lí thuyết và tiết thực hành luyện tập.
Ngồi ra có thể kể đến các bài tập bổ sung trong các sách tham khảo
cho giáo viên và học sinh như: Bài tập Ngữ văn 8, Nguyễn Khắc Phi (chủ
biên) Nguyễn Hồnh Khung, Lê Xn Thái, Lê A, Trần Đình Sử, nhà xuất
bản Giáo dục, Hà Nội năm 2006; Để học tốt Ngữ văn 8, Lê A, nguyễn Thị
Ngân Hoa, Lê Hải Anh, nhà xuất bản giáo dục 2010; Hướng dẫn dạy học Ngữ
văn 8,Nguyễn Khắc Phi (chủ biên), Lê A,Nguyễn văn Long, Lê Xn Thái,
nhà xuất bản Giáo dục 2001 ; Thiết kế dạy học Ngữ văn 8 Hồng Hữu Bội,nhà
xuất bản Giáo dục 2008; Hướng dẫn tập làm văn 8 Vũ Nho (chủ biên)
Nguyễn Th Hồng, Trần Thị Nga, Trần Thị Thành, nhà xuất bản Giáo dục
2008; Các dạng bài tập làm văn và cảm thụ thơ văn Cao Bích Xn, nhà xuất
bản Giáo dục 2010.
Rõ ràng, kĩ năng sử dụng yếu tố biểu cảm trong văn bản nghị luận đã

và gợi ý quan trọng để chúng tơi tiếp tục triển khai đề tài nghiên cứu của mình.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Từ việc nghiên cứu hệ thống bài tập trong sách giáo khoa, sách hướng
dẫn, sách tham khảo và thực tế sử dụng chúng trong q trình dạy học luyện tập
đưa yếu tố biểu cảm vào văn bản nghị luận cho học sinh lớp 8, có thể khẳng định
rằng: Sử dụng hệ thống bài tập như một phương tiện để luyện tập cho các em kĩ
năng sử dụng yếu tố biểu cảm khi tạo lập văn bản nghị luận là cần thiết.
Hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng khi sử dụng một cách linh hoạt, sáng tạo
sẽ giúp cho các em có thêm kĩ năng viết được một bài văn nghị luận thành thạo và
kết hợp yếu tố biểu cảm hợp lý để bài văn thuyết phục, cảm hóa lòng người.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu –ĐHTN />
8

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của việc rèn luyện cho học sinh
lớp 8 kỹ năng sử dụng biểu cảm vào bài làm văn nghị luận thơng qua hệ thống
bài tập .
- Đề xuất hệ thống bài tập rèn luyện luyện cho học sinh lớp 8 kỹ năng
sử dụng yếu tố biểu cảm khi tạo lập văn bản nghị luận và cách thức thực hiện
hệ thống bài tập đó trong thực tiễn dạy học làm văn ở lớp 8.
- Tiến hành thực nghiệm dạy học nhằm kiểm tra tính khả thi và hiệu quả
của các giải pháp được đề xuất.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu q trình tổ chức dạy và học làm văn nghị luận ở lớp 8.
Đặc biệt là việc nghiên cứu kỹ năng sử dụng yếu tố biểu cảm trong bài văn
nghị luận cho học sinh lớp 8.
Phạm vi nghiên cứu tập trung vào q trình tổ chức rèn luyện cho học
sinh lớp 8 kỹ năng sử dụng yếu tố biểu cảm trong khi tạo lập văn bản nghị
luận theo chương trình và sách giáo khoa hiện hành.

Quang Bình, tỉnh Hà Giang.
- Rút ra nhận xét, kết luận về kết quả q trình thực nghiệm nói riêng
cũng như q trình nghiên cứu nói chung. Kết quả thực nghiệm là căn cứ để
khẳng định mức độ thành cơng của đề tài.
- Nêu ý kiến đề xuất của bản thân.
Phương pháp thực nghiệm mang tính khách quan khoa học, sẽ giúp mọi
người thấy vững tin hơn khi áp dụng đề tài vào thực tiễn giảng dạy.
7. Đóng góp của luận văn
- Luận văn góp phần thực hiện nhiệm vụ của mơn học: hình thành và
rèn luyện năng lực tạo lập văn bản, năng lực giao tiếp cho học sinh.
- Trên cơ sở phân tích cơ sở lí thuyết và thực tiễn, luận văn góp phần hồn
thiện hệ thống bài tập luyện tập sử dụng yếu tố biểu cảm trong văn nghị luận.
- Luận văn có thể là tài liệu tham khảo bổ ích cho giáo viên và học sinh
khi dạy và học bài về sử dụng yếu tố biểu cảm trong văn bản nghị luận.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu –ĐHTN />
10

8. Cấu trúc của luận văn
Luận văn gồm 3 phần: Mở đầu, Nội dung và Kết luận
Phần nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc giải quyết nhiệm vụ
nghiên cứu
Chương 2: Hệ thống bài tập luyện cho học sinh lớp 8 kĩ năng sử dụng
yếu tố biểu cảm khi tạo lập văn bản nghị luận.
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu –ĐHTN />
11

bày một chuỗi sự việc liên quan đến nhau, sự việc này dẫn đến sự việc kia,
cuối cùng có một kết thúc. Đó chính là phương thức tự sự.
Khi muốn làm rõ đặc điểm cơ bản của đối tượng, cung cấp tri thức về
các hiện tượng và sự vật trong tự nhiên và xã hội thì người nói và viết phải
trình bày, giới thiệu, giải thích… Một cách khách quan về đối tượng đó.
Người ta gọi đây là phương thức thuyết minh.
Cuối cùng, phương thức điều hành là phương thức dùng các động tác
hướng dẫn, chỉ đạo, sai khiến, ra lệnh, điều khiển, đề đạt, kiến nghị… Nhằm
truyền đạt những nội dung và u cầu nào đó từ cấp trên xuống hoặc bày tỏ
những ý kiến, nguyện vọng của cá nhân hay tập thể tới các cơ quan và người
có quyền hạn để giải quyết. Trong chương trình và SGK gọi là văn bản hành
chính - cơng vụ.
1.1.1.2. Các kiểu loại văn bản dựa theo phương thức biểu đạt chính
Lâu nay, người ta chia các kiểu loại văn bản dựa vào các tiêu chí sau :
a) Dựa vào cách thức phản ánh hiện thực bằng có hay khơng xây xựng
hình tượng nghệ thuật, người ta thường chia vặn bản thành hai loại: văn bản
nghệ thuật và văn bản phi nghệ thuật.
b) Dựa vào phong cách chức năng và mục đích giao tiếp: văn bản hành
chính - cơng vụ, văn bản báo chí, văn bản chính luận,văn bản khoa học và văn
bản nghệ thuật
c) Dựa vào các phương thức biểu đạt cơ bản, người ta chia văn bản
thành sáu kiểu văn bản :
+ Văn bản Tự sự
+ Văn bản Miêu tả
+ Văn bản Biểu cảm
+ Văn bản Thuyết minh
+ Văn bản Nghị luận
+ Văn bản Hành chính - cơng vụ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu –ĐHTN />

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu –ĐHTN />
14

“Phải bán con, chị Dậu như đứt từng khúc ruột. Gia cảnh đã đến bước
đường cùng buộc chị phải làm cái việc đau lòng ấy. Xót chồng đau ốm mà bị
đánh đập, cùm kẹp, chị đã lấy thân mình che chở cho chồng.Thậm chí chị còn
sẵn sàng chống trả lại tên cai lệ và người nhà Lý trưởng để bảo vệ anh Dậu,
Đến khi bị giải lên huyện, ngồi trong qn cơm mà nhịn đói, chị vẫn chỉ nghĩ
đến chồng, đến cái Tỉu, thằng Dần, cái Tý ”
(Một số kiến thức - kĩ năng và bài tập nâng cao Ngữ văn 8)
Đoạn trích này thuộc kiểu văn bản nghị luận. Luận điểm là: Chị Dậu là
hình ảnh người phụ nữ thương chồng, thương con, giàu lòng vị tha và đức hi
sinh.Trong đoạn trích chúng ta bắt gặp hàng loạt những yếu tố biểu cảm: đau
lòng, xót chồng, đứt từng khúc ruột, che chở cho chồng, nghĩ đến chồng
Chính những yếu tố biểu cảm này đã làm cho luận điểm trở nên sáng rõ hơn,
tác động mạnh mẽ đến người đọc, thuyết phục người đọc cả lí trí và đồng
thương cảm với gia cảnh nhà chị Dậu.Yếu tố biểu cảm chỉ đóng vai trò bổ trợ
khơng được tách biệt khỏi q trình nghị luận và khơng làm mờ nhạt vai trò
của nghị luận.
(b). Mục đích của việc sử dụng yếu tố biểu cảm trong bài văn nghị luận.
Nói đến văn nghị luận, khơng có nghĩa là trình bày vấn đề một cách
khơ khan, trừu tượng, từ chối mọi cảm xúc và hình ảnh. Văn nghị luận cũng
rất cần phải hấp dẫn lơi cuốn bằng những từ ngữ có tính hình tượng và sức
biểu cảm cao.Văn nghị luận được làm nên bằng sức mạnh chủ yếu là lí trí của
người làm văn, với mục đích tác động vào lí trí của người được thuyết phục.
Còn biểu cảm là một hoạt động nhằm bộc lộ tình cảm của người viết (người
nói) và nhằm tác động vào tình cảm người đọc (người nghe). Tình cảm và lí
trí hòa hợp với nhau, bổ trợ cho nhau, tình cảm có thể giúp cho những điều
được lí trí nêu ra có thêm sức lay động, cảm hóa lòng người. Những yếu tố
biểu cảm ấy tác động mạnh mẽ vào trái tim người đọc, người nghe, và chinh

cảm xúc, suy nghĩ bằng những từ ngữ trực tiếp gợi lên những cảm xúc ấy,
những câu văn cảm thán hay cả trong giọng điệu chứa chan tình cảm.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu –ĐHTN />
16

Biểu cảm gián tiếp là cách biểu hiện tình cảm thơng qua những hình
ảnh miêu tả, những câu chuyện gợi ra những suy nghĩ liên tưởng…Thường thì
yếu tố biểu cảm trong một bài văn thể hiện rõ nhất nhờ biểu cảm trực tiếp, tức
là ở những từ ngữ chỉ cảm xúc, ở những câu cảm thán, ở giọng văn.
(d). Các trường hợp sử dụng yếu tố biểu cảm
Nếu thiếu yếu tố biểu cảm, sức thuyết phục của nghị luận nhất định sẽ
giảm đi. Tuy nhiên, khơng phải cứ sử dụng bất kỳ yếu tố biểu cảm nào cũng
làm cho sức thuyết phục của bài văn nghị luận tăng lên.Vì thế u cầu sử
dụng biểu cảm chỉ với vai trò phục vụ cho cơng việc nghị luận. Yếu tố biểu
cảm trong một bài nghị luận sẽ khơng được xem có giá trị khi nó làm vỡ
mạch nghị luận chung, và người nghị luận sẽ khơng thể biểu cảm nếu khơng
có cảm xúc chân thành. Cho nên người làm bài nghị luận phải thực sự có tình
cảm, cảm xúc đối với những điều mình nói ra, và truyền đến người đọc bằng
ngơn ngữ sao cho thành thạo và truyền cảm nếu khơng sẽ khơng thể trinh
phục được tình cảm của người đọc (người nghe).
Yếu tố biểu cảm làm cho bài văn nghị luận trở lên có hồn, có sức sống
hơn, có sức thuyết phục và lay động lòng người mạnh mẽ hơn. Nhưng việc
đưa biểu cảm vào bài văn nghị luận cũng khơng được tùy tiện bởi khơng phải
bất cứ khi nào sử dụng yếu tố biểu cảm cũng đều làm tăng giá trị cho bài nghị
luận. Yếu tố biểu cảm chỉ cần thiết và chỉ có giá trị khi nó giúp cho sự nghị
luận đạt được hiệu quả thuyết phục cao hơn. Và dù thế nào đi chăng nữa, đã là
văn nghị luận thì vai trò của lập luận bao giờ cũng là chính yếu, yếu tố biểu
cảm chỉ là thứ yếu, là yếu tố phù trợ. Khi làm văn nghị luận nhất thiết khơng
được để cho yếu tố biểu cảm tách rời khỏi q trình nghị luận, cản trở mạch
lạc nghị luận hay lấn át vai trò nghị luận. Đó là vị trí hợp lý của yếu tố biểu

trong điều kiện thay đổi [47]. Ơng chỉ rõ hơn rằng: Con đường hình thành kĩ
năng là con đường luyện tập và tác dụng của kỹ năng là tạo điều kiện cho con
người hành động trong điều kiện quen thuộc và khơng quen thuộc.
Trong từ điển Tâm lý học, nêu “Kĩ năng được quan niệm là: Năng lực
vận dụng có kết quả những tri thức về phương thức hành động đã được chủ
thể lĩnh hội để thực hiện những nhiệm vụ tương ứng”.[13;131]
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu –ĐHTN />
18

Theo Từ điển Tiếng Việt, “Kĩ năng được định nghĩa là khả năng vận
dụng những kiến thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực
tế”.[24;501]
Giáo trình Làm văn định nghĩa kĩ năng là “Từ những kiến thức được
trang bị, người học cần có khả năng vận dụng chúng vào thực tế. Khả năng
vận dụng đó gọi là kĩ năng” [38; 303]
Như vậy, có thể nhận định rằng kĩ năng là khả năng của con người thực
hiện một cách có hiệu quả một hành động nào đó để đạt được mục đích đã xác
định bằng cách lựa chọn và áp dụng những cách thức hành động phù hợp với
điều kiện, hồn cảnh, phương tiện nhất định. Kĩ năng biểu hiện trình độ các
thao tác tư duy, năng lực hành động và phương tiện kĩ thuật của hành động.
1.1.2.2. Kĩ năng sử dụng kết hợp yếu tố biểu cảm khi tạo lập văn bản
nghị luận
Trên thực tế khơng có một văn bản nào chỉ đơn thuần sử dụng duy nhất
một phương thức biểu đạt. Muốn có một văn bản hay, thuyết phục người đọc,
thể hiện được hết mọi sắc thái cung bậc tình cảm, suy nghĩ của người viết cần
phải biết kết hợp các phương thức biểu đạt trong đó. Song thế nào gọi là biết
kết hợp các phương thức biểu đạt? Nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng :
“Một văn bản được cho là biết kết hợp các phương thức biểu đạt khi nó có thể
trả lời các câu hỏi sau: Kết hợp khi nào? Kết hợp với cái gì? Kết hợp để làm
gì? Kết hợp như thế nào?


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status