CHUYÊN ĐỀ: VĂN HỌC HIỆN THỰC PHÊ PHÁN
VIỆT NAM 1930 – 1945
Việt Trì, ngày 21 tháng 6 năm 2014
Văn Kiều Oanh, giáo viên THPT Chuyên Hùng Vương, Phú Thọ
A- KHÁI QUÁT VỀ CNHT
I- Thời điểm ra đời:
+ Vấn đề thời điểm ra đời của CNHT cho đến nay vẫn còn có những ý kiến khác
nhau:
- Một số người cho rằng: Những nguyên tắc phản ánh hình thành từ thời cổ đại và
trải qua các giai đoạn phát triển lịch sử (VH) như cổ đại, phục hưng, ánh sáng,
TK19.
- Một số khác cho rằng: CNHT ra đời từ thời phục hưng.
- Một số khắc cho rằng: Ra đời từ TK18 (khi tiểu thuyết sinh hoạt gia đình và sinh
hoạt xã hội ra đời).
- Số đông nhất trí rằng: CNHT như một phương pháp sáng tác, một khuynh hướng
nghệ thuật được hình thành vào những năm 30 của TK19 (khi trong VH Châu Âu
nguyên tắc miêu tả chân thực đời sống được khẳng định một cách đầy đủ nhất).
Tóm lại: Dù các ý kiến khác nhau nhưng mọi người đều phải thừa nhận: Từ những
năm 40 của TK 19 trở đi, CNHT đã bước sang một giai đoạn phát triển hoàn chỉnh
và rực rỡ nhất cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn sáng tác.
II- Khái niệm:
1. Chủ nghĩa hiện thực:
+ Theo nghĩa rộng: CNHT là thuật ngữ dùng để xác định quan hệ giữa tác phẩm
văn học với hiện thực (Bất kể tác phẩm là của nhà văn thuộc trường phái hoặc
khuynh hướng như thế nào).
+ Theo nghĩa hẹp: CNHT là thuật ngữ dùng để chỉ một phương pháp nghệ thuật
(hay còn gọi là phương pháp sáng tác), hay một khuynh hướng, một trào lưu văn
học có nội dung chặt chẽ, xác định trên cơ sở các nguyên tắc mĩ học sau:
- Nguyên tắc1: Coi hiện thực tiếp là đối tượng phản ánh của nghệ thuật: VHHT
chủ chương phản ảnh bản chất và qui luật khách quan của đời sống xã hội.
-> Yêu cầu: Nhà văn hiện thực xây dựng hình tượng theo nguyên tắc khách quan,
điển hình. Đó là yêu cầu cao nhất của VHHT (theo quan niệm truyền thống).
+Tính cách điển hình: là những tính cách có cá tính sắc nét khó quên nhưng có sức
khái quát lớn, tiêu biểu cho một hạng người hay một khuynh hướng tư tưởng lớn
trong đời sống.
Ví dụ:
- Nhân vật Chí Phèo trong truyện ngắn “Chí Phèo” của Nam Cao là một nhân vật
điển hình.
Vậy: Nét cá tính, sắc nét, khó quên là ở chỗ:
Vừa là: Con quỉ dữ của làng Vũ Đại vừa là con người khao khát tình người: vừa là
công cụ nguy hiểm trong tay giai cấp thống trị vừa là một nô lệ đã thức tỉnh.
Vừa là thằng say, thằng mất trí vừa là người có khối óc tỉnh táo, sáng sủa nhất làng
Vũ Đại khi biết đặt ra những câu hỏi sắc sảo vượt ra ngoài tầm khôn ngoan, lọc lõi
của Bá Kiến.
Còn sức khái quát hơn, tiêu biểu của hình tượng là ở chỗ: Chí Phèo là hình tượng
NT điển hình cho một giai cấp: nông dân Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám:
Điển hình cho những gì khốn khổ, tủi nhục nhất (bi kịch nhất) của người nông dân
xứ thuộc địa.
+Hoàn cảnh điển hình: là hoàn cảnh tiêu biểu cho một xã hội có tác dụng giải thích
sự hình thành tính cách và số phận của nhân vật.
Trang 2
Ví dụ: Tính cách nhân vật Chí Phèo được khắc họa trong mối quan hệ biện chứng
với một hoàn cảnh điển hình: Làng Vũ Đại – bối cảnh XH tiêu biểu: làng quê nông
thôn Việt Nam trước cách mạng.
“Dân quá 2000, xa phủ xa tỉnh; đất làng ở vào thế “Quần ngư tranh thực”. Làng có
nhiều phe cánh: cánh ông Bá Kiến, cánh ông đội Tảo, cánh ông Tư Đạm, cánh Bát
Tùng bằng ấy cánh đu lại với nhau để bóc lột con em nhân dân nhưng ngấm ngầm
chia rẽ, nhè từng chỗ hở để mà trị nhau. Thế nên những người “hiền quá hóa ngu”,
đã ngu đã nhịn thì chúng nó ấn cho đến không còn ngóc đầu lên được”.
B. VĂN HỌC HIỆN THỰC PHÊ PHÁN VIỆT NAM 1930-1945
I- Tiền đề về lịch sử - xã hội- văn hóa:
Trang 3
1. Về lịch sử - xã hội: Trong và sau CTTG lần I:
+ Chính quốc và toàn thế giới: Rơi vào cuộc đại khủng hoảng kinh tế trầm trọng và
kéo dài.
+ Tại Việt Nam:
- Thực dân Pháp tiến hành cuộc khai thác thuộc địa lần 2 và thực thi chính sách,
bóc lột kinh tế nhằm bù đắp cho cuộc khủng hoảng kinh tế ở mẫu quốc.
=> Mọi tầng lớp nhân dân Việt Nam đều bị bóc lột: Nông dân mất ruộng đất, bị
bóc lột sức lao động, bị đẩy vào cảnh bần cùng hóa, lưu manh hóa. Công nhân mất
việc làm, trí thức bị sa thải, giai cấp tư sản và tiểu tư sản bị phá sản hàng loạt.
- Bọt thực dân thi hành chính sách ngu dân. Chúng khuyến khích lối sống ăn chơi
sa đọa nhằm trụy lạc hóa thanh niên Việt Nam. Ở thành thị, những tiệm hút, nhà
chứa, sòng bạc mọc lên như nấm. Phong trào âu hóa, “vui vẻ trẻ trung” như một
nạn dịch lan tràn, thu hút thanh niên vào các chợ phiên, tiệm nhảy, các cuộc thi áo
tắm, sắc đẹp…
=> XH thực dân phong kiến VN từ thành thị đến nông thôn đang ẩn chứa những
ung nhọt đang tấy lên trầm trọng.
- Mặt khác, thực dân Pháp cũng thi hành chính sách đàn áp, khủng bố trắng với các
cuộc khởi nghĩa => Thúc đẩy mâu thuẫn dân tộc, mâu thuẫn giai cấp ngày càng sâu
sắc, quyết liệt.
2. Về văn hóa:
Luồng văn hóa tư tưởng tư sản phương Tây du nhập vào đời sống văn hóa – tư
tưởng của người Việt, tác động vào cả hai mặt tích cực và tiêu cực. Mặc dù thực
dân Pháp khuyến khích khuynh hướng duy tâm tư sản những luồng tư tưởng dân
chủ tư sản tiến bộ vẫn ảnh hưởng tích cực đến các nhà văn Việt Nam qua những
tác phẩm văn học hiện thực của Banzắc, Stăngđan, Đichken, L.Tônxtôi…
phê phán.
+ Vũ Trọng Phụng: Phóng sự: Cạm bẫy người (1933); Kỹ nghệ lấy Tây (1934);
Dân biểu và dân biểu (1935).
. Ở phóng sự: “Cạm bẫy người”: Tái hiện những thủ đoạn táo tợn hoặc tinh vi của
nghề cờ bạc gian lận trong xã hội.
. Ở phóng sự: “Kỹ nghệ lấy Tây”: điều tra, ghi chép về cuộc sống của đám “me
tây” xung quanh trại lính lê dương vùng Thị Cầu – Bắc Giang và cái nghề lấy Tây
của họ. Với tác phẩm này: ngòi bút phóng sự lạnh lùng và sắc sảo của Vũ Trọng
Phụng đã phơi bày cảnh sống tạm bợ của những “cặp vợ chồng” mà người đàn bà
chỉ nghĩ đến tiền còn “người đàn ông chỉ nghĩ đến nhục dục”. Đằng sau một đề tài
có tính chất “giật gân” là niềm căm ghét sâu sắc của Vũ Trọng Phụng với xã hội
đồng tiền đã biến quan hệ giữa người với người thành thứ quan hệ. “Tiền trao,
cháo múc” trắng trợn, phỉ báng mọi nền nếp đạo đức truyền thống.
-> Giá trị hiện thực chủ yếu trong sáng tác của VTP thời kỳ này phần nào phản ánh
được tình trạng bị bần cùng hóa, bị phá sản, bị lưu manh hóa của tầng lớp tiểu tư
sản, dân nghèo thành thị và nông dân Việt Nam trong xã hội thuộc địa đương thời.
Ngòi bút “tả chân” sắc sảo, linh hoạt với một vài nét, vài chi tiết đã “chộp” được
bản chất của đối tượng đã đưa VTP lên vị trí “Ông vua phóng sự đất bắc”.
+Tú Mỡ: Viết truyện ngắn, phóng sự, thơ trào phúng. Phản ánh:
Quá trình bị bần cùng hóa và lưu manh hóa của người nông dân và dân nghèo
thành thị
*) Những đóng góp cơ bản:
+ Nội dung:
- Phản ánh chân thực những hiện tượng nổi bật trên bề mặt xã hội
- Chưa nêu được những vấn đề lớn có tầm khái quát của thời đại, chưa tập trung
vào những mâu thuẫn cơ bản của xã hôik
+ Nghệ thuật:
Trang 5
hơn cả.
Về nghệ thuật: bên cạnh năng lực bao quát hiện thực thì tác phẩm đặc biệt thành
công ở nghệ thuật điển hình hóa. Nhân vật Nghị Hách là một điển hình bất hủ về
giai cấp đại tư sản kiêm địa chủ từ thủ đoạn (tàn ác), lối sống (dâm ô), đạo đức (sa
đọa), đến quan hệ xã hội (phản động).
- Tiểu thuyết “Số đỏ”; Được coi là cuốn sách ghê gớm làm vinh dự cho
mọi nền văn học.
Đặc điểm CNHT Vũ Trọng Phụng:
Tính chất tổng hợp cao, khả năng khái quát hiện thực cao độ, (Thế giới
hình tượng phong phú, thâu tóm toàn bộ bộ mặt xã hội Việt Nam qua các
Trang 6
tầng lớp dân nghèo đến tư sản, không gian NT rộng lớn từ nông thôn đến
thành thị…)
Tiếng cười trào phúng sâu cay, quyết liệt là phong cách nổi bật của VTP.
Đẩy nghệ thuật phóng sự, tiểu thuyết tiến lên một bước về phía trước
Hạn chế: chưa thực sự có cái gốc nhân đạo sâu vững.
+) Ngô Tất Tố:
- 1937: Tắt đèn – Tiểu thuyết được đánh giá cao vì tác phẩm đã đáp ứng được vấn
đề có tính chất thời sự trong thời kỳ mặt trận dân chủ. Vấn đề nông dân, vấn đề sưu
thuê. Mở ra bằng một hoàn cảnh điển hình: một không khí ngột ngạt, oi bức, dông
bão, người nông dân như “kiến bò trong chảo” của những ngày sưu thuế ở làng
Đông Xá – Thành công lớn nhất của Ngô Tất Tố là đã xây dựng được một điển
hình nông dân đẹp đẽ, sinh động. Chị Dậu đảm đang, chung thủy, giàu đức hi sinh,
giàu tinh thần lạc quan, hiền lành yêu thương mọi người nhưng lúc cần có thể sống
mái, quyết liệt với kẻ thù. Đó là hình ảnh chân thực của người phụ nữ nông dân
Việt Nam thời Pháp thuộc.
Tác phẩm có tính thời sự, tính chiến đấu cao và tinh thần nhân đạo sâu sắc.
-1939: Lều chõng: Đây là một tiểu thuyết hiện thực phê phán.
+ Ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp của phong trào cách mạng quần chúng dưới
sự lãnh đạo của Đảng (cao trào dân chủ 36-39).
+ Ảnh hưởng trực tiếp từ các đảng viên cộng sản và các tù chính trị được ân xá
(Bước đường cùng (NCH); Ngô Tất Tố (Tắt đèn), VTP (Vỡ đê, Người tù được tha)
…
3. Thời kỳ 1940-1945:
- Giai đoạn này nhân dân Việt Nam “một cổ hai tròng” dưới ách thống trị của đế
quốc Pháp và phát xít Nhật. Đảng phải rút lui vào hoạt động bí mật. Sách báo tiến
bộ bị đóng cửa và tịch thu. Lúc này, VHHT phê phán bị biển duyệt gắt gao và bị
bóp nghẹt.
* Tác giả tiêu biểu: xuất hiện một số cây bút trẻ: Nam Cao, Tô Hoài, Bùi Hiển,
Kim Lân.
+ Nam Cao: Với QĐ NT tiến bộ, với tài năng và trách nhiệm với nghề cầm bút,
Nam Cao đặc biệt thành công ở hai đề tài lớn trong sáng tác của ông. Đề tài
TTTTS, đề tài Người nông dân.
-Đặc điểm của CNHT Nam Cao:
Nam Cao thường viết xung quanh những truyện đời tư, đời thường (> < với VTP Đời thừa, Giăng sáng, Mí mắt, Trẻ con…, Một bữa no, Trẻ con không được ăn thịt
chó…) => Nam Cao khái quát những tấn bi kịch tinh thần (bi kịch TT của người
nông dân bị tha hóa, bị cự tuyệt quyền làm người, bi kịch TT của người trí thức có
khát vọng, tài năng… bị cuộc sống áo cơm ghì sát đất. (So sánh với Tắt đèn –
NTT, Bước đường cùng – NCH).
=> Tư tưởng nổi bật của Nam Cao: Nỗi đau đớn trước tình trạng con người không
giữ nổi nhân phẩm do miếng cơm manh áo và cả sự hèn nhát trong bản chất của
con người. Nhân vật của Nam Cao (cả TT, nông dân) đều là những dạng thức khác
nhau của tình trạng “chết mòn”, “sống mòn”.
- Vấn đề “Đôi mắt” là đặc trưng của CNHT Nam Cao: “Đôi mắt” cách nhìn, cách
nghĩ về nhân dân lao động -> lập trường của người nghệ sỹ: tán thành cuộc kháng
chiến hay đứng ngoài cuộc kháng chiến.
Trước CM: Nam Cao quan niệm phải nhìn con người bằng đôi mắt của tình thương
trong “Nước mắt”. Người ta chỉ xấu xa, hư hỏng trước con mắt ráo hoảnh của
chúng (như thời kỳ trước) nhưng vẫn duy trì được thái độ dám nhìn thẳng vào sự
thật, thấy được cái không khí oi bức, dông bão của một xã hội đang ngột thở, đang
quằn quại lột xác để chuyển mình, để đổi thay.
+ Nghệ thuật:
- Tiếp tục có sự trưởng thành ở thể loại truyện ngắn.
C. Kết luận:
- Những tiền đề lịch sử, xã hội – văn hóa, đặc biệt là sự ảnh hưởng của Đảng cộng
sản và phong trào CM quần chúng đã tạo nên một đặc trưng của VHHT PP Việt
Nam:
+ Hầu hết những nhân vật điển hình của thời đại là những người nông dân -> Đặc
điểm CNHT PP của một nước phương Đông vào những năm 30 của thế kỷ XX.
+ Có sự giao lưu giữa VHHT PP và VHCM đương thời -> giai đoạn cuối của quá
trình phát triển, VHHTPP VN không rơi vào bế tắc ->sau CM T8, dưới sự lãnh đạo
của Đảng phát triển thành dòng VHHT XHCN.
+ Có sự giao thoa, pha trộn với những khuynh hướng lãng mạn + Tự nhiên CN.
+ Có đóng góp to lớn, quan trọng về mọi mặt cho nền VHHĐ Việt Nam.
Việt Trì, ngày 21 tháng 6 năm 2014
Người viết: Văn Kiều Oanh, giáo viên THPT Chuyên Hùng Vương, Phú Thọ
Trang 9