Câu hỏi thảo luận đường lối cách mạng - Pdf 31

CÂU HỎI THẢO LUẬN

***Vấn đề 2
Câu 1: Vai trò của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trong việc thành lập Đảng cộng sản Việt
Nam?
Trả lời:
Sự kiện Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (3/2/1930) có ý nghĩa lịch sử vô cùng
quan trọng, mở ra trang sử mới chói lọi của dân tộc Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt
Nam ra đời là tất yếu khách quan của lịch sử, gắn liền với công lao vĩ đại của lãnh
tụ Nguyễn Ái Quốc. Đến nay, 80 năm đã trôi qua, nhưng việc nghiên cứu, tìm hiểu về
sự vận động ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn còn nguyên giá trị khoa học.
Đặc biệt, qua đó, giúp thế hệ trẻ hiểu hơn về Đảng, từ đó phấn đấu, rèn luyện để
bước vào hàng ngũ của Đảng quang vinh.
Hồ Chí Minh (19 tháng 5 năm 1890 – 2 tháng 9 năm 1969) là một nhà cách
mạng, một trong những người đặt nền móng và lãnh đạo công cuộc đấu tranh
giành độc lập, toàn vẹn lãnh thổ cho Việt Nam trong thế kỷ 20. Ông là người viết và
đọc bản Tuyên ngôn Độc lập Việt Nam khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
ngày 2 tháng 9 năm 1945 tại quảng trường Ba Đình, Hà Nội, là Chủ tịch nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa trong thời gian 1945 – 1969, Chủ tịch Ban Chấp hành Trung
ương Đảng Lao động Việt Nam trong thời gian 1951 – 1969. Đặc biệt, HCM là
người có công lớn đối với việc thành lập ĐCS VN
Vốn sinh ra trong gia đình có truyền thống yêu nước, giỏi Nho học, nên ngay từ
nhỏ Nguyễn Tất Thành đã có ý chí đuổi thực dân, giải phóng đồng bào. Thất bại của
phong trào chống thuế ở Huế (1908) và các phong trào yêu nước chống Pháp đầu
thế kỷ XX, đã giúp cho Nguyễn Tất Thành hiểu được bản chất dã man và sức mạnh
của bộ máy chính quyền thực dân. Mặc dù rất khâm phục những hoạt động cứu
nước của các vị tiền bối, nhưng Nguyễn Tất Thành đã tự chọn con đường cứu nước
riêng của mình, bằng cách đi ra nước ngoài, đến với các nước phương Tây, xem sự
thật đằng sau tư tưởng Tự do, Bình đẳng và Bác ái là gì, tìm học con đường đấu
tranh thích hợp để sau này trở về giúp đồng bào mình tự giải phóng.
Từ năm 1911 đến năm 1917, chỉ với túi hành trang là lòng yêu nước sâu sắc,

Quốc đã bỏ phiếu tán thành việc gia nhập Quốc tế Cộng sản và tham gia sáng lập
Đảng Cộng sản Pháp, trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên. Những hành
động này đã đánh dấu một mốc son quan trọng trong cuộc đời hoạt động cách
mạng của Người. Từ chủ nghĩa yêu nước truyền thống, Người đã đến với chủ nghĩa
Mác-Lênin. Chân lý về con đường cứu nước, giải phóng dân tộc mà suốt gần mười
năm qua Người bôn ba tìm kiếm đến nay đã được tìm thấy.
Như vậy, bằng sự kiện Nguyễn Ái Quốc tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lênin, tìm ra
con đường giải phóng dân tộc đúng đắn, phù hợp với xu hướng phát triển của thời
đại, đó là con đường cách mạng vô sản, đã giúp cách mạng Việt Nam chấm dứt thời
kỳ dài bị khủng hoảng về đường lối cứu nước, giải phóng dân tộc.


Từ đây, Nguyễn Ái Quốc đã ra sức nghiên cứu lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin và
kinh nghiệm cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga. Đồng thời, Người tham gia viết bài
cho các tờ báo, nhằm tố cáo tội ác của chủ nghĩa thực dân và tìm cách bí mật
truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin về nước; từng bước chuẩn bị về mặt chính trị, tư
tưởng và tổ chức để cho ra đời một chính đảng, kịp thời dẫn dắt phong trào cách
mạng trong nước.
Để giúp các dân tộc thuộc địa, trong đó có Việt Nam hiểu rõ bộ mặt thật của
chủ nghĩa thực dân, giác ngộ con đường đấu tranh cách mạng và đoàn kết lại với
nhau, Nguyễn Ái Quốc cùng các đồng chí của mình sáng lập Hội Liên hiệp các dân
tộc thuộc địa (tháng 10/1920) và sáng lập tờ báo Le Paria (Người cùng khổ). Có thể
nói, đây là tổ chức đầu tiên trên thế giới kêu gọi các dân tộc thuộc địa đoàn kết lại
để cùng đấu tranh chống một kẻ thù chung là chủ nghĩa đế quốc.
Tháng 6/1923, Nguyễn Ái Quốc bí mật đến Liên Xô, hoạt động cho Quốc tế
Cộng sản, cụ thể là ở Ban Phương Đông và Quốc tế Nông dân. Tại đây, Người có điều
kiện trực tiếp nghiên cứu lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin một cách có hệ thống, đi sâu
nghiên cứu kinh nghiệm Cách mạng Tháng Mười Nga, cách thức tổ chức và hoạt
động của các Đảng Cộng sản, đặc biệt là Đảng Cộng sản Liên Xô…
Tháng 11/1924, Nguyễn Ái Quốc từ Liên Xô đến Quảng Châu (Trung Quốc).

Trong khoảng thời gian này, ở Việt Nam, phong trào yêu nước của nhân dân
phát triển rất mạnh. Mở đầu là các cuộc bãi công của công nhân, phong trào đòi thả
tự do cho cụ Phan Bội Châu (1925), phong trào để tang cụ Phan Chu Trinh (đầu
năm 1926). Thông qua những hoạt động này là dịp rất tốt để Nguyễn Ái Quốc và
Hội Việt Nam cách mạng thanh niên truyền bá sâu rộng hơn chủ nghĩa Mác-Lênin
vào giai cấp công nhân và nhân dân lao động.
Tháng 9/1928, kỳ bộ Hội Việt Nam cách mạng thanh niên ở Bắc Kỳ đưa ra chủ
trương "Vô sản hoá", nhằm đưa hội viên vào các nhà máy, đồn điền, hầm mỏ để đẩy
mạnh việc truyền bá và kết hợp chủ nghĩa Mác-Lênin với các phong trào đấu tranh
của công nhân.
Như vậy, đến cuối những năm 1920, phong trào đấu tranh cách mạng ở Việt
Nam đã phát triển lên đến đỉnh cao, bao gồm cả chất và lượng. Trước sự phát triển
đó, Hội Việt Nam cách mạng thanh niên đã không còn đủ sức lãnh đạo phong trào
cách mạng. Tình hình cách mạng lúc này đòi hỏi bức thiết phải thành lập một Đảng
Cộng sản để tiếp tục lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam tiến lên.
Với không khí dâng lên cao mạnh mẽ của phong trào đấu tranh cách mạng, chỉ
trong vòng 7 tháng (từ tháng 6/1929 đến tháng 1/1930), cả nước lần lượt đã ra
đời ba tổ chức cộng sản. Đó là, Đông Dương Cộng sản Đảng (tháng 6/1929), An
Nam Cộng sản Đảng (tháng 10/1929) và Đông Dương Cộng sản liên đoàn (tháng
1/1930). Sự xuất hiện ba tổ chức cộng sản cùng hoạt động với mục tiêu thống nhất
chung đã chứng tỏ rằng cách mạng Việt Nam đang phát triển lên đến đỉnh cao,
phản ánh kết quả thành công của quá trình dài chuẩn bị về tư tưởng, chính trị và tổ
chức của Nguyễn Ái Quốc để tiến đến thành lập một Đảng Cộng sản ở Việt Nam. Tuy
nhiên, trong một nước cùng lúc xuất hiện tới ba tổ chức chức cộng sản, cùng một
mục tiêu hoạt động, nhưng lại không đoàn kết, thống nhất với nhau, điều đó đã làm
ảnh hưởng xấu đến sự nghiệp chung của cách mạng cả nước. Vì vậy, lúc này, việc
thống nhất các tổ chức cộng sản thành một Đảng Cộng sản duy nhất, đủ khả năng


lãnh đạo phong trào cách mạng cả nước vừa là yêu cầu tất yếu khách quan, vừa là

tiên cho cách mạng Việt Nam.
Thứ ba, bằng uy tín và sự chuẩn bị chu đáo của mình, Nguyễn Ái Quốc đã
thống nhất thành công các tổ chức cộng sản ở Việt Nam, thành lập ra Đảng Cộng
sản Việt Nam. Tạo sự thống nhất về tư tưởng, chính trị và tổ chức trong phong trào


đấu tranh cách mạng. Đây là những điều kiện thiết yếu để đưa cách mạng Việt Nam
đi đến thành công.
Thứ tư, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, đồng nghĩa với việc Nguyễn Ái Quốc
đã phá tan sự đơn độc tồn tại lâu đời, thiết lập nên sự đoàn kết, thống nhất hành
động giữa cách mạng Việt Nam với cách mạng các nước Đông Dương. Đặc biệt là
đưa cách mạng Việt Nam trở thành một bộ phận khăn khít của cách mạng thế giới.

Câu 2: Phân tích đúng đắn, sáng tạo của cương lĩnh chính trị tháng 2/1930?
Trả lời:
-Về cơ sở lí luận: Cương lĩnh đã dựa trên nền tảng lý luận của Chủ nghĩa MácLênin, một hệ thống lí luận tiến bộ đúng đắn và khoa học.
Cương lĩnh khẳng định cách mạng Việt Nam phải trải qua hai giai đoạn: Cách mạng
tư sản dân quyền và Cách mạng xã hội chủ nghĩa. Hai giai đoạn cách mạng này kế
tiếp nhau, không có bức tường nào ngăn cách. Cương lĩnh chủ trương: “làm tư sản
dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. Qua đó, ta
thấy rằng: ngay từ đầu, Đảng ta đã nhận thức rõ con đường phát triển tất yếu của
cách mạng Việt Nam là kết hợp và gương cao hai ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ
nghĩa xã hội. Đây là điều hoàn toàn đúng đắn vì nó phù hợp với hoàn cảnh cụ thể
của lịch sử nước ta. Đồng thời, chúng ta cũng thấy được sự vận dụng sáng tạo và
hợp lí lí luận cách mạng không ngừng của chủ nghĩa Mác-Lênin.
Cương lĩnh khẳng định, nhiệm vụ của cách mạng tư sản dân quyền ở nước ta là
chống đế quốc và chống phong kiến. Điều này cũng thể hiện tính đúng đắn và sáng
tạo của Cương lĩnh. Tính đúng đắn và sáng tạo thể hiện ở chỗ Cương lĩnh đã giải
quyết đúng hai mâu thuẫn cơ bản của xã hội Việt Nam và vận dụng sáng tạo chủ
nghĩa Mác-Lênin vào hoàn cảnh cụ thể ở Việt Nam. Mâu thuẫn chủ yếu của xã hội

giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa. Cho nên cách mạng ở các nước thuộc địa
muốn thắng lợi thì nhân dân các nước thuộc địa phải đoàn kết với nhau và đoàn kết
với giai cấp vô sản trên thế giới.
Tóm lại Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng ta là một cương lĩnh cách mạng
giải phóng dân tộc đúng đắn và sáng tạo, nhuần nhuyễn về quan điểm giai cấp,
thấm đượm tính dân tộc và tính nhân văn sâu sắc.
Đường lối lãnh đạo là một trong những vấn đề chiến lược của mỗi Đảng cầm
quyền. Xác định được điều đó,ngay từ khi ra đời,tại hội nghị thành lập Đảng,các đại
biểu đã thông qua Chính cương vắn tắt,sách lược vắn tắt,điều lệ tóm tắt,đó được
coi như là cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng ta.Mặc dù còn sơ lược,vắn tắt
nhưng nó đã khẳng định tính đúng đắn sáng tạo khoa học và trở thành kim chỉ nam
cho mọi hành động của Đảng ta trong mọi thời kì cách mạng và đặc biệt có giá trị
trong thời đại ngày nay!
Trước hết chính cương lĩnh khẳng định tính chất của cách mạng Việt nam là
cách mạng tư sản dân quyền và thổ địa cách mạng để đi tới cách mạng xã hội chủ
nghĩa.Nước ta hiện nay đang trong giai đoạn quá độ lên XHCN,tức là đã hoàn thành
cơ bản nhiệm vụ CMTSDQ và CMRĐ,vì vậy nhiệm vụ hàng đầu hiện nay là xây dựng
cơ sở vật chất cho CNXH tiếp tục,kiên trì con đường đi lên XHCN,xây dựng nền kinh
tế hàng hoá nhiều thành phần nhưng định hướng xã hội chủ nghĩa,tức là không
thay đổi chiến lược cách mạng,không xa rời nguyên lí của Chủ nghĩa Mác Lê nin mà
làm cho nhiệm vụ ấy thực hiện có hiệu quả ,vận động theo tiến trình của lịch sử và
dân tộc.
Cương lĩnh cũng khẳng định lực lượng cách mạng là công nhân nông dân,tiểu
tưu sản trí thức.Đối với phú nông trung nông hoặc tư sản thì phải lôi kéo lợi dụng


họ hoặc ít nhất là làm cho họ trung lập!Điều này đặc biệt có ý nghĩa trong thời đại
ngày nay,bên cạnh liên minh công nông làm nền tảng,chúng ta cần phát huy hơn
nữa sức mạnh đại đoàn kết của cả dân tộc,trong đó có mọi thành phần xã hội tạo
nên sức mạnh tổng hợp để tiến nhanh tiến mạnh vào thời đại.Điều đó cũng có nghĩa

cơ bản của cáchmạng Việt Nam và tôn chỉ mục đích, nguyên tắc tổ chức và hoạt


động của Đảng cộng sảnViệt Nam, cương lĩnh chính trị đã được vạch ra. Tại
hội nghị thành lập Đảng từ ngày3/2/1930 đến ngày 7/2/1930 ở Hương Cảng –
Trung Quốc, các đại biểu đã nhất trí thôngqua Chính cương vắn tắt, Sách lược văn
tắt và Chương trình tóm tắt do Nguyễn Ái Quốcsoạn thảo. Các văn kiện đó hợp
thành
Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng ta-Cươnglĩnh Hồ Chí Minh.
Tiếp theo đó, vào tháng 10.1930 cũng tại Hương Cảng-Trung Quốc Ban
chấp hành Trung ương họp Hội nghị lần thứ nhất đã thông qua Luận cương chính
trịdo đồng chí Trần Phú soạn thảo.Cương lĩnh chính trị và luận cương chính trị
là những văn kiện thể hiện đường lốic á ch m ạ n g c ủ a Đ ả n g t a . Vậ y g i ữ a h a i
v ă n k i ệ n n à y có n h ữ n g đ i ể m g ì g i ố n g v à k h á c nhau ?. Chúng ta hãy
cùng tìm hiểu vấn đề này.
Hai văn kiện trên được xây dựng trên cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn, xác định
rõ phương hướng chiến lược, nhiệm vụ cụ thể và cơ bản, lực lượng cách mạng,
phương phápcách mạng, đoàn kết quốc tế và vai trò lãnh đạo của Đảng.
Trong mỗi khía cạnh trên đều thể hiện rõ sự giống và khác nhau giữa hai văn
kiện.Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng (3/2/1930) và Luận cương chính
trị(10/1930) cónhững điểm giống nhau sau:
-Về phương hướng chiến lược của cách mạng, cả 2 văn kiện đều xác định được
tíchchất của cách mạng Việt Nam là: Cách mạng tư sản dân quyền và thổ địa cách
mạng, bỏqua giai đoạn tư bản chủ nghĩa để đi tới xã hội cộng sản, đây là 2 nhiệm
vụ cách mạng nối tiếp nhau không có bức tường ngăn cách. Phương hướng chiến
lược đã phản ánh xu thế của thời đại và nguyện vọng đông đảo của nhân dân Việt
Nam.
-Về nhiệm vụ cách mạng, đều là chống đế quốc, phong kiến để lấy lại ruộng đất
vàgiành độc lập dân tộc.
-Về lực lượng cách mạng, chủ yếu là công nhân và nông dân. Đây là hai lực

Trong Luận cương chính trị thì xác định phải “tranh đấu để đánh đổ các
di tích phong kiến, đánh đổ các cách bóc lột theo lối tiền tư bản và để
thựchành thổ địa cách mạng cho triệt để” và “đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp, làm
cho Đông Dương hoàn toàn độc lập”. Hai nhiệm vụ chiến lược dân chủ và dân tộc
được tiến hànhcùng một lúc có quan hệ khăng khít với nhau. Việc xác định nhiệm vụ
như vậy của Luận cương đã đáp ứng những yêu cầu khách quan đồng thời giải
quyết hai mâu thuẫn cơ bản trong xã hội Việt Nam lúc đó là mâu thuẫn dân tộc và mâu
thuẫn giai cấp đang ngày càng sâu sắc. Tuy nhiên, Luận cương chưa xác định
được kẻ thù, nhiệm vụ hàng đầu ở mộtnước thuộc địa nửa phong kiến nên không
nêu cao vấn đề dân tộc lên hàng đầu đó là nêu cao vấn đề đấu tranh giai cấp, vấn đề
cách mạng ruộng đất.
Hai là, về lực lượng cách mạng: Trong Cương lĩnh chính trị xác định
lực lượngcách mạng là giai cấp công nhân và nông dân nhưng bên cạnh đó
cũng phải liên minhđoàn kết với tiểu tư sản, lợi dụng hoặc trung lập phú nông,
trung nông, tiểu địa chủ và tư bản Việt Nam chưa rõ mặt phản cách mạng. Như vậy,
ngoài việc xác định lực lượng nòngcốt của cách mạng là giai cấp công nhân thì cương
lĩnh cũng phát huy được sức mạnh củacả khối đoàn kết dân tộc, hướng vào nhiệm vụ


hàng đầu là giải phóng dân tộc. Với Luận cương thì xác định giai cấp vô sản và
nông dân là hai động lực chính của cách mạng mạng tư sản dân quyền,
trong đó giai cấp vô sản là đông lực chính và mạnh, là giai cấp lãnh đạo cách
mạng, nông dân có số lượng đông đảo nhất, là một động lực mạnh của cách mạng, còn
những giai cấp và tầng lớp khác ngoài công nông như tư sản thương nghiệp thì đứng
về phía đế quốc chống cách mạng, còn tư sản công nghiệp thì đứng về
phía quốcgia cải lương và khi cách mạng phát triển cao thì họ sẽ theo đế quốc. Điều
đó cho thấy ta chưa phát huy được khối đoàn kết dân tộc, chưa đánh giá đúng khả
năng cách mạng của tầng lớp tiểu tư sản, khả năng chống đế quốc và phong
kiến ở mức độ nhất định của tưsản dân tộc, khả năng lôi kéo một bộ phận trung,
tiểu địa chủ tham gia mặt trận dân tộcthống nhất chống đế quốc và tay sai. Tóm

Những người này lập luận rằng: Từ sau cuộc đảo chính của Nhật (09-3-1945),
Đông Dương nói chung và Việt Nam nói riêng không còn là thuộc địa của Pháp, mà
là thuộc địa của Nhật. Trong khi đó, phát xít Nhật đã bị quân Đồng minh đánh cho
tơi tả, phải chịu thất bại thảm hại và tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Như vậy, ở
Đông Dương xuất hiện “khoảng trống quyền lực”, cho nên cách mạng chỉ cần nổ ra
là giành thắng lợi (?). Từ cách nhìn như vậy, họ cho rằng “Cách mạng Tháng Tám là
một sự ăn may”. Thực chất quan điểm của họ là nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo
của Đảng, sức mạnh của quần chúng và đi đến phủ nhận sự nghiệp cách mạng vĩ
đại của nhân dân ta. Cần phải thấy rằng, để Cách mạng Tháng Tám nổ ra và giành
thắng lợi, ngoài yếu tố khách quan đóng vai trò quan trọng thì nhân tố quyết
định là sự lãnh đạo của Đảng; là việc Đảng ta đã phát huy được sức mạnh tổng hợp
của khối đại đoàn kết toàn dân tộc và dự đoán thời cơ chính xác, chớp thời cơ kịp
thời để phát động tổng khởi nghĩa thành công. Nếu điều kiện chín muồi đã đến mà
không nắm lấy thời cơ, chần chừ, chờ đợi địch đầu hàng, trao quyền độc lập thì cơ
hội ngàn vàng đó sẽ không bao giờ đến; Cách mạng Tháng Tám sẽ không thể xảy ra.
Thực tế lịch sử là vậy nhưng vẫn còn những ý kiến trái chiều, thiếu thiện chí, không
khách quan, cần phải làm sáng tỏ.
Trước hết, phải thấy rằng: việc Liên Xô và quân Đồng minh đánh bại phát xít Nhật
chỉ tạo ra điều kiện khách quan thuận lợi cho cách mạng Việt Nam. Bởi lẽ, phát xít
Nhật tuy bị đánh bại, nhưng lực lượng quân đội Nhật ở Việt Nam lúc bấy giờ còn
rất mạnh vì chúng mới được tăng cường vào đầu năm 1945. Hơn nữa, Nhật vẫn xác
định Việt Nam là đầu cầu liên lạc cuối cùng của họ đối với vùng Đông Nam Á; nếu
để mất thì quyền lợi của Nhật ở vùng đất này sẽ không còn, danh dự của Nhật cũng
sẽ mất; bởi vậy, chúng kiên quyết giữ bằng mọi giá. Thực tế lực lượng của phát xít
Nhật ở Việt Nam lúc đó vẫn còn khoảng 100.000 quân, với đầy đủ vũ khí, trang bị và
đóng nguyên tại các vị trí phòng thủ của mình. Cho dù đã không còn ý chí chiến đấu,
nhưng hai quân đoàn của Nhật vẫn sẵn sàng tuân lệnh từ cấp trên của họ và là một
đối thủ mạnh với bất cứ lực lượng nào định tấn công bằng vũ lực. Trong thời điểm
nhạy cảm đó, quân Nhật vẫn có thể nổ súng vào lực lượng khởi nghĩa với nhiều lý
do: để tự vệ, để giữ gìn trật tự tại nơi đóng quân chờ quân Đồng minh tới giải

vững chắc, vừa làm nơi đóng quân của lực lượng cách mạng, vừa là nơi đánh địch,
rút lui để bảo vệ mặt trận, đồng thời là nơi cung cấp sức người, sức của cho cách
mạng. Xây dựng căn cứ địa cũng là để đảm bảo sự liên lạc dễ dàng của cách mạng
Việt Nam với cách mạng thế giới, đặc biệt là với Liên Xô và Trung Quốc. Thực hiện
chủ trương đó, chúng ta đã sớm xúc tiến xây dựng các căn cứ địa cách mạng ở Bắc
Sơn, Cao Bằng, với các tên gọi khác nhau. Đặc biệt, chúng ta đã xây dựng Việt Bắc
thành căn cứ địa hoàn chỉnh; là “hình ảnh thu nhỏ của nước Việt Nam”; trong đó,
Tuyên Quang được xác định là “Thủ đô kháng chiến”. Việc xây dựng căn cứ địa vững
chắc là bước “tạo thế” quan trọng để Tổng khởi nghĩa đi đến thắng lợi.
Trên cơ sở nhận thức rõ quy luật tất yếu: mọi cuộc cách mạng muốn thành
công phải có lực lượng mạnh,Đảng ta đã rất quan tâm đến xây dựng lực lượng
vững mạnh theo một quy trình từ xây dựng lực lượng chính trị, xây dựng lực lượng
bán vũ trang quần chúng, từ đó phát triển thành lực lượng vũ trang cách mạng.
Ngay từ khi Nhật còn chưa tham chiến ở Việt Nam, chúng ta đã xây dựng được lực
lượng quần chúng đông đảo, tham gia vào các Hội Cứu quốc của Mặt trận Việt Minh
theo sáng kiến của Hồ Chí Minh (5-1941) và liên tục phát triển trên địa bàn ngày
càng rộng. Đây là tổ chức tập hợp được đông đảo quần chúng nhất, hơn bất cứ tổ
chức nào khác ở Việt Nam khi đó, và đã tuyên bố (từ rất sớm) đứng về phía Đồng
minh trong cuộc đấu tranh chống phát xít. Khi viết về thắng lợi của cuộc Tổng khởi
nghĩa Tháng Tám 1945, trong cuốn “Lịch sử Việt Nam từ 1940 đến 1952”, nhà sử
học Pháp Philippe Devillers nhận định: “Nó (Cách mạng Tháng Tám - TG) còn là kết
quả lô-gic của Việt Minh trong mọi khu vực của đời sống đất nước”. Trong xây dựng
lực lượng vũ trang, chúng ta đã xây dựng được hai bộ phận: lực lượng bán vũ trang
của quần chúng và lực lượng vũ trang tập trung. Thực tế ta đã xây dựng được 3
trung đội Cứu quốc quân3. Lực lượng này đã giữ vai trò quan trọng trong đấu tranh
vũ trang, cùng với lực lượng đông đảo của quần chúng tiến hành Tổng khởi nghĩa


trên khắp các địa phương trong cả nước. Đây cũng là cơ sở để ngày 22-12-1944,
Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân ra đời, đánh dấu sự phát triển không

người chỉ huy cuộc khởi nghĩa đã tiếp xúc với Bộ Chỉ huy quân Nhật và thương
lượng thành công để giải tỏa cuộc bao vây, tránh được cuộc xung đột vũ trang có
thể xảy ra. Việc tránh được xung đột với quân đội Nhật được đánh giá là một thắng
lợi quan trọng của cuộc khởi nghĩa tại Hà Nội. Cho đến ngày 19-8-1945, chính phủ
thân Nhật của người Việt Nam do ông Trần Trọng Kim đứng đầu vẫn tồn tại và
hoạt động. Nhiều đảng phái và tổ chức chính trị khác cũng nhận thức được cơ hội
đang đến và gấp rút chạy đua trong nỗ lực xúc tiến những hoạt động giành địa vị
chính trị cho mình. Nhưng cuối cùng, Hồ Chí Minh và Việt Minh đã thắng. Như vậy,
có thể khẳng định rằng, Cách mạng Tháng Tám nổ ra và giành thắng lợi nhanh
chóng là nhờ sự tài tình của Đảng và Bác Hồ trong nghệ thuật chỉ đạo và lãnh đạo


cách mạng; sự chuẩn bị chu đáo về đường lối, căn cứ địa, lực lượng cách mạng và
việc dự đoán thời cơ, chớp lấy thời cơ... Với lực lượng đông đảo được tập hợp và rèn
luyện đấu tranh trong tổ chức Việt Minh, với một Lãnh tụ dẫn đường xuất sắc, nhân
dân Việt Nam đã đứng lên tự giải phóng mình chứ không hề ngồi yên trông mong,
chờ đợi một “khoảng trống quyền lực” hay một khoảng “chân không chính trị” nào.
Đảng, Bác Hồ đã nhận định đúng tình hình, đón đúng và tận dụng triệt để thời cơ
lịch sử “ngàn năm có một” để giành thắng lợi trọn vẹn. Tất cả những luận chứng
khoa học trên đây cùng với thực tiễn của những ngày tháng Tám năm 1945 lịch sử
khẳng định rằng: Cách mạng Tháng Tám thành công không phải là “sự ăn
may” như ai đó từng hồ đồ tuyên bố.
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 của Việt Nam là cuộc cách mạng giải phóng
dân tộc đi theo con đường Cách mạng Tháng Mười, nằm trong quỹ đạo của cách
mạng vô sản. Đây là cuộc cách mạng do Đảng Cộng sản lãnh đạo, do đó, thành công
của cách mạng là triệt để, là "đến nơi" như Hồ Chí Minh khẳng định. Giá trị lịch sử
và ý nghĩa thời đại của Cách mạng Tháng Tám là không thể phủ định được. Vì vậy,
mọi mưu toan chống phá, sự suy diễn chủ quan về cuộc cách mạng này đều không
có giá trị.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status