So sánh hệ thống pháp luật Đức và Mỹ - Pdf 31

Mở đầu
Luật pháp là công cụ hữu hiệu nhất để nhà nước quản lý và thiết lập trật
tự xã hội. Bất kì quốc gia nào cũng cần có một hệ thống pháp luật hùng mạnh
nhằm quản lý xã hội một cách có hiệu quả nhất. Vì vậy, đào tạo luật là ưu tiên
hàng đầu trong công cuộc xây dựng và phát triển luật pháp ở mỗi quốc gia.
Ngay cả những quốc gia có hệ thống pháp luật vô cùng lớn mạnh, có tầm ảnh
hưởng vô cùng lớn tới các quốc gia khác trên thế giới như Đức và Mỹ cũng phải
đặt việc đào tạo luật lên hàng đầu. Bài tập lần này của em sẽ nghiên cứu việc
đào tạo luật ở Đức và Mỹ trên góc độ so sánh để có một cái nhìn sâu hơn về quá
trình đào tạo luật ở hai quốc gia này.

Đào tạo luật ở Đức và Mỹ
Đức và Mỹ đều là những quốc gia phát triển và có một hệ thống pháp luật
vô cùng mạnh, chặt chẽ và vô cùng hiệu quả. Vậy, những người hành nghề luật
phải trải qua những khóa đào tạo như thế nào?
Ta có thể thấy, ở mọi quốc gia, kể cả ở Đức và ở Mỹ, luật sư luôn luôn phải
qua một quá trình đào tạo về luật ở những đại học luật danh tiếng, thậm chí còn
phải học nhiều hơn nữa thì mới có thể hành nghề. Còn nếu bạn muốn làm thẩm
phán thì con đường của bạn còn khó khăn và gian khổ hơn gấp nhiều lần.
Sau đây chúng ta sẽ nghiên cứu quy trình đào tạo luật ở Đức và Mỹ trên
một số phương diện:
1.

Đối tượng tuyển sinh:
Ở Đức và Mỹ có sự khác nhau cơ bản về đối tượng được nhận vào đại học
luật. Trong khi ở Mỹ chỉ nhận đào tạo những người đã có bằng cử nhân – tức là
đã tốt nghiệp đại học thì ở Đức lại đào tạo nghề luật cho mọi người, không nhất
thiết phải tốt nghiệp đại học. Điểm khác biệt này là do quy trình đào tạo của hai
nước là khác nhau.Việc lựa chọn sinh viên ở Mỹ rất khắt khe, thường chỉ lựa
chọn những sinh viên thật sự xuất sắc. Vì vậy nên những sinh viên thường luật ở
Mỹ thường được tôn trọng và dễ dàng có được việc làm.

cùng luật sự thực thụ. Sau khi hoàn thành giai đoạn hai thì sinh viên mới được
cấp bằng cử nhân và mới có đủ điều kiện để làm việc.
3.

Phương pháp đào tạo:
Ở Mỹ, phương pháp đào tạo chủ yếu và quan trọng là phương pháp
Socratic (hùng biện) kết hợp cùng tình huống cụ thể. Với phương pháp này, sinh
viên có thể luyện tập khả năng phân tích tình huống, đối mặt với các tình huống
bất ngờ và có khả năng lập luận cũng như thuyết phục tốt. Những năm sau đó,
phương pháp Socratic đã không còn tác dụng vì khả năng phân tích tình huống
của sinh viên đã trở nên tốt hơn. Khi đó, các khóa học seminar được triển khai,
nó giúp cho sinh viên thảo luận, nghiên cứu và đúc rút ra kinh nghiệm cho bản
thân. Đến năm thứ ba, sinh viên các trường đại học có thể áp dụng phương pháp
thực hành trực tiếp (clinical method). Phương pháp này giúp cho sinh viên có
những kinh nghiệm thực tế, tạo tiền đề cho công việc của họ sau này.

2


Về phương pháp đào tạo luật ở Đức thì hiện nay đang xuất hiện hai quan
điểm khác nhau, đó là: quan điểm cải cách và quan điểm bảo thủ. Nhóm quan
điểm cải cách cho rằng, nước Đức cũng như nhiều nước trong hệ thống pháp
luật châu Âu lục địa cần phải tiếp nhận phương pháp thực tiễn trong đào tạo
luật của các nước Anh – Mỹ. Nghĩa là, cần giảm bớt tính hàn lâm và phải đưa
các vụ việc thực tiễn vào giảng dạy các môn luật. Nhóm quan điểm bảo thủ lại
cho rằng, chế độ đào tạo pháp luật của nước Đức theo truyền thống vẫn rất hiệu
quả. Bởi việc đào tạo pháp luật trong giai đoạn thứ nhất gắn với việc đào tạo
kiến thức pháp luật cơ bản, tổng hợp, với mục đích cung cấp các kiến thức toàn
diện cho sinh viên. Còn các kiến thức chuyên sâu và kỹ năng thực hành mang
tính chất nghề luật là nhiệm vụ trọng tâm của giai đoạn hai. Tuy nhiên, các kết


tích các văn bản luật cũng như tình tiết vụ việc cụ thể để có thể đưa ra các quan
điểm, ý kiến và cách lập luận thuyết phục nhất. Ở Mỹ có xu hướng kết hợp giữa
đào tạo lý thuyết và đào tạo nghề trong chương trình trường luật để sinh viên
sau khi tốt nghiệp chỉ cần qua thời gian tập sự ngắn đã có thể làm việc được.
Như trên, ở Đức chia chương trình đào tạo luật thành hai phần:
Ở giai đoạn thứ nhất – đào tạo luật, sinh viên phải học trong một khoảng
thời gian ít nhất là ba năm rưỡi với các môn học mang tính cơ sở về khoa học
luật như: lịch sử các học thuyết pháp luật, lịch sử pháp luật, triết học, xã hội học
pháp luật và các môn luật mang tính chất bắt buộc như: luật hiến pháp, luật
dân sự, luật hình sự, luật hành chính, các luật tố tụng,… Bên cạnh đó, tùy theo
chương trình học của mỗi trường mà sinh viên có thể học các môn học tự chọn
khác.
Sau khi trải qua quá trình học, sinh viên phải trải qua một khi thì tốt
nghiệp và đánh giá học tập. Việc tổ chức thi và đánh giá vô cùng khắt khe và
nghiêm ngặt (Bộ Tư pháp mỗi bang có trách nhiệm giám sát, quản lý, đánh giá
kì thi này, thậm chí cả việc ra câu hỏi thi). Các câu hỏi thường dài và phức tạp.
Theo tài liệu năm 2003, chỉ có 65% sinh viên đạt yêu cầu, 35% sinh viên thi lại.
Sinh viên phải vượt qua kì thi này mới được quyền học tiếp sang giai đoạn hai.
Giai đoạn hai – đào tạo nghề luật, là giai đoạn sinh viên được đào tạo các
kiến thức pháp luật thực hành. Giai đoạn hai kéo dài hai năm và kết thúc bằng
một kì thi. Nếu vượt qua kì thi này thì sinh viên sẽ nhận được học vị cử nhân,
điều đó có nghĩa là họ có thể bước vào con đường nghề nghiệp của mình.
Trong thời gian này, sinh viên luật vẫn phải tham gia các giờ học mang
tính chất lý thuyết do những thẩm phán hay chuyên viên pháp lý kinh nghiệm
giảng dạy. Và họ cũng phải tham gia tập sự ở tòa án cấp quận hoặc tòa án cấp
cao trong sáu tháng; ở cơ quan công tố ba tháng; ở hội đồng địa phương bốn
tháng và bốn tháng tập sự cùng một luật sư thực thụ. Như vậy, sinh viên sẽ làm
quen với nhiều lĩnh vực, khiến cho sinh viên khi ra trường có thể làm việc ở
nhiều vị trí và lĩnh vực khác nhau.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status