RÈN LUYỆN CHO HỌC SINH LỚP 10 CÁCH VIẾT MẠCH LẠC BÀI VĂN NGHỊ LUẬN LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN - Pdf 13

A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Làm văn có mối quan hệ chặt chẽ với Văn và Tiếng Việt, vì vậy
giờ học làm văn được xem như giờ học thực hành tổng hợp những kiến thức
Văn học và Tiếng Việt của học sinh “Trong số các môn học của chương trình
giảng dạy Ngữ văn ở trường phổ thông tập làm văn là một môn học mang tính
chất tổng hợp rất rõ rệt. Trước hết, để viết được một bài văn hoàn chỉnh (dù ở
thể loại miêu tả, kể chuyện hay ở thể loại nghị luận văn học, nghị luận chính
trị - xã hội …), học sinh bao giờ cũng phải cùng một lúc huy động những kiến
thức đã được trang bị của mình về ngôn ngữ (bao gồm tất cả các năng lực sử
dụng các đơn vị ngôn ngữ và các quan hệ ngữ pháp), về tư duy (bao gồm tất
cả các khả năng: phân tích, tổng hợp, khái quát, phán đoán, suy luận…) và về
cả quan điểm, lập trường của các quá trình nhận thức và đánh giá”. Làm văn ở
THPT thể hiện ở nhiều dạng khác nhau như : Văn biểu cảm, tự sự, thuyết
minh, nghị luận. Trong đó văn nghị luận có tầm quan trọng đặc biệt, được ưu
tiên hơn cả, được coi là một trong những tri thức then chốt nhất. Để làm được
một bài nghị luận có chất lượng cao, học sinh cần phải:
-Biết xác định đúng yêu cầu của đề.
-Biết tìm ý và sắp xếp thành một dàn bài cụ thể.
-Biết diễn đạt ý thành một bài văn hoàn chỉnh, mạch lạc.
Cả ba yếu tố trên rất quan trọng trong việc rèn luyện kỹ năng làm văn
nghị luận cho học sinh.
Từ thực tế giảng dạy chúng tôi nhận thấy rằng, điều khiến giáo viên
quan tâm nhất vẫn là rèn luyện cho học sinh viết mạch lạc văn nghị luận. Để
viết được bài văn nghị luận mạch lạc, người viết phải suy nghĩ, phải tìm ra
được các ý, sắp xếp một cách hợp lý, diễn đạt sao cho lôgic vấn đề cần nghị luận.
Xét về phương diện lý thuyết, vấn đề quan trọng trên đã được đặt ra từ
lâu. Tuy nhiên, lý thuyết môn làm văn nói chung, cũng như lý thuyết về kỹ
năng viết mạch lạc văn nghị luận nói riêng còn nhiều lúng túng, chưa được
giải quyết một cách toàn diện, có rất nhiều tài liệu đề cập tới kỹ năng làm văn
nghị luận, nhưng phần lớn đề cập một cách chung chung, ít có tài liệu viết

mực của đạo đức xã hội.
Vì những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài “Rèn luyện cho học sinh lớp
10 cách viết mạch lạc bài văn nghị luận”, nhằm góp phần nâng cao kỹ năng làm
văn nghị luận cho học sinh, đáp ứng những yêu cầu mới của giáo dục hiện nay.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Lí thuyết làm văn
Văn nghị luận là một thể văn ra đời từ rất lâu. Ở Trung Hoa văn nghị
luận có từ thời Khổng Tử (551- 479 TCN). Ở nước ta văn nghị luận cũng là
một thể loại có truyền thống lâu đời, có giá trị và tác dụng hết sức to lớn trong
công cuộc dựng nước và giữ nước, trong đời sống văn hoá xã hội. Có thể kể
từ Chiếu dời đô (1010) của Lý Công Uẩn, Hịch tướng sĩ (1285) của Trần
Quốc Tuấn cho đến Bình Ngô đại cáo(1428) của Nguyễn Trãi; từ bài tựa sách
Trích diễm thi tập (1497) của Hoàng Đức Lương, Chiếu cầu hiền (1788) của
Ngô Thì Nhậm, đến bản điều trần Xin lập khoa luật (1867) của Nguyễn
Trường Tộ; Chiếu Cần Vương (1885). Đặc biệt thế kỷ XX, văn nghị luận
càng phát triển mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Hàng loạt tên tuổi các nhà chính
luận, văn luận xuất sắc với những áng nghị luận bất hủ, mà tiêu biểu nhất là
Chủ tịch Hồ Chí Minh với bản Tuyên ngôn Độc lập, cùng với biết bao nhà
văn viết nghị luận nổi tiếng sau này như Hoài Thanh với Thi nhân Việt Nam,
Xuân Diệu với Nhà thơ cổ điển Việt Nam.
3
Nói về lí thuyết làm văn có nhiều công trình nghiên cứu, các bài viết về
cách làm văn, trong số những cuốn sách đó:
Cuốn “Dạy văn, học văn” - Nhà xuất bản Đại học Sư phạm năm 2001-
Đặng Hiển, tác giả cuốn sách chỉ ra công đoạn vận dụng kiến thức trong bài
làm văn là rất quan trọng để có thể viết được một bài văn tốt.
“Bí quyết giỏi văn” - Nhà xuất bản Giáo dục năm 2003 - Vũ Ngọc
Khánh. Trong cuốn sách tác giả đã đề cập đến những điều cần thiết để làm
văn cho hay. Ở chương IV nói về chín điều tâm niệm trong cách viết văn, có
những điều như sau:

những bài làm văn tham khảo về nghị luận xã hội và nghị luận văn học.
“Rèn kỹ năng làm văn và bài văn mẫu lớp 10 tập 1” – Nhà xuất bản Đại
học quốc gia Hà Nội, năm 2010- Lê Anh Xuân (chủ biên),Vũ Thị Dung, Đỗ
Lê Hoàn, Bùi Thùy Linh, Ngô Thị Thanh, Nguyễn Thị Ánh Tuyết. Chương 1,
tác giả đã cung cấp những lý thuyết cơ bản hướng dẫn làm văn, chẳng hạn
như các kiểu làm văn biểu cảm, văn tự sự, văn thuyết minh, văn nghị luận.
Đến chương 2, tác giả cung cấp những bài văn mẫu với những đề bài gần gũi
với học sinh lớp 10.
Trên đây chúng tôi đã trình bày những nghiên cứu cách làm văn nói
chung và kiểu bài nghị luận nói riêng. Nhìn chung các tác giả khi viết về cách
thức làm bài văn nghị luận đều đề cập đến các thao tác trong bài làm văn, đề
cập đến vận dụng kiến thức văn học và kiến thức xã hội vào bài làm như là
một đòi hỏi bắt buộc, có tính nguyên tắc. Nhưng làm thế nào để học sinh viết
mạch lạc bài văn nghị luận thì chưa đề cập đến.
5
2.2. Lí thuyết mạch lạc
Mạch lạc trong văn bản đã được nhắc đến từ lâu, nhiều người có thể
nhận ra một văn bản có mạch lạc hay không mạch lạc, đôi khi ít mạch lạc,
nhưng không chỉ ra được mạch lạc là gì? Như vậy, mạch lạc trong văn bản là
một hiện tượng có thực nhưng không rõ ràng. Cuốn “Giao tiếp diễn ngôn và
cấu tạo của văn bản” của tác giả Diệp Quang Ban định nghĩa về mạch lạc như
sau: “Mạch lạc là sự nối kết có tính chất hợp lí về mặt nghĩa và về mặt chức
năng, được trình bày trong quá trình triển khai một văn bản (như một truyện
kể, một cuộc thoại, một bài nói hay bài viết…), nhằm tạo ra những sự kiện nối
kết với nhau hơn là sự liên kết câu với câu”. Từ định nghĩa đó ta cần chú ý
những yêu cầu sau:
Dùng “sự nối kết” nhằm tránh tên gọi có tính chất thuật ngữ là “liên
kết”. Liên kết chính là đối tượng nghiên cứu có tính chất riêng biệt của ngôn
ngữ học văn bản. “Có tính chất hợp lí” là có tính chất lôgic hiểu rộng, không
chỉ liên quan đến lôgic học một cách chặt chẽ, đó là tính chất đúng/sai nói

4. Phương pháp nghiên cứu
Trong suốt quá trình hoàn thiện luận văn, người viết đã sử dụng chủ
yếu những phương pháp nghiên cứu sau:
-Phương pháp phân tích: Phân tích nguyên nhân và kết quả thực
nghiệm điều tra và thực nghiệm dạy học.
-Phương pháp khảo sát, tổng hợp: Được dùng để khảo sát và đánh giá
kết quả điều tra từ đó tìm ra nguyên nhân của sự yếu kém trong việc vận dụng
kiến thức vào làm văn nghị luận của học sinh.
7
- hương pháp phân loại, thống kê: Nhằm thống kê, phân loại kết quả
điều tra tình hình vận dụng những kiến thức để viết mạch lạc của học sinh và
cách chấm bài của giáo viên đề cập đến kỹ năng viết mạch lạc.
- hương pháp so sánh văn học: So sánh kết quả làm văn giữa các lớp,
các khối. Để thấy được tình hình làm văn của học sinh có tiến bộ hay không.
- hương pháp thực nghiệm: Phương pháp này được áp dụng trong thực
nghiệm dạy học, cho học sinh làm bài tập, chứng minh tính hiệu quả của hệ
thống bài tập mà luận văn đề xuất sau khi khảo sát và nắm được tình hình học
văn và những yếu kém của học sinh khi viết văn nghị luận.
5. Đóng góp của luận văn
- Hệ thống hóa những vấn đề lí thuyết làm văn.
- Nêu cách hiểu về mạch lạc của bản thân.
- Đề xuất hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng viết mạch lạc bài văn nghị
luận.
6. Cấu trúc luận văn
A. Phần mở đầu
B. Phần nội dung
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc rèn luyện cách viết
mạch lạc bài văn nghị luận cho học sinh lớp 10
Chương 2: Rèn luyện cho học sinh viết mạch lạc bài văn nghị luận
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

- Vị trí của văn nghị luận trong nhà trường THPT
Văn nghị luận chiếm một vị trí quan trọng, điều này thể hiện ở sự phân
phối chương trình: số giờ học và thực hành kiểu bài nghị luận nhiều hơn so
với các giờ làm văn kiểu loại khác, bài văn nghị luận luôn xuất hiện trong các
bài kiểm tra và các kì thi: thi tốt nghiệp, thi tuyển sinh trung cấp, cao đẳng,
đại học thì 100% có bài văn nghị luận.
Bài văn nghị luận (nghị luận văn học và nghị luận xã hội) sẽ là cơ sở để
đánh giá năng lực của học sinh trong nhà trường cũng như trình độ của học
sinh qua các kì tuyển sinh, bài văn nghị luận sẽ bồi dưỡng, phát triển cho học
sinh năng lực khám phá vẻ đẹp của tác phẩm văn học cũng như hình thành
cho học sinh năng lực biết đánh giá đúng đắn, chính xác các hiện tượng xã
hội. Muốn biết được mức độ hiểu, khả năng tiếp nhận của học sinh về các tác
phẩm văn học và các hiện tượng của xã hội thì chỉ có một con đường đó là
qua các bài kiểm tra về văn nghị luận. Vì vậy văn nghị luận rất quan trọng
trong nhà trường, được xem như là một dạng văn quan trọng nhất, cơ bản nhất
trong nhà trường THPT hoàn toàn xứng đáng, tương xứng với vai trò của nó
trong sự nghiệp giáo dục hiện nay.
1.1.2. Mạch lạc
Mạch lạc là một vấn đề mới mẻ, được đề cập trong nhiều công trình
nghiên cứu mấy chục năm gần đây. Tính hấp dẫn của vấn đề này không chỉ ở
giá trị của bản thân khái niệm mà còn ở chỗ xác định mạch lạc của một số thể
loại văn bản, mạch lạc không chỉ được nghiên cứu trong văn học, trong ngôn
ngữ học mà cả trong tâm lí học. Trên thực tế đã tồn tại nhiều cách hiểu khác
nhau về khái niệm “mạch lạc”. Có nhà nghiên cứu cho rằng, mạch lạc là “đặc
tính bảo đảm cho các yếu tố khác nhau trong một văn bản khớp được với
nhau trong một tổng thể gắn kết”; hoặc mạch lạc là “sự nối kết có tính chất
10
lôgic được trình bày trong quá trình triển khai một cốt truyện, một truyện
kể ”; hoặc mạch lạc là “những mối quan hệ kết nối thiết lập được thông qua
ý nghĩa giữa các câu”.

đoạn, các câu thành một chỉnh thể ngữ nghĩa rõ ràng. Các phần, các đoạn, các
câu được trình bày theo một trình tự lôgic hợp lí, tạo sự kết nối tuần tự, liền
mạch trong suốt văn bản.
1.1.3. Mạch lạc trong văn nghị luận
Mạch lạc là bản chất của văn bản, của bất kì loại văn bản nào. Các thể
loại văn nói chung, nghị luận nói riêng đều cần có tính mạch lạc. Ở đâu có
hoạt động sản sinh văn bản, ở đó đòi hỏi sự có mặt của nó. Vì vậy, dạy học
sinh viết văn nghị luận phải quan tâm tới yếu tố mạch lạc.
Thông thường, trước khi viết một bài văn nghị luận, người viết phải
hình dung khá rõ ràng về điều mà mình muốn nói, hoàn toàn có chủ định từ
việc phân tích đề bài đến việc triển khai sắp xếp các ý, liên kết các câu, các
đoạn, các phần với nhau theo mục đích giao tiếp nhất định, để tạo thành một
bài văn hoàn chỉnh, liền mạch theo yêu cầu của đề. Đó chính là các biểu hiện
của tính mạch lạc trong một bài văn nghị luận mà giáo viên cần luyện cho học
sinh. Dưới đây chúng tôi làm sáng rõ các biểu hiện của tính mạch lạc trong
văn nghị luận.
- Mạch lạc đề tài
Đề tài ở đây được hiểu là mảng hiện thực được tác giả nhận thức và thể
hiện trong văn bản. Đề tài có thể rộng, ví dụ như đề tài về nông thôn, đề tài về
học sinh nhưng đề tài của văn bản cũng có thể hẹp hơn, nghĩa là mảng phạm
vi hiện thực nhỏ hơn, ví dụ mảng hiện thực về đời sống vật chất hoặc đời
sống tinh thần của nông dân, về việc trồng lúa, trồng rau hoặc trồng các loại
12
cây khác của họ Đề tài của văn bản có thể là một sự vật, một sự việc, một
hiện tượng, một thái độ, một con người nào đấy Khi tất cả các câu trong văn
bản chỉ tập trung về một hiện thực duy nhất, hoặc về những mảng hiện thực
có quan hệ rất gần gũi với nhau, không thể tách rời nhau như những mối quan
hệ ràng buộc tất yếu, thì văn bản đó được xác nhận có sự thống nhất về mặt
đề tài.
Sự thống nhất đề tài trong một văn bản thường được thể hiện chủ yếu

kiện nào đó đã, đang và sẽ xảy ra trong đời sống xã hội, tập trung vào các
thông số cơ bản: ai, cái gì, con gì, khi nào, với ai, như thế nào… Đó là những
thông tin về nội dung sự việc. Những đơn vị ngôn ngữ được sử dụng theo
nghĩa đen, nghĩa lôgic sự việc”. Thông tin bình luận là những thông tin có
tính chất “đánh giá, phán đoán riêng của người viết”, được thể hiện qua
những biện pháp tu từ như phép so sánh, nhân hoá. Hai loại thông tin này
thường gắn với nhau như hai mặt của một tờ giấy, trong sự kiện đã có bình
luận và trong bình luận đã có sự kiện. Khi xem xét các thông tin sự kiện,
người ta xét tới tính đúng, sai của nó, còn với thông tin bình luận thì xem xét
tính chân thành hay không chân thành.
Để thuyết phục người tiếp nhận văn bản đồng tình và làm cho họ tin
tưởng, trước hết, thông tin đưa ra trong văn bản phải được coi là đúng với
hiện thực khách quan và phù hợp với ngữ cảnh. Đó là nhiệm vụ của thông tin
sự kiện. Nhưng cách biểu hiện thông tin cũng phải thể hiện tính chân thành
của người viết. Nếu ví tính chính xác của thông tin sự kiện như cái khung làm
nên tính vấn đề thì tính chân thành ở thông tin bình luận là linh hồn, nơi biểu
hiện cá tính của thông điệp. Tính chân thành của thông tin bình luận chịu ảnh
hưởng nhiều từ tính đúng của thông tin sự kiện. Nếu thông tin sự kiện bị nghi
14
ngờ là sai, là không chính xác thì mọi sự bình luận xung quanh nó đều không
thể được coi là chân thành. Ngôn ngữ bình luận cho những sự kiện đúng
thường được nhận xét là có cảm xúc còn ngôn ngữ bình luận cho một sự kiện
chưa chính xác thì thường trở nên sáo rỗng và hô khẩu hiệu.
+ Lôgic trình bày
Lôgic trình bày trong văn nghị luận là sự sắp xếp hệ thống các ý theo
một trình tự hợp lí giúp cho người đọc dễ hiểu, có thể hiểu hoàn toàn, hiểu
một cách trọn vẹn nội dung thông tin của bài văn. Khi làm văn nghị luận
người viết phải mở rộng và triển khai chủ đề lớn thành các chủ đề nhỏ. Mỗi
chủ đề nhỏ chính là một ý hay còn gọi là một nhóm thông tin và thường được
trình bày thành một đoạn văn. Các chủ đề nhỏ hay các nhóm thông tin phải

văn thuộc về môn Văn, là bộ phận của môn Văn, quan niệm làm văn giúp học
sinh tạo lập được những văn bản văn học.
Đến cải cách giáo dục (1980-2001): Phần Làm văn là một phần riêng
của môn Văn, dạy Tiếng Việt có tính chất như là công cụ để làm tốt phần
Làm văn, xem làm văn là quá trình giúp học sinh xây dựng văn bản.
Lần thay sách giáo khoa gần đây: Phần Làm văn được tích hợp cùng
môn Văn và Tiếng Việt trong chương trình Ngữ văn mới, các kiểu văn bản của
làm văn chính là một trục để xây dựng nội dung, chương trình Ngữ văn THPT.
Trong lần thay sách này, phần Làm văn hầu như chưa được quan tâm
nhiều, kĩ năng viết văn mạch lạc hầu như ít đề cập đến. Môn quan tâm nhiều
nhất là giảng văn. Về mặt nào đó cũng có lí do của nó, tiếp nhận tác phẩm văn
chương là một vấn đề khoa học rất phức tạp và tinh tế, tỉ lệ thời gian dành cho
giảng văn trong chương trình lại lớn, đây là mảnh đất có nhiều vấn đề, nhiều
người có thể có ý kiến. Phần Làm văn, bản thân nó cũng có đầy đủ lí do và dữ
16
kiện đã được nhìn nhận một cách thỏa đáng cả về phương diện lí thuyết lẫn
thực tiễn, về phương diện dạy cũng như học, về yêu cầu cần đạt tới cũng như
hiệu quả thực tế thu lượm được nhiều năm qua.
Ở đây chúng ta một lần nữa xem xét lại mục tiêu, nhiệm vụ của làm
văn trong nhà trường THPT.
Về mục tiêu, làm văn ở THPT thực hiện sự hoàn chỉnh các tri thức và
kĩ năng làm văn, trang bị một hệ thống trọn vẹn, đầy đủ những vấn đề lí
thuyết cơ bản cũng như rèn luyện những kĩ năng chính trong việc xây dựng
văn bản.
Về nhiệm vụ, làm văn để nâng cao năng lực sử dụng ngôn ngữ tiếng
Việt. Ở bậc THPT học sinh cần có năng lực lĩnh hội, sản sinh các loại văn bản
nói và viết, năng lực thưởng thức, thẩm định giá trị nghệ thuật của các tác
phẩm văn chương. Làm văn còn có thể nâng cao năng lực tư duy qua năng lực
sử dụng ngôn ngữ, giúp học sinh biết tích lũy vốn tri thức, biết huy động và tổ
chức vốn tri thức đó vào một vấn đề nào đó, biết đặt ra vấn đề và hướng giải

sao sáng trong bầu trời văn nghệ dân tộc (Phạm Văn Đồng), Bàn về thơ
(Nguyễn Đình Thi), Một thời đại trong thi ca (Trích Thi nhân Việt Nam, Hoài
Thanh, Hoài Chân). Dạy làm văn nghị luận trong nhà trường THPT thực chất
là dạy học sinh xây dựng một văn bản nghị luận thông thường, có thể gặp
trong cuộc sống thường ngày, hay nói đúng hơn là dạy những thao tác làm
văn nghị luận – giống như trước đây mọi người vẫn gọi là Tập làm văn.
Trong chương trình mới, quán triệt yêu cầu giáo dục toàn diện, ngay từ
bậc THCS học sinh đã được học đầy đủ tri thức và các kĩ năng tạo lập sáu loại
văn bản: Văn bản miêu tả, tự sự, biểu cảm, thuyết minh, hành chính – công
18
vụ, nghị luận, cuối cấp II chương trình quy định chủ yếu học và làm văn nghị
luận. Trong chương trình cải cách giáo dục trước đây, cả ba khối 10,11, 12 chỉ
học về văn nghị luận. Trong chương trình mới, toàn bộ phần Làm văn chủ yếu
học về văn nghị luận. Học sinh học chương trình cải cách giáo dục hầu như
khi tốt nghiệp THPT quên hẳn đi mình đã từng được học làm văn miêu tả, tự
sự, hoặc việc viết một lá đơn, một văn bản hành chính – công vụ.
Từ đó có thể thấy được sức ảnh hưởng và tầm quan trọng của văn nghị
luận trong cả chương trình cũ và chương trình mới. Dạy làm văn nghị luận là
một công việc, một yêu cầu trọng yếu của việc học văn trong nhà trường. Có
thể nói trong nhà trường THPT, văn nghị luận chiếm vị trí và vai trò quan
trọng nhất, nếu không muốn nói là độc tôn.
1.2.3. Sách giáo khoa Làm văn 10
Nói đến dạy học trong nhà trường không thể không nhắc đến vai trò,
nhiệm vụ của SGK. Điều 25, mục Giáo dục phổ thông, luật Giáo dục ghi rõ
“SGK phải thể hiện mục tiêu, nguyên lý giáo dục, cụ thể hóa nội dung,
phương pháp giáo dục quy định trong chương trình giáo dục của từng bậc
học, cấp học, lớp học. SGK do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức biên soạn và
duyệt trên cơ sở thẩm định của Hội đồng quốc gia thẩm định SGK để sử dụng
chính thức, thống nhất, ổn định trong giảng dạy, học tập ở nhà trường và các
cơ sở giáo dục khác”.

Với tính phân hóa như vậy, nên mặt bằng chung trong cả nước phần
lớn (khoảng 80%) học sinh lựa chọn sử dụng SGK Chương trình cơ bản, vì
vậy người viết chỉ tìm hiểu SGK Chương trình cơ bản.
SGK Ngữ văn 10 (Chương trình cơ bản do GS Phan Trọng Luận tổng
chủ biên)
20
Tên môn học đã có sự thay đổi, nếu trước đây chúng ta thường gọi
chung là môn Văn, trong đó có ba phân môn: Giảng văn, Tiếng Vịêt và Làm
văn, và tương ứng với chúng là ba bộ sách: Văn học,Tiếng Việt và Làm văn,
được biên soạn một cách độc lập, riêng lẻ và mối quan hệ giữa chúng khá mờ
nhạt. Nay theo chương trình mới, môn học này được gọi là Ngữ văn và SGK
cũng chỉ còn một cuốn cho cả ba môn. Như thế có thể thấy sự thay đổi này là
sự thống nhất và tiếp tục nối kết với môn Ngữ văn THCS thành một chỉnh thể
thống nhất, bảo đảm tính liên thông, đồng bộ và nhất quán từ thấp đến cao.
Ngữ văn 10 Chương trình cơ bản gồm có 2 cuốn (Tập 1 và tập 2), trong
đó làm văn chiếm 35 tiết. Về phân phối chương trình có 7 bài viết trong đó có
3 bài viết ở nhà, 4 bài viết trên lớp, song song và tương ứng với 7 bài viết là
7 tiết trả, chữa bài. Còn lại đa số là tiết học hình thành lí thuyết và rèn luyện
các kĩ năng, thao tác làm văn. Về nội dung, có những nội dung sau: Chọn sự
việc, chi tiết tiêu biểu trong bài văn tự sự. Tóm tắt văn bản tự sự. Trình bày
một vấn đề. Các hình thức kết cấu của văn bản thuyết minh. Tính chuẩn xác
hấp dẫn của văn bản thuyết minh. Phương pháp thuyết minh. Luyện tập viết
đoạn văn thuyết minh . Tóm tắt văn bản thuyết minh. Lập dàn ý bài văn nghị
luận . Lập luận trong văn nghị luận. Các thao tác nghị luận. Luyện tập viết
đoạn văn nghị luận. Như vậy, ở lớp 10 học sinh được học khái quát về văn
nghị luận và cách làm bài văn nghị luận với những thao tác chung nhất, cơ
bản nhất như: Lập dàn ý bài văn nghị luận, các thao tác nghị luận, luyện tập
viết đoạn văn nghị luận, nhằm cung cấp cho học sinh một số kĩ năng văn bản
nghị luận thường gặp.
Về nội dung SGK Ngữ văn 10 có mối liên hệ chặt chẽ với chương trình

22
không hệ thống lại được các kĩ năng cần thiết mà học sinh cần được rèn
luyện. Dưới đây là một vài ví dụ tiêu biểu.
Giờ lí thuyết Các thao tác nghị luận, giáo viên nêu các khái niệm: thao
tác, thao tác nghị luận. Ôn tập một số thao tác nghị luận cụ thể. Phần luyện
tập giáo viên ít đề cập đến. Cách dạy chung của một số giáo viên mà chúng
tôi đã dự giờ là giáo viên cho học sinh đọc bài theo các đề mục, sau đó hỏi
theo các câu hỏi trong SGK. Giáo viên cũng đã cho học sinh thảo luận nhóm
nhưng có lẽ vì bài khó, câu hỏi cũng khó nên hầu như học sinh không trả lời
được theo yêu cầu. Nội dung của giờ học quá nặng, nhất là với học sinh nông
thôn và miền núi. Giáo viên dạy đã rất cố gắng song vẫn lúng túng nhiều về
cách thức tiến hành giờ học cho hiệu quả. Nhiều giáo viên cho biết, bản thân
họ để hiểu được bài dạy này cũng rất khó.
Giờ Lập dàn ý, giáo viên vẫn dạy tương tự phương pháp cũ. Tất cả các
hoạt động quan sát, lập dàn ý, học sinh đã chuẩn bị ở nhà. Đến lớp, giáo viên
gọi một đến hai em trình bày cách làm. Đáng lẽ giáo viên nên hỏi thêm một
số câu hỏi để củng cố kĩ năng lập dàn ý cho học sinh như: Tại sao phải xác
định luận đề? Xác định luận đề để làm gì? Sau khi xác định luận đề, tiếp theo
chúng ta nên làm gì?, nhưng giáo viên thường chỉ hỏi bằng một câu rất hình
thức: bạn làm như vậy đã được chưa? và nhận xét bằng vài lời rất chung
chung. Sự tham gia của học sinh chỉ tập trung vào một vài học sinh khá trong
lớp, do vậy các em vẫn chưa thấy hết vai trò quan trọng của việc lập dàn ý,
vẫn chỉ coi đó là một công đoạn mang tính hình thức nên không hào hứng
tham gia. Điều này dẫn tới tình trạng học sinh viết bài dập khuôn theo mẫu
dàn bài ở lớp, rất khó tìm ra những bài văn độc đáo, sáng tạo.
Tiết Luyện tập viết đoạn văn nghị luận, giáo viên thiếu những thao tác
hướng dẫn cụ thể để học sinh biết mình sẽ phải làm thế nào. Hầu như các giờ
dạy vẫn khoán trắng cho học sinh tự viết. Các em lại viết theo cảm tính, nghĩa
23
là không làm chủ được quá trình viết của mình, không lí giải được vì sao lại

không có hứng thú, không chuẩn bị bài, dưới đây là một số ví dụ tiêu biểu.
Giờ Các thao tác nghị luận. Phần các thao tác nghị luận cụ thể, khi
giáo viên hỏi đoạn văn đã sử dụng thao tác nghị luận nào? Thì học sinh trả lời
đó là thao tác phân tích, nhưng khi hỏi tại sao thì học sinh không trả lời được,
vì học sinh không đọc đoạn trích đó mà chỉ chép lại sách học tốt, khi hỏi nội
dung đoạn trích thì học sinh cũng không trả lời được. Giờ Lập dàn ý bài văn
nghị luận. Mặc dù sách giáo khoa đã định hướng luận đề, luận điểm, luận cứ
nhưng khi yêu cầu trả lời những câu hỏi ở sách giáo khoa thì học sinh không
biết trả lời. Luyện tập viết đoạn văn nghị luận. Chỉ có một số ít là luyện viết,
hầu như học sinh không rèn luyện kỹ năng viết đoạn văn.
Nhìn chung, học sinh chưa thấy được vai trò, tác dụng của học văn nghị
luận lớp 10. Vì vậy những tri thức và kĩ năng làm văn nghị luận chưa được
học sinh chú ý chủ động học tập và rèn luyện. Trên thực tế việc học văn nghị
luận của học sinh chỉ là học thuộc những kiến thức mà giáo viên truyền đạt,
“nhắc lại SGK”, chỉ tập trung vào học đọc – hiểu tác phẩm và làm văn chỉ là
những bài kiểm tra bắt buộc phải thực hiện. Kiểu học theo điệu “sáo” như cố
Thủ tướng Phạm Văn Đồng nói cách đây rất lâu nhưng vẫn còn tồn tại. Thủ
tuớng phê phán lối dạy học văn theo điệu "sáo", lối "múa chữ" sao chép.
Đáng trách là chúng ta chưa làm được bao nhiêu theo lời dạy của Thủ tướng
mà tình hình lại có chiều hướng xấu hơn.
Học đã vậy còn bài văn nghị luận của các em thật đáng buồn, làm văn
theo lối sao chép văn mẫu, kiến thức lủng củng, râu ông này cắm cằm bà kia,
những bài văn dở khóc dở cười còn đầy rẫy trong các kỳ thi. Kĩ năng làm văn
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status