I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
NGUYN TH TUYT MAI
HON THIN PHP LUT U I X HI
VIT NAM
luận văn thạc sĩ luật học
Hà nội - 2009
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ TUYẾT MAI
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT ƯU ĐÃI XÃ HỘI
Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành : Luật kinh tế
Mã số
: 60 38 50
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Hữu Chí
Hµ néi - 2009
Các nguyên tắc của pháp luật ưu đãi xã hội
Vai trò, ý nghĩa của pháp luật ưu đãi xã hội
Lược sử phát triển của pháp luật ưu đãi xã hội (từ sau Cách
mạng tháng Tám 1945 đến nay)
Giai đoạn từ sau Cách mạng tháng Tám-1945 đến năm 1954
Giai đoạn từ 1954 đến 1975
Giai đoạn từ 1975 đến 1985
Giai đoạn từ 1986 đến 1994
Giai đoạn từ 1995 đến nay
Chương 2: QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT ƢU ĐÃI XÃ HỘI Ở VIỆT
4
4
9
10
15
18
19
20
23
24
25
28
NAM VÀ THỰC TRẠNG ÁP DỤNG
2.1.
2.1.1.
2.1.2.
2.1.3.
Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học
Người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt
tù, đày
Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ
quốc và làm nghĩa vụ quốc tế
Các chế độ ưu đãi xã hội
Các chế độ ưu đãi xã hội
Chế độ ưu đãi trợ cấp
Chế độ ưu đãi đối với người hoạt động cách mạng trước ngày
01 tháng 01 năm 1945 và thân nhân của họ
Đối với người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945
đến trước Tổng khởi nghĩa 19 tháng 8 năm 1945 và thân nhân của họ
Chế độ ưu đãi đối với liệt sĩ và thân nhân liệt sĩ
Chế độ đối với Bà mẹ Việt Nam anh hùng
Chế độ đối với Anh hùng Lực lượng vũ trang, Anh hùng lao động
Chế độ đối với thương binh, người hưởng chính sách như
thương binh, thương binh loại B (gọi chung là thương binh)
Chế độ đối với bệnh binh
Chế độ đối với người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc
hóa học
Chế độ đối với người hoạt động cách mạng hoặc hoạt động
kháng chiến bị địch bắt, tù đày
Chế độ đối với người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc,
1
29
29
29
29
bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế
Chế độ đối với người có công giúp đỡ cách mạng
Chế độ chăm sóc sức khỏe
Chế độ đảm bảo về việc làm
Chế độ ưu đãi về giáo dục - đào tạo
Các chế độ khác
Thực trạng áp dụng pháp luật ưu đãi xã hội ở Việt Nam hiện
nay
Những thành tựu, kết quả đạt được
Những hạn chế và tồn tại
Chương 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP
46
47
48
50
51
52
52
55
60
LUẬT ƢU ĐÃI XÃ HỘI Ở VIỆT NAM
3.1.
3.1.1.
3.1.2.
3.1.3.
3.1.4.
65
67
67
69
72
73
80
82
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất nước chúng ta đã trải qua hai cuộc chiến tranh ác liệt và lâu dài
với rất nhiều sự hy sinh và mất mát. Ở bất kỳ thời kỳ nào những người có
công đều được kính trọng, được hưởng những chính sách ưu đãi từ phía Nhà
nước, các tổ chức và cộng đồng xã hội.
Trong hệ thống an sinh xã hội của Việt Nam thì ưu đãi xã hội chiếm
một vị trí rất quan trọng. Ưu đãi xã hội đó là minh chứng cho truyền thống
"Ăn quả nhớ kẻ trồng cây" của dân tộc ta, là tình cảm và là sự biết ơn của thế
hệ đi sau đối với những người đã hy sinh xương máu vì độc lập tự do của Tổ
quốc. Thực hiện tốt chính sách ưu đãi xã hội sẽ tạo ra không những cho người
thuộc đối tượng chính sách mà còn là những đối tượng khác niềm tin vào một
xã hội tốt đẹp, vào sự công bằng của đất nước, là sự động viên, khích lệ họ
cống hiến, hy sinh cho đất nước...
Từ sau khi giành được chính quyền cho đến nay, Nhà nước ta đã ban
hành một loạt hệ thống các văn bản pháp luật để điều chỉnh vấn đề này. Các
văn bản pháp luật qua từng giai đoạn, từng thời kỳ đã được sửa đổi, bổ sung,
hoàn thiện hơn, phù hợp hơn với thực tiễn.
cũng như lý luận về pháp luật ưu đãi xã hội, phân tích và tìm ra những tồn tại
của pháp luật ưu đãi xã hội từ đó đưa ra những cách thức hoàn thiện các quy
phạm pháp luật ưu đãi xã hội.
Luận văn chỉ giới hạn nghiên cứu những quy phạm pháp luật về chính
sách đối với người có công trong giai đoạn từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 đến nay.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
4
Luận văn được viết dựa trên sự tổng hợp các phương pháp nghiên cứu,
trong đó tác giả sử dụng một số phương pháp nghiên cứu chính như phương
pháp duy vật lịch sử, phương pháp phân tích, so sánh…
5. Những đóng góp mới của luận văn
Luận văn đã góp phần làm sáng tỏ hơn nữa những vấn đề lý luận cơ
bản về pháp luật ưu đãi xã hội.
Đưa ra khái niệm pháp luật ưu đãi xã hội. Phân tích vai trò, ý nghĩa
cũng như những nguyên tắc điều chỉnh xuyên suốt pháp luật ưu đãi xã hội.
Phân tích thực trạng pháp luật ưu đãi xã hội, đưa ra những kiến nghị
nhằm hoàn thiện pháp luật ưu đãi xã hội.
Đưa ra những vấn đề cơ bản cũng như mô hình để xây dựng pháp luật
ưu đãi xã hội ở Việt Nam.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về pháp luật ưu đãi xã hội.
Chương 2: Quy định pháp luật ưu đãi xã hội ở Việt Nam và thực trạng
áp dụng.
Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật ưu đãi xã hội
ở Việt Nam.
giúp đỡ cách mạng,… Họ là những người có công với cách mạng, với đất
6
nước, được Nhà nước và nhân dân ghi nhận, biết ơn sâu sắc. Do vậy, ưu đãi
xã hội xét ở một góc độ nào đó chính là những ưu đãi đối với người có công
với cách mạng (pháp luật ưu đãi xã hội Việt Nam hiện nay chỉ quy định về
đối tượng này).
Tuy nhiên, những người có công với đất nước không chỉ bao gồm
những người có công với cách mạng, những người đã xả thân vì sự nghiệp
bảo vệ Tổ quốc, vì độc lập dân tộc. Bên cạnh đó còn một bộ phận những
người đã cống hiến, hy sinh hết sức mình để bảo vệ, xây dựng và giữ vững đất
nước không phải chỉ trong thời chiến mà cả trong thời bình, họ đã đem lại
những thành tích, sự vinh quang cho đất nước, góp phần vào sự phát triển của
đất nước cũng như khẳng định vị thế của đất nước trên trường quốc tế… Vì
thế, đối tượng người có công được hưởng ưu đãi xã hội không chỉ bó hẹp
trong phạm vi những người có công với cách mạng mà còn được hiểu theo
nghĩa rộng, đó là những người đã cống hiến sức lực, năng lực, trí tuệ và mạng
sống của mình cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, phát triển đất nước mà không
có bất kỳ sự đòi hỏi, yêu cầu bù đắp nào. Họ là những người có thành tích
xuất sắc bảo vệ cho sự bình an của xã hội, làm rạng danh đất nước, cống hiến,
hy sinh vì lợi ích của đất nước, của dân tộc, được sự công nhận của pháp luật
mà không có sự phân biệt tôn giáo, dân tộc, tín ngưỡng, tuổi tác, giới tính,
nghề nghiệp…, như Nhà giáo nhân dân, Nghệ sĩ nhân dân, Thầy thuốc ưu tú,
Nhà kinh tế, Nhà khoa học có đóng góp xuất sắc…
Lịch sử đã chứng minh, dân tộc Việt Nam là một dân tộc anh hùng.
Gần một thập kỷ qua dưới sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng Cộng sản
Việt Nam, nhân dân ta đã đồng lòng quyết tâm thực hiện lời kêu gọi của Chủ
tịch Hồ Chí Minh "Không có gì quý hơn độc lập tự do"; "Thà hy sinh tất cả
động ở mọi thành phần kinh tế khi họ gặp phải những rủi ro không may trong
quá trình lao động làm cho khả năng lao động của họ bị giảm sút, hay trong
trường hợp người lao động già yếu không có khả năng lao động. Chính sách
cứu trợ xã hội là sự trợ giúp của Nhà nước đối với các thành viên của xã hội
khi họ bị rơi vào hoàn cảnh rủi ro, bất hạnh, nghèo đói, khó khăn, hiểm
nghèo… nhằm giúp họ tồn tại, ổn định cuộc sống, tái hòa nhập cộng đồng.
9
Còn chính sách ưu đãi xã hội như đã phân tích ở trên chính là chính sách ưu
đãi người có công. Tuy nhiên, khác với các chính sách còn lại trong hệ thống
an sinh xã hội thì chính sách ưu đãi xã hội không chỉ là sự bảo vệ, trợ giúp
của Nhà nước mà nó còn là nghĩa vụ, là trách nhiệm của Nhà nước, của cộng
đồng đối với người có công, thể hiện sự biết ơn sâu sắc đến họ. Vì thế, chính
sách ưu đãi xã hội có vị trí quan trọng trong hệ thống chính sách an sinh xã
hội. Đó không chỉ là vấn đề truyền thống, đạo lý mà còn là vấn đề chính trị,
giáo dục, là vấn đề kinh tế, xã hội có ý nghĩa lâu dài.
Để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội, Nhà nước đặt ra pháp luật, quy
định những quy tắc xử sự chung nhất cho các mối quan hệ xã hội và đảm bảo việc
thực thi bằng những biện pháp thuyết phục, cưỡng chế của mình. "Pháp luật là
hệ thống các quy tắc xử sự do Nhà nước ban hành (hoặc thừa nhận) và đảm bảo
thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội, là yếu tố điều chỉnh
các quan hệ xã hội nhằm tạo ra trật tự và ổn định trong xã hội" [22, tr. 226].
Pháp luật ưu đãi xã hội là sự thể chế hóa các chính sách ưu đãi của
Đảng, Nhà nước đối với người có công, các quyền ưu đãi của người có công
và những đảm bảo về mặt pháp lý cho việc thực hiện các quyền đó. Pháp luật
ưu đãi người có công quy định những nguyên tắc, cách thức, phương pháp
thực hiện các chế độ ưu đãi đối với người có công; quy định quyền hạn, trách
nhiệm của các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện ưu đãi đối với người có
điều chỉnh, nhìn chung được hiểu là cách thức mà Nhà nước sử dụng để tác
động vào các quan hệ xã hội thuộc đối tượng điều chỉnh của ngành luật ấy.
Đối với mỗi ngành luật, dựa trên những quan hệ xã hội mà nó điều chỉnh thì
phương pháp điều chỉnh cũng khác nhau, việc sử dụng phương pháp nào đều
đã được tính toán sao cho phù hợp và đem lại hiệu quả tốt nhất.
Phương pháp điều chỉnh của pháp luật ưu đãi xã hội chủ yếu là những
phương pháp mệnh lệnh - quyền uy (hay còn gọi là quyền uy - phục tùng), đó
là những quy định về đối tượng được trợ cấp, mức trợ cấp, thủ tục xác nhận là
đối tượng được hưởng trợ cấp… Tuy nhiên, trong quan hệ ưu đãi xã hội
11
phương pháp mệnh lệnh - quyền uy này không giống như trong pháp luật
hành chính. Trong pháp luật hành chính, đó là sự bắt buộc của một bên là Nhà
nước đối với bên kia là các cơ quan, tổ chức hay cá nhân, những người có
nghĩa vụ phải phục tùng các mệnh lệnh đó, là quan hệ giữa cấp trên và cấp
dưới. Quyền uy - phục tùng trong pháp luật ưu đãi xã hội mang tính chất
"mềm" hơn nhiều. Thực hiện việc ưu đãi xã hội, trước hết đó là trách nhiệm
của Nhà nước, trách nhiệm "đền ơn, đáp nghĩa"; ưu đãi xã hội là sự "ưu đãi",
"trợ giúp" cho những đối tượng đặc biệt. Bởi vậy, để thực hiện được những
chính sách ưu đãi đối với người có công, Nhà nước với chức năng của mình,
đưa chính sách thành pháp luật, thành các quyền và nghĩa vụ của các bên
tham gia các quan hệ ưu đãi xã hội và đảm bảo thực hiện chúng, để cho
những người có công có được sự đền đáp xứng đáng, thể hiện sự biết ơn của
Nhà nước, thể hiện tình cảm, trách nhiệm của toàn xã hội đối với họ.
Ngoài phương pháp điều chỉnh chủ yếu trên, qua các quan hệ pháp
luật ưu đãi xã hội còn có thể thấy được sự điều chỉnh của phương pháp tùy
nghi. Những người có công đối với đất nước, họ đã hy sinh, cống hiến cho cả
đất nước, cho cả dân tộc, cho toàn xã hội, vì thế mà việc thực hiện ưu đãi xã
đề về ưu đãi xã hội như đối tượng được hưởng ưu đãi, chế độ cụ thể đối với
từng đối tượng, trách nhiệm của các cơ quan có thẩm quyền trong việc thực
thi pháp luật ưu đãi xã hội… Trên cơ sở các văn bản pháp luật được ban hành,
Nhà nước giao cho các ngành, các cấp, các địa phương triển khai thực hiện
các quy định của pháp luật ưu đãi xã hội, đưa pháp luật ưu đãi xã hội vào
cuộc sống.
Với trách nhiệm là chủ thể quản lý xã hội, Nhà nước mà cụ thể là các
cơ quan chức năng từ Trung ương đến địa phương, với nhiệm vụ, quyền hạn
của mình phải đóng vai trò là người lãnh đạo, phát động các phong trào như
"đền ơn đáp nghĩa", "đi tìm địa chỉ đỏ"… để huy động tối đa sự tham gia, ủng
hộ của toàn thể nhân dân vào việc thực hiện các chính sách ưu đãi xã hội một
cách hiệu quả nhất, để cho pháp luật ưu đãi xã hội được thực thi trong cuộc
13
sống. Thông qua các ngành, các cấp, các đoàn thể, Nhà nước hàng năm phải
đánh giá, tổng kết quá trình thực hiện chính sách ưu đãi xã hội, từ đó rút ra
những kinh nghiệm và đưa ra những sửa đổi, bổ sung để pháp luật ưu đãi xã
hội hoàn chỉnh hơn, phù hợp hơn.
Thứ hai, nguyên tắc công bằng, công khai
Nguyên tắc công bằng được thể hiện ở sự bình đẳng giữa cùng đối
tượng phải được hưởng cùng một loại chế độ ưu đãi như nhau. Những người
chịu sự mất mát, hy sinh, cống hiến như nhau phải được hưởng sự ưu đãi như
nhau. Những người có công phải được tạo điều kiện, tạo cơ hội như nhau để
hòa nhập với cộng đồng, phải được Nhà nước, xã hội ưu tiên như nhau bất kể
là nam hay nữ, giàu hay nghèo, dân tộc ở vùng miền nào. "Sự bình đẳng ở đây
được hiểu theo nghĩa rộng hơn, không chỉ đơn thuần là sự bình đẳng giữa
những người có công với nhau mà còn là sự bình đẳng giữa những người có
công với các thành viên khác của cộng đồng" [31, tr. 277].
đối tượng cần tính toán đến khả năng đáp ứng của nền kinh tế. Để cho những
chế độ ưu đãi được khả thi thì nên tránh đặt ra những mức trợ cấp, những
khoản ưu đãi vượt quá khả năng của nền kinh tế. Ngoài việc thể hiện sự biết
ơn đối với những cống hiến của người có công, ưu đãi xã hội còn nhằm mục
đích đảm bảo, cải thiện đời sống cho người có công, hỗ trợ phần nào cuộc
sống vật chất, tinh thần của họ. Vì thế, pháp luật ưu đãi xã hội không được đặt
ra những chế độ trợ cấp thấp hơn mức thu nhập trung bình của cộng đồng.
Tùy từng thời kỳ, tùy thuộc vào mức độ phát triển của nền kinh tế mà
cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phải xây dựng, sửa đổi và bổ sung mức trợ
cấp, các chế độ ưu đãi sao cho phù hợp với sự phát triển, với thu nhập của
cộng đồng dân cư, với chỉ số giá tiêu dùng trong xã hội. Xã hội ngày càng
phát triển, nền kinh tế ngày càng đi lên thì đời sống vật chất cũng như tinh
thần của những người có công càng được quan tâm và mức trợ cấp sẽ ngày
một tăng lên để phù hợp hơn với nhu cầu ngày càng cao của con người.
15
Ở mỗi địa phương, tùy tình hình phát triển kinh tế - xã hội của mình
mà địa phương đó sẽ có những chính sách khác nhau ngoài những chính sách
chung do Nhà nước đặt ra để cải thiện hơn nữa đời sống vật chất cũng như
tinh thần của người có công, nhưng những cải thiện đó đều phải trên nguyên
tắc đảm bảo cho người có công có được mức sống trung bình hoặc trên trung
bình so với dân cư nơi cư trú, nhằm ổn định cuộc sống lâu dài cho họ và giúp
họ có điều kiện để tham gia các hoạt động ích cho xã hội, tái hòa nhập với
cộng đồng, tham gia sản xuất, kinh doanh để cải thiện, nâng cao chất lượng
cuộc sống của mình cũng như góp phần vào sự phát triển chung của đất nước.
Thứ tư, xã hội hóa công tác ưu đãi xã hội
Người có công là những người đã tình nguyện hy sinh tuổi trẻ, sức lực
và cả tính mạng mình; có những cống hiến lớn lao cho sự nghiệp xây dựng,
nghiệp, cộng đồng dân cư đã có những đóng góp rất lớn và thiết thực cho
công tác ưu đãi xã hội thông qua các hoạt động, phong trào như: "đền ơn đáp
nghĩa", "đi tìm đồng đội", "tặng nhà tình nghĩa", "nhận phụng dưỡng Bà mẹ
Việt Nam anh hùng"…
1.3. VAI TRÒ, Ý NGHĨA CỦA PHÁP LUẬT ƢU ĐÃI XÃ HỘI
Như đã nói ở trên, ưu đãi xã hội là một phần quan trọng và đặc biệt
trong hệ thống an sinh xã hội Việt Nam. Pháp luật ưu đãi xã hội được ban
hành nhằm bảo vệ một số đối tượng đặc biệt đã đóng góp xương máu, tuổi trẻ,
công sức, trí tuệ vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Pháp luật ưu đãi xã hội là sự thể chế hóa những chính sách ưu đãi đối
với người có công của Nhà nước trong đời sống xã hội. Chính sách người có
công là một chính sách lớn trong hệ thống các chính sách xã hội của Đảng và
Nhà nước ta. Nó mang tính chính trị, kinh tế, xã hội và nhân văn sâu sắc.
Những người có công là một bộ phận đặc biệt của xã hội. Họ là
những người đã cống hiến cả cuộc đời hay hy sinh cả tính mạng, thân thể
17
mình cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Họ là những người đã đem
lại hòa bình, tự do cho đất nước, đã có những đóng góp lớn lao vào sự phát
triển vững mạnh của đất nước, sự bình an, cuộc sống của dân tộc. Để thực
hiện được điều đó, họ phải có niềm tin, lòng yêu nước mãnh liệt và quyết
tâm xây dựng đất nước bền vững. Vì thế, họ rất cần sự quan tâm, động viên,
công nhận và trân trọng của Nhà nước, nhân dân tạo cho họ động lực để tiếp
cống hiến. Những chế độ, ưu đãi mà Nhà nước giành cho họ không chỉ là
những sự hỗ trợ về vật chất, tinh thần mà nó còn tạo cho họ niềm tin vào
một chế độ xã hội tốt đẹp, là động lực giúp họ tiếp tục phấn đấu; khuyến
khích những thành viên khác trong xã hội cống hiến cho sự nghiệp bảo vệ và
hợp lý sẽ là động lực để những người có công trở thành một nguồn lực trong
sự phát triển kinh tế và khuyến khích những người khác phấn đấu cho sự
nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.
Thực hiện chính sách ưu đãi người có công là sự thể hiện những
truyền thống đạo đức tốt đẹp, quý báu của dân tộc ta, là thể hiện sự biết ơn đối
với những mất mát, hy sinh, cống hiến của họ. Chính sách ưu đãi đối với
người có công hay là pháp luật ưu đãi xã hội thể hiện nghĩa vụ, trách nhiệm
của Đảng, Nhà nước và cộng đồng đối với những người có công chứ không
phải sự ban ơn, sự làm phúc cho họ. Những quy định về mức trợ cấp, ưu đãi
về học tập, việc làm, nhà ở, chăm sóc sức khỏe… đã thể hiện rõ sự quan tâm
của Đảng, Nhà nước và xã hội đến mọi mặt đời sống của bộ phận dân cư đặc
biệt này. Chế độ ưu đãi xã hội phải đảm bảo đời sống vật chất đối với người
có công trong những sinh hoạt thiết yếu hàng ngày, nhất là đối với những đối
tượng có công lao, thành tích lớn; bệnh tật, thương tật nặng, giúp cho họ vượt
qua những mặc cảm, tự ti về tuổi tác, sức khỏe… để họ tái hòa nhập vào cộng
đồng, phấn đấu vươn lên, khẳng định mình trong thời kỳ hội nhập và phát
triển của đất nước.
Những đóng góp, cống hiến, hy sinh của người có công là những điều
vô giá, không chỉ có giá trị ở quá khứ, hiện tại mà còn có giá trị lớn lao cho
19
tương lai. Họ luôn là tấm gương cho các thế hệ con cháu mai sau học tập và
phấn đấu. Vì thế, thực hiện tốt pháp luật ưu đãi xã hội còn có tác dụng giáo
dục cho thế hệ trẻ truyền thống cách mạng anh hùng, bất khuất của thế hệ đi
trước, động viên thế hệ trẻ giữ vững truyền thống đó và tiếp bước cha anh giữ
gìn, bảo vệ và xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh.
Bên cạnh đó, thực hiện tốt pháp luật ưu đãi xã hội cũng góp phần tạo
ra môi trường xã hội lành mạnh, nâng cao ý thức trách nhiệm cho mỗi thành
suy tôn và thể hiện lòng biết ơn bằng những ưu tiên, ưu đãi trong mọi mặt của
đời sống, cả về vật chất lẫn tinh thần.
1.4.1. Giai đoạn từ sau Cách mạng tháng 8-1945 đến năm 1954
Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, tuy phải đối mặt với rất
nhiều khó khăn trong công cuộc giành, giữ chính quyền, kháng chiến chống
thực dân Pháp xâm lược, nhưng Đảng và Nhà nước vẫn quan tâm đến những
người có công mà cụ thể là những người có công với cách mạng, với sự
nghiệp giành độc lập tự do cho Tổ quốc.
Ngày 16/02/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 20/SL (sau
đó được sửa đổi, bổ sung bằng Sắc lệnh 242/SL ngày 12/10/1948) về "Hưu
bổng thương tật và tiền tuất cho thân nhân tử sĩ", quy định về tiêu chuẩn xác
nhận thương binh, truy tặng tử sĩ, thực hiện chế độ lương hưu thương tật đối
với thương binh, chế độ tiền tuất đối với gia đình tử sĩ. Đây là văn bản pháp
luật đầu tiên của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa quy định về những ưu
đãi đối với người có công với cách mạng. Sau đó, Đảng, Nhà nước ta còn ban
hành nhiều chính sách, văn bản có liên quan quy định những vấn đề về
thương binh, tử sĩ… và những ưu đãi dành cho họ. Đồng thời, Đảng, Nhà
nước cũng khuyến khích, động viên toàn dân dấy lên phong trào giúp đỡ,
chăm sóc những đối tượng này như phong trào đón thương binh về làng, giúp
binh sĩ tử nạn, lập quỹ tình nghĩa…
21
Trong giai đoạn này, Nhà nước đã ban hành một số Sắc lệnh, Nghị
định, Thông tư, Thông lệnh quy định về một số vấn đề như:
- Khái niệm thương binh, tử sĩ;
- Trợ cấp hàng tháng đối với thương binh, thân nhân tử sĩ;
- Trợ cấp tạm thời, trợ cấp đặc biệt đối với những trường hợp chưa
được hưởng trợ cấp hàng tháng mà hoàn cảnh khó khăn;
đó, công tác ưu đãi người có công với cách mạng cũng được gắn liền với
nhiệm vụ khắc phục những hậu quả tàn khốc của chiến tranh, phát triển sản
xuất, xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, động viên toàn dân tham
gia vào công cuộc giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
"Với 184 văn bản pháp luật về người có công được ban hành giai đoạn
1954 - 1975 có thể nói rằng chế độ ưu đãi thương binh, gia đình liệt sĩ đã có
điều kiện thực hiện trên nhiều lĩnh vực và ngày càng phát triển" [24, tr. 49].
Có thể liệt kê một số điểm quan trọng của các văn bản được ban hành
trong giai đoạn này như sau:
- Thông qua bản Điều lệ ưu đãi thương binh, dân quân, du kích, thanh
niên xung phong bị thương tật; Điều lệ ưu đãi bệnh binh; Điều lệ ưu đãi gia
đình liệt sĩ ban hành kèm theo Nghị định 980/TTg ngày 27/7/1950 của Thủ
tướng Chính phủ và một số văn bản khác.
Có thể thấy, do điều kiện đã thay đổi, khả năng kinh tế cho phép nên
những đối tượng được hưởng trợ cấp thương tật đã được mở rộng đến những
đối tượng như dân quân, du kích, thanh niên xung phong.
- Tuy nhiên, những văn bản trong thời kỳ đầu của cuộc kháng chiến
chống Mỹ (1954 - 1964) đã bộc lộ một số điềm bất hợp lý như: đối với
thương binh thì mức khởi điểm để hưởng trợ cấp thương tật còn thấp, khoảng
23