ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
---------------------
ĐẶNG TIẾN PHONG
CHIẾN LƢỢC PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ
THẨM ĐỊNH GIÁ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN THÔNG TIN
VÀ THẨM ĐỊNH GIÁ MIỀN NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
CHƢƠNG TRÌNH ĐỊNH HƢỚNG THỰC HÀNH
Hà Nội – 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
---------------------
ĐẶNG TIẾN PHONG
CHIẾN LƢỢC PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ
THẨM ĐỊNH GIÁ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN THÔNG TIN
VÀ THẨM ĐỊNH GIÁ MIỀN NAM
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
Mã số: 60 34 01 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
CHƢƠNG TRÌNH ĐỊNH HƢỚNG THỰC HÀNH
XÁC NHẬN CỦA
giá tại Công ty Cổ phần Thông tin và Thẩm định giá miền Nam” là công
trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu , kế t quả nêu trong luâ ̣n văn là trung thƣ̣c . Kết quả nghiên
cứu đƣợc trình bày trong luận văn này chƣa đƣợc công bố tại bấ t kỳ công
trình nào khác.
Các kết quả, số liê ̣u do tác giả trƣ̣c tiế p thu thâ ̣p, thố ng kê và xƣ̉ lý . Các
nguồ n dƣ̃ liê ̣u khác đƣơ ̣c tác giả sƣ̉ du ̣ng trong luâ ̣n văn đề u ghi nguồ n tr ích
dẫn và xuấ t xƣ́.
Hà Nội, ngày 18 tháng 8 năm 2015
Tác giả luận văn
Đặng Tiến Phong
TÓM TẮT
Luâ ̣n văn nghiên cứu tổng quan về thị trƣờng thẩm định giá, các yếu tố
tác động và xu hƣớng phát triển của thị trƣờng này trong những năm tới, trên
cơ sở đó đề ra các giải pháp chiến lƣợc phát triển DVTĐG tại Công ty Cổ
phần Thông tin và Thẩm định giá miền Nam.
Trên cơ sở lý luận về chiến lƣợc phát triển DVTĐG, tác giả tiến hành
nghiên cứu phân tích môi trƣờng nội bộ, môi trƣờng bên ngoài và phân tích so
sánh công ty với các đối thủ cạnh tranh trên thị trƣờng nhằm xác định vị thế
của công ty và thực trạng về DVTĐG tại Việt Nam nói chung và Công ty cổ
phần Thông tin và Thẩm định giá miền Nam nói riêng, đồng thời xác định
những điểm mạnh, điểm yếu, các cơ hội và thách thức của Công ty trong hoạt
động DVTĐG.
Dữ liệu đầu vào cho luận văn đƣợc tác giả thu thập từ nguồn dữ liệu
thứ cấp là các văn bản pháp luật, công trình nghiên cứu khoa học, các báo cáo
tổng hợp, báo cáo hoạt động kinh doanh, nguồn thông tin từ Bộ Tài chính,
Hiệp hội thẩm định giá Việt Nam và nguồn thông tin sơ cấp đƣợc thu thập từ
1.2.2. Khái niệm DVTĐG ........................................................................................... 6
1.2.3. Đặc điểm DVTĐG ............................................................................................ 8
1.2.4. Vai trò của TĐG .............................................................................................. 10
1.2.5. Những yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến DVTĐG ............................................ 11
1.2.6. Phát triển DVTĐG .......................................................................................... 17
1.3. Cơ sở lý luận về chiến lƣợc phát triển DVTĐG ................................................ 18
1.3.1. Khái niệm chiến lược phát triển DVTĐG .................................................... 18
1.3.2. Sự khác biệt giữa chiến lược phát triển DVTĐG với các chiến lược kinh
doanh 19
1.3.3. Vai trò, ý nghĩa của chiến lược phát triển DVTĐG .................................... 19
1.3.4. Quy trình xây dựng chiến lược phát triển DVTĐG .................................... 20
1.3.5. Các công cụ xây dựng chiến lược phát triển DVTĐG ............................... 25
CHƢƠNG 2: PHƢƠNG PHÁP VÀ THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU .................................... 28
2.1. Thu thập dữ liệu ..................................................................................................... 28
2.1.1. Thu thập dữ liệu thứ cấp: .............................................................................. 28
2.1.2. Thu thập dữ liệu sơ cấp: ................................................................................ 29
2.2. Quy trình nghiên cứu: ........................................................................................... 30
2.3. Phƣơng pháp xử lý số liệu .................................................................................... 31
CHƢƠNG 3: PHÂN TÍCH VỀ DVTĐG TẠI SIVC ......................................................... 32
3.1. Giới thiệu khái quát về SIVC ............................................................................... 32
3.1.1. Quá trình hình thành và phát triển ............................................................... 32
3.1.2. Tầm nhìn và sứ mệnh ..................................................................................... 33
3.1.3. Tổ chức quản lý của SIVC ............................................................................. 33
3.1.4. Tình hình hoạt động DVTĐG và kết quả đạt được của SIVC trong thời gian
qua
36
3.2. Phân tích môi trƣờng hoạt động DVTĐG của SIVC ........................................ 40
3.2.1. Phân tích các môi trường bên ngoài ảnh hưởng đến hoạt động DVTĐG
1
CN
Chi nhánh
2
DN
Doanh Nghiệp
3
TĐG
Thẩm định giá
4
DVTĐG
5
SIVC
Dịch vụ thẩm định giá
Công ty cổ phần thông tin và thẩm định giá miền Nam
Kết quả TĐG tài sản của SIVC qua các năm
36
4
Bảng 3.4
Doanh thu thuẩn về bán hàng và cung cấp dịch vụ
của SIVC
37
5
Bảng 3.5
Chi phí của của SIVC
38
6
Bảng 3.6
Bảng nợ ngắn hạn của SIVC
38
52
11
Bảng 3.11
Tổng số lƣợng hợp đồng và giá trị thẩm định
52
12
Bảng 3.12
Tình hình tài chính của SIAC
52
13
Bảng 3.13
Tổng số lƣợng hợp đồng và giá trị thẩm định
53
14
Bảng 3.14
Trang
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
STT
Hình
Nội dung
1
Hình 1.1
Sơ đồ ma trận SWOT
25
2
Hình 2.1
Mô hình xây dựng chiến lƣợc phát triển DVTĐG
30
3
Hình 3.1
42
8
Hình 3.6
Biểu đồ thị trƣờng các loại hình dịch vụ thẩm định giá
42
Biểu đồ giá trị tài sản thẩm định và hợp đồng thẩm
định của SIVC giai đoạn 2008 – 2014
iii
Trang
36
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Dịch vụ thẩm định giá (DVTĐG) là một dịch vụ tồn tại khách quan trong đời
sống kinh tế xã hội của tất cả các nƣớc có nền kinh tế hoạt động theo cơ chế thị
trƣờng. DVTĐG có vai trò quan trọng trong tất cả các loại quyết định của các tổ
chức và các cá nhân có liên quan đến việc quản lý, sở hữu, mua bán, tính thuế, bảo
hiểm, cho thuê, cầm cố và kinh doanh tài sản, …
Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ở nƣớc ta đã diễn ra sâu rộng, nhu cầu về
Trung tâm Thông tin và Thẩm định giá miền Nam thuộc Bộ Tài chính. Đƣợc thành
lập và phát triển đầu tiên tại Việt Nam từ năm 1999, SIVC đã xây dựng hệ thống
đƣợc đánh giá cao về qui mô lẫn chất lƣợng trong lĩnh vực thẩm định giá và tƣ vấn
đầu tƣ tại Việt Nam. Tuy nhiên, để nâng cao vị thế, phát triển quy mô nhằm đáp ứng
nhu cầu của thị trƣờng trong thời kỳ hội nhập, Công ty cần phải có một chiến lƣợc
cụ thể cho từng lĩnh vực hoạt động, kinh doanh. Theo đó tác giả chọn đề tài nghiên
cứu cho luận văn thạc sĩ của mình là: “Chiến lược phát triển dịch vụ thẩm định
giá tại Công ty Cổ phần Thông tin và Thẩm định giá miền Nam (SIVC)”.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
- Mục đích: Nghiên cứu đề xuất chiến lƣợc phát triển DVTĐG tại Công ty
Cổ phần Thông tin và Thẩm định giá miền Nam đến năm 2020.
- Nhiệm vụ:
+ Thứ nhất: Nghiên cứu những vấn đề mang tính lý luận cơ bản về DVTĐG.
+ Thứ hai: xác định các yếu tố tác động đến sự phát triển DVTĐG.
+ Thứ ba: phân tích thực trạng cung ứng DVTĐG ở SIVC; phân tích các môi
trƣờng của hoạt động DVTĐG để xác định tiềm năng và xu hƣớng phát triển của thị
trƣờng DVTĐG.
+ Thứ tư: đề xuất các giải pháp chiến lƣợc phát triển DVTĐG tại SIVC đáp
ứng nhu cầu phát triển kinh tế đất nƣớc.
- Câu hỏi nghiên cứu:
+ Thế nào là DVTĐG?
+ Thực trạng hoạt động DVTĐG tại SIVC nhƣ thế nào?
2
+ Các yếu tố nào tác động đến sự phát triển DVTĐG?
+ Chiến lƣợc phát triển DVTĐG tại SIVC đến năm 2020?
+ SIVC nên có giải pháp nào để phát triển DVTĐG?
3. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu.
- Đối tƣợng nghiên cứu: Chiến lƣợc phát triển DVTĐG
- Bộ Tài chính (2008) “Đề án nâng cao năng lực và phát triển nghề TĐG giai
đoạn 2008 – 2020”. Nghiên cứu này thông qua việc nêu lên sự cần thiết của nghề
thẩm định giá, đánh giá thực trạng hoạt động thẩm định giá ở Việt Nam, từ đó đề ra
mục tiêu và giải pháp nâng cao năng lực và phát triển nghề thẩm định giá ở Việt
Nam. Nghiên cứu trình bày khá cơ bản những vấn đề cần thiết cho sự phát triển của
hoạt động thẩm định giá, tuy nhiên chƣa đề cập đến sự phát triển thẩm định giá nhƣ
là một dịch vụ. Dựa trên nghiên cứu này, luận văn rút ra những bài học kinh nghiệm
trong quá trình phát triển DVTĐG tại Việt Nam.
- Nguyễn Văn Thọ (2009) “Nâng cao năng lực và phát triển nghề thẩm
định giá ở Việt Nam”. Đây là bài viết nhằm nói lên sự cần thiết của ngành thẩm
định giá, thẩm định giá bất động sản. Thông qua việc đánh giá thực trạng nghề thẩm
định giá ở Việt Nam, tác giả đƣa ra 04 giải pháp nhằm phát triển nghề thẩm định giá
ở Việt Nam. Có thể thấy, nghiên cứu này đã hƣớng đến sự phát triển của nghề thẩm
định giá nên kết quả của nó đúc kết là những bài học kinh nghiệm để luận văn có
thể tham khảo cho quá trình nghiên cứu phát triển DVTĐG ở Việt Nam.
- Nguyễn Duy Thiện, Nguyễn Ngọc Tuấn, Tô Công Thành (2009) “Thẩm
định giá Bất động sản”. Nghiên cứu mang đến một cái nhìn tổng thể về thẩm định
giá bất động sản ở nƣớc ngoài, và có một số ví dụ cụ thể về thẩm định một số loại
hình bất động sản cụ thể. Nghiên cứu có một số kết quả khá hữu ích để luận văn tham
khảo, và so sánh đối chiếu với phƣơng pháp thẩm định giá bất động sản ở Việt Nam.
- Bài báo Phân tích cạnh tranh trong DVTĐG (A Competitive Analysis of
Business Valuation Services) của Michael A. Crain. Nội dung chính là xác định
4
đƣợc những “lực lƣợng” ảnh hƣởng đến sự phát triển DVTĐG. Đó là: Sự đe dọa
của các đối thủ gia nhập ngành; Áp lực của ngƣời mua; Sự đe dọa của các sản phẩm
hoặc dịch vụ thay thế; Áp lực của nhà cung cấp; và sự cạnh tranh nội bộ ngành. Mỗi
DN trong ngành thẩm định giá chịu sự tác động của từng lực lƣợng ở một mức độ
nào đó. Trên cơ sở nhận thức này, các công ty có thể tự xác định vị trí của mình để
Lim Lan Yuan (2002) cho rằng TĐG là một nghệ thuật hay khoa học về ƣớc
tính giá trị cho một mục đích cụ thể của một tài sản cụ thể tại một thời điểm, có cân
nhắc đến tất cả những đặc điểm của tài sản cũng nhƣ xem xét tất cả các yếu tố kinh
tế căn bản của thị trƣờng bao gồm các loại đầu tƣ lựa chọn.
Theo Luật Giá số 11/2012/QH13 (2012) đã giải thích “Thẩm định giá là việc
cơ quan, tổ chức có chức năng thẩm định giá xác định giá trị bằng tiền của các loại
tài sản theo quy định của Bộ luật dân sự phù hợp với giá thị trƣờng tại một địa
điểm, thời điểm nhất định, phục vụ cho mục đích nhất định theo tiêu chuẩn thẩm
định giá”.
Tổng hợp những quan niệm khác nhau về TĐG, tác giả đƣa ra quan quan
niệm chung nhất về TĐG: TĐG là một nghệ thuật hay khoa học về ƣớc tính giá trị
của tài sản (quyền tài sản) phù hợp với thị trƣờng tại một địa điểm, thời điểm nhất
định, cho một mục đích nhất định theo những tiêu chuẩn đƣợc công nhận nhƣ
những thông lệ quốc tế hoặc quốc gia.
1.2.2. Khái niệm DVTĐG
- DVTĐG là một loại hình của dịch vụ chuyên nghiệp cần thiết đối với sự
vận hành của nền kinh tế thị trƣờng; DVTĐG dựa trên giao dịch có tính chất thị
trƣờng. DVTĐG là một dạng đặc biệt của việc xác định giá cả các loại tài sản do
các nhà chuyên môn đƣợc đào tạo có kiến thức, có kinh nghiệm và có tính trung
thực trong nghề nghiệp.
- DVTĐG phải đƣợc thực hiện một cách độc lập và khách quan, kết quả của
nó là phản ánh đúng đắn giá trị của tài sản theo mục đích đã đƣợc xác định trƣớc mà
không bị ràng buộc bởi bất cứ bên thứ ba nào.
Nhƣ vậy, có thể định nghĩa DVTĐG nhƣ sau: DVTĐG là một loại hình dịch
vụ tƣ vấn chuyên nghiệp về lĩnh vực TĐG, mang tính độc lập, khách quan nhằm xác
định giá trị của tài sản phục vụ cho các mục đích khác nhau, đồng thời chịu trách
nhiệm về kết quả của DVTĐG.
6
7
+ DVTĐG là một dịch vụ đặc biệt và bị tác động bởi quy luật giá trị và quan
hệ cung cầu của thị trƣờng. DVTĐG xuất phát từ nhu cầu tất yếu khách quan của
nền kinh tế thị trƣờng, góp phần làm rõ ràng minh bạch các loại tài sản, góp phần
phát triển kinh tế đất nƣớc.
1.2.3. Đặc điểm DVTĐG
Theo định nghĩa của WTO, “dịch vụ tài chính là các dịch vụ của các định chế
tài chính, bao gồm tất cả các dịch vụ liên quan đến bảo hiểm, cùng tất cả các loại
dịch vụ ngân hàng và tài chính khác”. Do vậy, nếu xét theo sự phân loại của WTO
thì DVTĐG thuộc loại hình dịch vụ tài chính.
DVTĐG mang tính vô hình, không đồng nhất, quá trình sản xuất và dịch vụ
xảy ra không đồng thời so với hàng hóa dịch vụ thông thƣờng.
Tính vô hình: DVTĐG không thể nhìn thấy, cân đong, đo đếm, tồn kho, thử
nghiệm hoặc kiểm định trƣớc khi sử dụng dịch vụ.
Tính không đồng nhất của DVTĐG: dịch vụ này đƣợc cung cấp cho khách
hàng thƣờng do thẩm định viên thực hiện, cùng với một tài sản nhƣng với các thẩm
định viên khác nhau thì giá trị tài sản đó có thể có một kết quả không giống nhau.
Sự khác nhau về giá trị này thông thƣờng là “có thể chấp nhận đƣợc” đối với ngƣời
sử dụng. Theo tiêu chuẩn TĐG của VN, sự chênh lệch giá trị giữa hai thẩm định
viên đối với cùng một tài sản là BĐS trong có thể nằm trong khoảng 10%.
Khác với các dịch vụ thông thƣờng, quá trình sản xuất và tiêu thụ xảy ra
đồng thời nhƣng ở DVTĐG thì không nhƣ vậy, quá trình sản xuất và tiêu thụ tách
rời nhau. Nhà cung cấp DVTĐG cần phải xác định rõ mục đích thẩm định của
khách hàng, trên cơ sở đó sẽ tiến hành hoạt động TĐG một cách độc lập sau đó sẽ
cung cấp sản phẩm là chứng thƣ TĐG cho khách hàng.
Chất lƣợng của DVTĐG phụ thuộc khá nhiều vào sự kỳ vọng của khách
hàng.
Chất lƣợng của DVTĐG phụ thuộc khá lớn vào sự kỳ vọng của khách hàng.
Ngoài yếu tố kỳ vọng của khách hàng, chất lƣợng DV cũng bị ảnh hƣởng khá
nhiều bởi nhà cung cấp DVTĐG. Nhà cung cấp DVTĐG phải có khả năng tƣ vấn,
khả năng thu thập và xử lý thông tin. Bên cạnh đó, ngƣời cung cấp DVTĐG cũng
phải kết hợp kinh nghiệm và óc phán đoán của mình để cung cấp dịch vụ cho khách
9
hàng. Nhà cung cấp cần phải thuyết phục và chứng minh đƣợc với không những
khách hàng của mình mà có thể là với bên thứ ba sử dụng kết quả của dịch vụ về sự
đúng đắn của kết quả của DVTĐG đã đƣợc cung cấp.
DVTĐG là một dịch vụ mang tính khách quan, độc lập và tính trách nhiệm cao.
Khách quan và độc lập vì kết quả của DVTĐG có liên quan đến việc mục
đích sử dụng của khách hàng. Trong TĐG, cùng với một tài sản nhƣng với các mục
đích thẩm định khác nhau thì giá trị tài sản cũng có thể khác nhau, chƣa kể đến việc
với các nhà cung cấp dịch vụ khác nhau thì giá trị tài sản có thể chênh lệch nhau.
Do vậy, việc cung cấp DVTĐG một cách không khách quan và độc lập có thể làm
sai lệch giá trị của tài sản.
Kết quả của DVTĐG là một mức giá trị của tài sản đồng thời đƣợc sử dụng
cho một mục đích cho nhiều bên khác nhau, vì vậy kết quả mà nhà cung cấp
DVTĐG đƣa ra phải đƣợc đảm bảo. Theo đó, nhà cung cấp dịch vụ thẩm đinh giá
vừa đồng thời phải chịu trách nhiệm của mình về giá trị của tài sản đã cung cấp
trƣớc khách hàng yêu cầu TĐG, vừa phải chịu trách nhiệm pháp lý về kết quả dịch
vụ trƣớc pháp luật.
1.2.4. Vai trò của TĐG
1.2.4.1. TĐG là công cụ cơ bản thực hiện quản lý nhà nước về giá cả
TĐG góp phần xây dựng mặt bằng giá cả hợp lý, hạch toán xác thực chi phí
sản xuất, kinh doanh, tiết kiệm chi phí xã hội; chống giá cả độc quyền hoặc phá giá,
tạo điều kiện để cạnh tranh lành mạnh trên thị trƣờng; góp phần phát triển và lành
mạnh hoá thị trƣờng các yếu tố sản xuất. TĐG góp phần tạo điều kiện để hội nhập
kinh tế quốc tế về giá cả và là nhân tố góp phần phát triển nền kinh tế vận hành theo
định rõ khi tiến hành TĐG và là các tiêu chuẩn trong hệ thống tiêu chuẩn TĐG của
mỗi nƣớc. TĐG ở các nƣớc trên thế giới đều dựa trên hai cơ sở: cơ sở giá trị thị
trƣờng và cơ sở gía trị phi thị trƣờng. Thẩm định viên phải phân biệt rõ sự khác
nhau giữa cơ sở giá thị trƣờng và cơ sở giá phi thị trƣờng để đảm bảo đƣa đến kết
quả TĐG khách quan.
Thứ nhất, giá trị thị trƣờng làm cơ sở cho TĐG (TCTDGVN01):
Giá trị thị trƣờng của một tài sản là mức giá ƣớc tính sẽ đƣợc mua bán trên
thị trƣờng vào thời điểm TĐG, giữa một bên là ngƣời mua sẵn sàng mua, và một
11
bên ngƣời bán sẵn sàng bán trong một giao dịch mua bán khách quan và độc lập,
trong điều kiện thƣơng mại bình thƣờng.
Thứ hai, giá trị phi thị trƣờng làm cơ sở TĐG (TĐGVN02)
Mặc dù phần lớn hoạt động TĐG là dựa trên cơ sở giá trị thị trƣờng, tuy
nhiên có những tình huống đặc biệt (riêng biệt) việc TĐG phải dựa trên giá trị phi
thị trƣờng.
Giá trị phi thị trƣờng của tài sản là mức giá ƣớc tính đƣợc xác định theo
những căn cứ khác với giá thị trƣờng hoặc có thể đƣợc mua bán, trao đổi theo các
mức giá không phản ánh giá trị thị trƣờng nhƣ: giá trị tài sản đang trong quá trình
sử dụng, giá trị đầu tƣ, giá trị bảo hiểm, giá trị đặc biệt, giá trị thanh lý, giá trị tài
sản bắt buộc phải bán, giá trị DN, giá trị tài sản chuyên dùng, giá trị tài sản có thị
trƣờng hạn chế giá trị để tính thuế...
1.2.5.3. Quy trình TĐG
Là các bƣớc triển khai công việc mang tính hệ thống mà thẩm định viên tuân
theo nhằm đánh giá đúng đắn giá trị thị trƣờng của tài sản.
Quy trình TĐG bắt đầu khi thẩm định viên nhận nhiệm vụ TĐG tài sản, kết
thúc khi hoàn thành báo cáo TĐG và phát hành chứng thƣ cho khách hàng theo
đúng hợp đồng. Quy trình TĐG bao gồm nhiều bƣớc triển khai công việc nhằm mục
tiêu cuối cùng là để giải thích, chứng minh tính đúng đắn của mức giá thị trƣờng
nghiệp vụ chuyên ngành TĐG; quản lý thi, cấp và thu hồi Thẻ thẩm định viên về
giá, Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh DVTĐG; Xây dựng cơ sở dữ liệu
phục vụ quản lý nhà nƣớc trong lĩnh vực TĐG; Kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu
nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về TĐG.
Để thực hiện quản lý nhà nƣớc về TĐG có hiệu quả, nhà nƣớc có thể phân
cấp quản lý trong bộ máy của mình.
1.2.5.6. Xu hướng sử dụng DVTĐG
- Ngƣời sử dụng DVTĐG khi bỏ tiền ra mua dịch vụ thì họ luôn mong đợi
chất lƣợng và giá trị của dịch vụ mang lại, điều này chứng tỏ rằng khi không có sự
khác biệt giữa kỳ vọng của khách hàng và chất lƣợng dịch vụ thực tế thì sự hài lòng
của khách hàng càng cao, và nhƣ vậy sẽ tạo điều kiện cho nhu cầu thị trƣờng TĐG
ngày càng cao.
13
Sự hài lòng của khách hàng đƣợc tạo thành trên cơ sở cảm nhận chất lƣợng
và giá trị cảm nhận chất lƣợng về dịch vụ mang lại, nếu chất lƣợng và giá trị cảm
nhận cao hơn sự mong đợi sẽ tạo nên lòng trung thành đối với khách hàng. Điều này
tạo cho xu hƣớng sử dụng tăng lên, tức là nhu cầu của dịch vụ tăng. Trƣờng hợp
ngƣợc lại, đấy là sự phàn nàn hay sự than phiền về sản phẩm mà họ tiêu dùng. Tuy
nhiên, chất lƣợng mà nhà cung ứng cung cấp cho khách hàng và chất lƣợng mà
khách hàng cảm nhận đƣợc thƣờng không trùng nhau do đặc điểm của TĐG là ƣớc
tính giá trị của tài sản. Để có thể làm cho khách hàng cảm nhận đƣợc chất lƣợng của
DVTĐG mà mình đã sử dụng, nhà cung ứng dịch vụ cần phải tiến hành tƣ vấn và
giải thích cho khách hàng về những công cụ, những đặc điểm mà mình đã sử dụng
là phù hợp và có căn cứ rõ ràng. Năng lực của nhà tƣ vấn sẽ quyết định khách hàng
có thích thƣơng hiệu dịch vụ đó không. Khi chất lƣợng dịch vụ không đƣợc thỏa
mãn thì ngƣời sử dụng dịch vụ sẽ không tin tƣởng vào nhà cung ứng, và cơ hội của
thị trƣờng giảm đi.
1.2.5.7. Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cung ứng DVTĐG
Đối với DVTĐG phức tạp, khách hàng sẵn lòng chi trả để nhận đƣợc dịch vụ có
chất lƣợng của các thẩm định viên có kinh nghiệm. Do vậy, yếu tố chất lƣợng và giá
cả sẽ trở thành yếu tố quan trọng có tính quyết định khi lựa chọn nhà cung cấp.
Áp lực từ các sản phẩm dịch vụ thay thế: thực tế khách hàng chỉ đơn
giản là không sử dụng DVTĐG và tự đánh giá mà không cần có kiến thức về TĐG.
Bằng cách này khách hàng có thể không tốn tiền cho DVTĐG. Nếu khách hàng có
nhiều lựa chọn, họ có nhiều quyền lực đàm phán với nhà cung cấp dịch vụ.
Mức độ cạnh tranh trong nội bộ ngành các doanh nghiệp cung ứng
DVTĐG: hiện tại có xu hƣớng xây dựng chiến lƣợc kinh doanh nhằm phản ứng lại
với các hành động của đối thủ cạnh tranh. Khi cạnh tranh trong nội bộ ngành trở nên
khắc nghiệt thì đòi hỏi các DN phải liên tục nâng cao chất lƣợng dịch vụ cung cấp và
giá trị mang lại cho khách hàng nhằm đáp ứng yêu cầu của khách hàng. Điều này có
nghĩa là chất lƣợng dịch vụ phải đƣợc đảm bảo tƣơng xứng với mức giá cạnh tranh.
Áp lực mặc cả của các nhà cung cấp: nhà cung cấp có nghĩa là đề cập
đến nguyên vật liệu đầu vào phục vụ cho quá trình sản xuất, ở đây TĐG là một loại
hình dịch vụ. Xuất phát từ đặc điểm của dịch vụ đã phân tích trên thì DVTĐG với
15