Rèn luyện cho học sinh kỹ năng diễn đạt kết quả thu nhận và xử lý thông tin bằng sơ đồ, bằng hệ thống trong dạy học chương I - sinh học lớp 11 - trung học phổ thông - Pdf 25


1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC NGÔ THỊ THƠ RÈN LUYỆN CHO HỌC SINH KỸ NĂNG DIỄN ĐẠT KẾT QUẢ
THU NHẬN VÀ XỬ LÝ THÔNG TIN BẰNG SƠ ĐỒ,
BẢNG HỆ THỐNG TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG I -
SINH HỌC LỚP 11 - TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM SINH HỌC Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học
(Bộ môn Sinh học)
Mã số : 60 14 10

Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. NGUYỄN ĐỨC THÀNH


8
1.2.1. Quan niệm về học
8
1.2.2. Quan niệm về kỹ năng học
8
1.2.3. Cơ sở logic học của kỹ năng diễn đạt kết quả thu nhận và xử lý
thông tin

20
1.2.4. Cơ sở lý luận dạy học của biện pháp rèn luyện cho học sinh kỹ
năng diễn đạt kết quả thu nhận và xử lý thông tin

21
1.3. Cơ sở thực tiễn
22
1.3.1. Phương pháp xác định
22
1.3.2.Kết quả điều tra
22
Chƣơng 2: RÈN LUYỆN KỸ NĂNG DIỄN ĐẠT KẾT QUẢ THU
NHẬN VÀ XỬ LÝ THÔNG TIN BẰNG SƠ ĐỒ, BẢNG HỆ
THỐNG 27
2.1. Phân tích cấu trúc nội dung chương I - Sinh học 11 - Trung học
phổ thông

27
2.1.1. Các mạch kiến thức

46
Chƣơng 3: THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM
73
3.1. Mục đích thực nghiệm
73
3.2. Nội dung thực nghiệm
73
3.2.1. Nội dung của các bài dạy thực nghiệm
73
3.2.2. Các tiêu chí đánh giá kết quả thực nghiêm
73
3.3. Phương pháp thực nghiệm
73
3.3.1. Chọn mẫu
73
3.3.2. Bố trí thí nghiệm
74
3.3.3. Xử lý số liệu bằng thống kê toán học
74
3.4. Kết quả thực nghiệm
77
3.4.1. Kết quả định lượng
77
3.4.2. Kết quả định tính
83
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
89
1. Kết luận
89
2. Khuyến nghị

TN
Thực nghiệm
VD
Ví dụ

iii
DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang
Bảng 1.1: Kết quả điều tra nhận thức của GV đối với việc rèn luyện
cho HS kỹ năng diễn đạt kết quả thu nhận và xử lý thông tin

23
Bảng 1.2: Kết quả điều tra về việc thực hiện của GV trong rèn luyện
cho HS kỹ năng diễn đạt kết quả thu nhận và xử lý thông tin

24
Bảng 1.3: Kết quả điều tra về khả năng diễn đạt kết quả học tập của HS
25
Bảng 2.1: Hệ thống những nội dung của chương I cần diễn đạt bằng
sơ đồ, bảng


Trang
Biểu đồ 3.1: So sánh kết quả trong thực nghiệm của 2 nhóm TN và ĐC
80
Biểu đồ 3.2: So sánh kết quả sau thực nghiệm của 2 nhóm TN và ĐC
82

1
MỞ ĐẦU

(thầy), qua đó mà có ý kiến nhận xét, đánh giá để cùng nhau rút kinh nghiệm.
Khi diễn đạt kết quả học tập cá nhân thì mỗi người đã tự chọn được
cách diễn đạt phù hợp; nghĩa là sản phẩm được diễn đạt đã nêu được những
nội dung cơ bản, thể hiện rõ quan hệ của các nội dung, làm cho nội dung trở
nên hệ thống, logic. Như vậy, có kỹ năng diễn đạt kết quả học tập lại trở
thành phương tiện để tác động vào đối tượng, đồng thời lại là phương pháp
học hay cách học.
Dạy học ngày nay thực chất là dạy cách học, nghĩa là lấy nội dung làm
đối tượng dạy cho HS cách tác động để nhận thức được đối tượng. Từ cách
diễn đạt kết quả học tập mà nội dung học được học sinh nắm vững, đồng thời
có được kỹ năng quan trọng trong học tập.
1.3. Do thực trạng rèn luyện cho học sinh kỹ năng diễn đạt kết quả học tập
Trong những năm gần đây, ngành GD đã có nhiều đổi mới về chương
trình, sách giáo khoa và PPDH. Tuy nhiên, việc dạy và học trong nhiều
trường phổ thông vẫn còn chịu tác động nặng nề bởi mục tiêu thi cử dẫn đến
việc dạy học theo hướng tập trung ôn luyện kiến thức, thông báo kiến
thức…mà chưa thực sự quan tâm đến việc hình thành thói quen tự học, rèn kỹ
năng tự tìm kiếm, tự chiếm lĩnh tri thức cho người học. Bên cạnh đó, dù vẫn
có một bộ phận Giáo viên (GV) đã bước đầu quan tâm đến vấn đề rèn luyện
kỹ năng cho HS trong học tập như: kỹ năng sử dụng sách giáo khoa, kỹ năng
lập bảng hệ thống, kỹ năng giải bài tập…nhưng việc rèn kỹ năng diễn đạt kết
quả học tập lại chưa thực sự được quan tâm, chú trọng. Một trong những
nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên đó chính là sự "thách thức" đối với GV
trong vấn đề:biện pháp rèn luyện kỹ năng đó như thế nào?
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi đã lựa chọn và tiến hành
nghiên cứu đề tài “Rèn luyện cho học sinh kỹ năng diễn đạt kết quả thu
nhận và xử lý thông tin bằng sơ đồ, bảng hệ thống trong dạy học chương I
– Sinh học lớp 11 – Trung học phổ thông"

3

4
6.2. Điều tra sư phạm
- Sử dụng phiếu điều tra
- Nội dung điều tra:
(+) Điều tra nhận thức của GV về việc rèn luyện cho HS kỹ năng diễn
đạt kết quả thu nhận và xử lý thông tin
(+) Điều tra về việc thực hiện của GV trong việc rèn luyện cho HS kỹ
năng diễn đạt kết quả thu nhận và xử lý thông tin
(+) Điều tra khả năng diễn đạt kết quả học tập của HS
6.3. Quan sát sư phạm
- Quan sát trực tiếp: Dự giờ GV phổ thông
- Quan sát gián tiếp: Nghiên cứu giáo án, vở ghi, bài kiểm tra của HS.
6.4. Thực nghiệm sư phạm
Nhằm kiểm chứng giả thuyết khoa học của đề tài.
6.5. Xử lý số liệu
Sử dụng các tham số thống kê toán học để xử lý các số liệu thu được.
7. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục,
nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
Chương 2: Biện pháp rèn luyện kỹ năng diễn đạt kết quả học tập bằng
sơ đồ, bảng hệ thống kiến thức
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm


6
Liên quan đến vấn đề kỹ năng diễn đạt của HS trong tự học, năm 1981
- Brow, Campione và Day đã đưa ra phương pháp tóm tắt dựa trên các bước,
các nhà nghiên cứu như Valerie Anderson và Suzanne Hidi đã đưa ra một
"trường thiên tiểu thuyết" gồm nhiều tập xuất bản vào các năm 1987, 1988,
1989; đây thực chất chính là những báo cáo rất có ích trong lĩnh vực rèn luyện
phương pháp tóm tắt những tác phẩm văn học dài.
Bên cạnh việc ghi tóm tắt thì ghi ý chính cũng là một trong những kỹ
năng được nhiều tác giả quan tâm vì để ghi bài một cách hiệu quả, HS phải
xác định được cái gì là quan trọng nhất, sau đó diễn đạt những thông tin quan
trọng ấy thành một dạng cô đọng có cấu trúc đơn giản, dễ hiểu. Đây cũng
chính là một điểm mấu chốt của vấn đề tóm tắt. Một công trình nghiên cứu về
vấn đề này được đánh giá cao đó là: "Ghi ý chính: chúng ta biết gì về lợi ích
của nó?" (Beecher, 1988)
Ngoài ra còn có nhiều công trình nghiên cứu lý thuyết về các cách diễn
đạt phi ngôn ngữ như:
- Tạo ra các cách biểu hiện hình họa, đồ họa: Alverman và Boothby (1986);
McLaughlin (1991); Robinson và Kiewra (1996)…
- Vẽ ra các bức tranh và các hình tượng: Pruitt (1993); Macklin (1997)
1.1.2. Việt Nam
Trong lịch sử phát triển GD ở Việt Nam thì hoạt động tự học đã được
chú ý từ lâu. Hoạt động tự học thực sự được triển khai rộng rãi ngay từ khi
nền giáo dục cách mạng ra đời (1945), chính Hồ Chủ Tịch đã nhấn mạnh: "về
cách học, phải lấy tự học làm cốt"
Trong dạy cách học, để có thể tự học, người dạy cần phải quan tâm đến
vấn đề rèn luyện các kỹ năng học tập cho HS. Nhiều công trình nghiên cứu về
vấn đề này đã chỉ ra rằng: Nếu rèn luyện cho người học có được phương
pháp, kỹ năng, thói quen tự học, biết tự lực phát hiện, đặt ra và giải quyết các
vấn đề gặp phải trong thực tiễn thì sẽ tạo cho họ lòng ham học và khơi dậy
được tiềm năng vốn có trong mỗi người.


8
được (tr35) và biện pháp rèn luyện năng lực phân tích, diễn đạt nội dung
(tr55). Mặc dù vậy nhưng lượng thông tin về lý thuyết cũng như biện pháp rèn
kỹ năng diễn đạt vẫn còn hạn chế.
Như vậy, việc rèn luyện các kỹ năng học tập cho HS trong đó có kỹ
năng diễn đạt kết quả học tập không phải là một vấn đề mới mẻ đối với dạy
học trong nước cũng như trên thế giới. Tuy nhiên, chưa có công trình nào đi
sâu nghiên cứu cơ sở lý thuyết cũng như các biện pháp rèn luyện kỹ năng diễn
đạt kết quả thu nhận và xử lý thông tin trong dạy học Sinh học 11THPT. Do
đó, việc khái quát những vấn đề lý luận để đề ra biện pháp rèn luyện kỹ năng
diễn năng diễn đạt kết quả học tập trong dạy học Sinh học nói chung và Sinh
học 11 nói riêng là rất cần thiết.
1.2. Cơ sở lý luận
1.2.1. Quan niệm về học
Quan niệm về học hiện nay là sau khi thu nhận thông tin có tính cá
nhân, người học cần diễn đạt được kết quả thu nhận để trao đổi với bạn hoặc
thầy. Vậy diễn đạt thế nào cho phản ánh đúng bản chất, phản ánh được sự vận
động và phát triển kiến thức, kỹ năng đó cần được rèn luyện. Đó chính là loại
kỹ năng trong học và trao đổi thông tin.
1.2.2. Quan niệm về kỹ năng học
1.2.2.1. Khái niệm kỹ năng
Theo Từ điển từ và ngữ Việt Nam - tác giả: Nguyễn Lân (2000): Kỹ
năng là khả năng ứng dụng tri thức khoa học vào thực tiễn.
PGS.TS Nguyễn Quang Huỳnh cũng đã nói về kỹ năng - kỹ xảo trong
"Một số vấn đề lý luận giáo dục chuyên nghiệp và đổ mới phương pháp Dạy -
học" như sau: Kỹ năng - kỹ xảo là yếu tố không thể thiếu được đối với mỗi
người; ở trong mọi hoạt động sản xuất vật chất cũng như tinh thần, vì đó là sự
thực hiện phương pháp. Chất lượng của yếu tố kỹ năng, kỹ xảo biểu hiện ở sự
thành thạo và khéo léo trong công việc, góp phần quyết định năng suất lao


10
đến ý thức hoặc nếu có chỉ là ở mức độ thấp. Nói cách khác cần phải học
được một kỹ năng ở mức độ tự động. Để phát triển kỹ năng, HS phải đảm bảo
được cả về tốc độ và mức độ chính xác.[20, tr.89]
Chính vì lẽ đó, để rèn kỹ năng học tập cho HS cần phải:
- Tổ chức cho HS biết cách tìm tòi để nhận ra yếu tố cấu thành đối tượng nhận
thức mối quan hệ giữa chúng
- Tổ chức cho HS khái quát hóa dấu hiệu bản chất và chung của các đối tượng
cùng loại.[16, tr.6]
Muốn vậy, GV cần phải hướng dẫn cho HS vận dụng các thao tác tư duy:
phân tích - tổng hợp, so sánh, trìu tượng hóa, khái quát hóa, hệ thống hóa.
1.2.2.3. Khái niệm kiến thức và mối quan hệ giữa dạy kiến thức với dạy kỹ năng
Theo triết học, tri thức khoa học là tri thức chân thực về thế giới, được
khái quát từ thực tiễn và được thực tiễn kiểm nghiệm.
Trong quá trình học tập có thể hiểu kiến thức chính là những tri thức khoa
học cơ bản đã được chọn lọc trong tinh hoa di sản văn hóa - khoa học - nghệ
thuật của xã hội loài người và của dân tộc, đáp ứng mục tiêu giáo dục, được xắp
xếp có hệ thống, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của HS từng bậc học.
Quan điểm dạy học ngày nay không còn là chỉ chú trọng đến dạy kiến
thức mà song song với đó cần thiết phải dạy kỹ năng cho HS. Bởi giữa dạy
kiến thức và dạy kỹ năng có một quan hệ vô cùng mật thiết, tác động qua lại
hỗ trợ lẫn nhau. Thể hiện:
Đối với học sinh: HS nắm vững, hiểu rõ các kiến thức cơ bản chính là
nền tảng vững vàng để phát triển năng lực nhận thức ở cấp cao hơn. (trong đó
có năng lực thể hiện ở sự thực hiện tốt các kỹ năng, kỹ xảo). Ngược lại, nếu
có kỹ năng - kỹ xảo thuần thục trong học tập sẽ giúp người học nhanh chóng
chiếm linh được tri thức.
Đối với giáo viên: Việc dạy chỉ đạt kết quả tốt khi việc học đạt kết quả
tốt. Do vậy, muốn dạy kiến thức tốt thì đòi hỏi GV phải dạy cho HS cách học

các hoạt động như quan sát, điều tra thực nghiệm, nghiên cứu tài liệu…"

12
Tóm lại, trong học tập có thể hiểu thu nhận thông tin nghĩa là: nhận
vào, lấy vào trong đầu óc các tri thức từ nhiều kênh, nguồn khác nhau.
Trong cuộc sống, con người luôn có xu hướng tìm kiếm các thông tin
xung quanh mình. Để thu nhận thông tin trong học tập có thể dùng một số
phương pháp sau:
+ Phương pháp đọc sách và ghi chép;
+ phương pháp hỏi;
+ phương pháp nghe bài giảng và ghi chép;
+ phương pháp ghi nhớ thông tin…
Tuy nhiên, một vấn đề đặt ra là không phải cứ đọc, nghe, hỏi…như thế
nào cũng được. Xã hội ngày nay có quá nhiều những nguồn cung cấp thông
tin như: qua sách, báo, đài, đặc biệt là qua internet chứa đựng một nguồn
thông tin khổng lồ. Vấn đề ở chỗ, con người ta sẽ không thể thu nhận được
một cách hiệu quả lượng tri thức đó nếu như không có phương pháp, kỹ thuật;
cũng như không phải nguồn thông tin nào cũng là chân thực. Vì vậy, trong
học tập GV cần phải biết hướng dẫn, rèn luyện cho HS các biện pháp tiếp cận,
thu nhận thông tin một cách hiệu quả. VD như:
- Để thu thập thông tin qua phương pháp đọc sách thì cần lưu ý: Sách, tạp chí,
báo có nhiều loại, chúng ta cần lựa chọn sao cho thích hợp với chủ đề đang
cần, tránh đọc lan man làm vấn đề định tìm hiểu bị phân tán. Khi đọc một
cuốn sách có thể nhằm một hay nhiều mục đích, song cần xác định rõ ngay từ
đầu những mục đích nào để có hiệu quả thiết thực. Khi đọc sách cần ghi chép
những điều cần nhớ, có tác dụng tổ chức đối với việc học tập của người học,
giúp nâng cao khả năng tư duy và ngôn ngữ cho người học.
- Để thu thập thông tin qua phương pháp hỏi: Người học cần tự hỏi, tự trả lời
và hỏi bạn, hỏi thầy. Bản thân người học phải tự nêu lên các câu hỏi để trả lời.
Có thể hỏi bạn, học bạn thông qua các hình thức trao đổi cá nhân, thảo luận

Thông tin đầu vào
HỌC SINH
(Quá trình nhận thức,
giải quyết vấn đề)
Kết quả đầu ra

14
Theo từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên (NXB Đà Nẵng, 2011)
xử lý thông tin là: "áp dụng những thao tác nhất định để nghiên cứu, sử dụng"
Như vậy, xử lý thông tin trong học tập có thể hiểu đó là một khâu tiếp
theo sau giai đoạn thu nhận thông tin, quá trình này diễn ra trong trí óc của
người học bao gồm các thao tác tư duy: phân tích, so sánh, đối chiếu, khái
quát…các thông tin đã thu nhận được. Từ đó dẫn đến một số kết quả của quá
trình xử lý thông tin là: người học sẽ lược bỏ được những nội dung không cơ
bản, xác định được mối quan hệ giữa những nội dung cơ bản, hệ thống hóa
kiến thức, đưa được những kiến thức mới thu nhận vào vốn kiến thức đã biết
làm cho kiến thức cũ được nhìn nhận theo ánh sáng của kiến thức mới.
1.2.2.7. Khái niệm Sơ đồ, bảng hệ thống
Bảng biểu có thể hiểu là "một bản thường có cột và hàng, dùng để kê
một nội dung nào đó, theo thứ tự và cách thức nhất định" ( theo từ điển tiếng
Việt do Hoàng Phê chủ biên, NXB. Đà Nẵng, 2011)
Theo Hồ Thị Hồng Vân trong luận văn thạc sỹ: " Rèn luyện Học sinh kỹ
năng lập bảng hệ thống trong dạy học Sinh học 10 THPT", 2007 thì: Bảng hệ
thống là một công cụ để diễn đạt nội dung và giúp ta khảo sát sự vật, hiện
tượng bằng cách tiếp cận hệ thống. Bảng hệ thống được dùng để biểu thị mối
quan hệ giữa các đơn vị thông tin.
Như vậy, có thể rút ra một số đặc điểm cơ bản của bảng hệ thống như
sau:
- Bảng hệ thống có cấu trúc các cột, hàng;
- Trong mỗi cột, hàng trình bày các thông tin để chúng có thể quan hệ với các

sánh, đối chiếu…để tìm ra quy luật, rút ra kết luận, đó là xử lý thông tin.
- Tiếp theo thu nhận và xử lý thông tin, người học biết sắp xếp các thông tin
thành hệ thống, đó là diễn đạt kết quả học tập bằng các cách khác nhau. Do
vậy, HS sẽ có được tri thức sâu sắc và chính xác.
Sơ đồ là hình vẽ quy ước, có tính chất sơ lược, nhằm mô tả một đặc
trưng nào đó của sự vật hay một quá trình nào đó. (Theo từ điển tiếng Việt do
Hoàng Phê chủ biên, NXB. Đà nẵng, 2011).
Sơ đồ chính là một dạng biểu diễn của Graph. Một Graph gồm một tập
hợp điểm gọi là đỉnh của Graph cùng với một tập hợp đoạn thẳng hay đường
cong gọi là cạnh của Graph, mỗi cạnh nối hai đỉnh khác nhau và hai đỉnh
khác nhau được nối bằng nhiều nhất một cạnh. ( Theo L.In.Beredinna: Graph
và ứng dụng của nó, NXB. Giáo dục, Hà Nội, 1997)
Qua hai định nghĩa trên có thể rút ra một số đặc điểm cơ bản của sơ đồ
như sau:
- Sơ đồ là một hình vẽ mang tính quy ước nhằm mô tả một đặc trưng (cấu
trúc, mối quan hệ) của sự vật, hiện tượng.

16
- Sơ đồ gồm có các đỉnh và các cạnh, mỗi cạnh nối hai đỉnh khác nhau.
- Sơ đồ có thể có những cách thể hiện khác nhau nhưng phải chỉ rõ được mối
quan hệ giữa các đỉnh.
Ví dụ (VD) về sơ đồ: Nhai lại
học)
Dạ lá
sách: hấp
thụ bớt
nước
(tiêu hóa
cơ học)
Dạ múi
khế: tiêu
hóa cơ
học và
hóa học
Manh
tràng:
tiêu hóa
sinh học
Ruột non:
Tiêu hóa
hóa học
HẤP THỤ

17
Vậy ở đây có thể hiểu diễn đạt thông tin đã thu nhận và xử lý nghĩa là
người học sử dụng ngôn ngữ của chính mình (hoặc sử dụng hình thức khác:
hình vẽ, đồ họa…) để thể hiện rõ những điều (kiến thức) đã thu nhận, xử lý để
cho những người khác cùng chia sẻ và đánh giá.
Có thể nói diễn đạt thông tin đã thu nhận và xử lý chính là thể hiện sản
phẩm của quá trình tự học, vì lúc này toàn bộ thông tin đã được thu nhận và
xử lý trong não bộ cần phải được thể hiện ra trên giấy (bảng…) để phục vụ
cho việc học tập cũng như để được đánh giá, nhận xét. Đây chính là kết quả

- Xác định được tên các hàng, cột
- Xác định được tên bảng
Nếu diễn đạt thông tin đã thu nhận và xử lý bằng sơ đồ thì người học
cần chú ý:
- Nắm vững nội hàm, ngoại diên của khái niệm lớn phân chia thành khái niệm
nhỏ và phân chia theo nguyên tắc:
+ Ngoại diên của các khái niệm nhỏ đã phân chia cộng lại phải vừa
bằng ngoại diên của khái niệm lớn bị phân chia.
VD:

Sơ đồ cấu tạo hệ tuần hoàn
+ Khi phân chia phải căn cứ vào cùng một thuộc tính. Tùy mục đích phân
chia mà lấy thuộc tính này hay thuộc tính kia làm căn cứ. Ví dụ:
Nếu căn cứ vào đặc điểm cấu tạo của cơ quan tiêu hóa thì có thể chia
các hình thức tiêu hóa ở động vật như sau:
Hệ tuần
hoàn
Dịch tuần hoàn
Tim
Hệ mạch
Động mạch
Mao mạch
Tĩnh mạch
Máu

Sơ đồ các hình thức hô hấp ở động vật
Các hình thức
tiêu hóa
Tiêu hóa ở ĐV chưa có cơ
quan tiêu hóa
Tiêu hóa ở ĐV có túi tiêu
hóa
Tiêu hóa ở ĐV có ống tiêu
hóa
Các hình thức
tiêu hóa
Tiêu hóa nội bào
Tiêu hóa ngoại bào
Các hình thức
hô hấp
Hô hấp bằng bề mặt
trao đổi khí
Hô hấp trong
Hô hấp ngoài

Trích đoạn Giải thích quy trình Ví dụ minh họa Ví dụ minh họa Biện pháp rèn luyện các kỹ năng diễnđạt cụ thể Biện pháp rèn luyện các kỹ năng diễnđạt cụ thể
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status