Website: Email : Tel (: 0918.775.368
1
Đề tài: Đánh giá hoạt động ưu đãi xã hội ở Việt Nam
I. Mở đầu
1. Định nghĩa:
ƯĐXH là một hệ thông chính sách quan trọng đặc biệt trong hệ thống
chính sách ASXH, là sự đãi ngộ đặc biệt cả về vật chất và tinh thần của nhà
nước và xã hội nhằm ghi nhớ đền đáp công lao của cá nhân, tổ chức có cống
hiến hy sinh đặc biệt cho tổ quốc. Cơ chế ưu đãi xã hội là nét riêng có trong
hệ thống ASXH Việt Nam. Cơ chế này nhằm đảm bảo cho 2 nhóm người
chủ yếu như sau:
Nhóm những người đã có công sức đóng góp cho vận mệnh của đất
nước, công cuộc cách mạng của dân tộc bao gồm: những người đã gắn bó cả
cuộc đời của mình với sự nghiệp cách mạng, sự nghiệp của cộng đồng;
những người gặp rủi ro trong quá trình hoạt động cho sư nghiệp chung của
cộng đồng. Phần lớn những người thuộc nhóm này thường bị suy giảm, mất
khả năng lao động, khả năng cầu tiến trong điều kiện cạnh tranh của thị
trường trong khi sự đóng góp của họ là vô giá (tính mạng, thân thể, gia sản,
…). Việc ưu đãi đặc biệt những người này so với những người lao động bình
thường kể cả những người lao động bất hạnh khác là phù hợp với truyền
thống lâu đời của dân tộc: uống nước nhớ nguồn.
Các chính sách đãi ngộ nhóm người này gồm có:
• Chính sách ưu đãi đối với thương binh, bệnh binh, những người tham
gia kháng chiến và con đẻ của họ bị nhiễm chất độc da cam.
• Chính sách ưu đãi đối với gia đình liệt sỹ, gia đình có công giúp đỡ
Cách mạng.
Sau khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, bước vào cuộc
kháng chiến chống Pháp, năm 1946, Hồ Chủ tịch đã kêu gọi thành lập Hội
Binh sĩ bị thương, khởi xướng phong trào “Mùa đông binh sĩ”, luôn quan
tâm thăm hỏi, động viên thương binh, gia đình liệt sĩ, … Sắc lệnh 20/SL
ngày 18/02/1947 ban hành chính sách đối với thương binh, gia đình liệt sĩ
Ngoài những chính sách hỗ trợ trực tiếp (trợ cấp), trong thời kỳ này, nhà
nước ta cũng đã qui định nhiều chính sách ưu tiên trong các hoạt động kinh
tế đối với người và gia đình có công. Năm 1994, Pháp lệnh ưu đãi người
hoạt động cách mạng, liệt sỹ và gia đình liệt sỹ, thương binh, bệnh binh,
người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng và Pháp
lệnh qui định danh hiệu danh dự nhà nước Bà Mẹ Việt Nam anh hùng được
công bố đã hoàn thiện chính sách ưu đãi xã hội về nhiều mặt đối với người
có công với cách mạng.
2. Cơ chế ƯĐXH là nét riêng trong hệ thống ASXH ở VN nhằm
đảm bảo cho hai đối tượng:
• Đối tượng 1:
Những người có cống hiến đặc biệt cho công cuộc bảo vệ tổ quốc. Liệt sĩ
và gia đình liệt sĩ: liệt là những người đã hi sinh vì sự nghiệp giải phóng dân
tộc, bảo vệ hòa bình của thế giới, bảo vệ tổ quốc, đấu tranh chống tội phạm,
họ vì lợi ích của cả dân tộc được nhà nước ghi tặng bằng “tổ quốc ghi công”
2
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
3
trong các trường hợp sau: chiến đấu trực tiếp phục vụ chiến đấu, trực tiếp
đấu tranh chính trị, hoạt động cách mạng khi bị bắt tra tấn vấn không chiụ
khai, dũng cảm phục vụ công tác cấp bách nguy hiểm, phục vụ nhân dân, ốm
đau tử nạn trong khi hoạt động ở những khu vực nguy hiểm thương binh
chết vì bệnh tật tái phát. Gia đình liệt sĩ: có quan hệ máu thịt hay có công
nuôi dưỡng liệt sĩ. Thương binh, bệnh binh: thương binh thuộc lực lượng vũ
trang, bị suy giảm khả năng lao động do chiến đấu hay phục vụ chiến đấu.
Bệnh binh thuộc quân nhân, mắc bệnh làm giảm khả năng lao động từ 61%
trở lên do chiến đấu và hoạt động trong điều kiện thiếu thốn. Những người
hoạt động cách mạng: Những người lấy sự nghiệp giải phóng làm mục tiêu
lý tưởng cho cả đời mình. Tham gia giúp đỡ cách mạng nưng không thoát ly
làm chiến sĩ. Những người tham gia hoạt động cách mạng bị địch bắt nhưng
• Bằng tinh thần : tặng bằng khen,huân huy chương,dựng tượng đài,ưu
tiên con em gia đình trong vấn đề việc làm.
• Bằng tiền mặt vật chất.
Tiền: hàng tháng bằng lương chi trả cho chi phí y tế, mai táng.
Hiện vật xây dựng các nhà tình nghĩa hay tặng quà vào các dịp
lễ tết …
• Bằng các hình thức khác như: hỗ trợ học phí cho con em họ, nghỉ
dưỡng, miễn giảm thuế. Tất cả những hình thức này đảm bảo đời sống
vật chất cho người có công.
6. Mục đích của ƯĐXH:
• ƯĐXH nhằm ghi nhận và tri ân những cá nhân hay tập thể đã có
những cống hiến đặc biệt cho cộng đồng và cho đát nước.
• Nhằm đảm bảo công bằng xh,vì ai cống hiến nhiều cho xh, người đó
phải được hưởng nhiều, đây là sự cóng hiến đặc biệt bằng cả xương
máu.
• Tái sản xuất những giá trị tinh thần cao đẹp của dân tộc và giáo dục
truyền thống cho thế hệ tương lai.
• Đảm bảo ổn định thể chế chính trị của nhà nước.
II. Thực trạng hệ thống ưu đãi xã hội ở Việt Nam
A. Tổng quan chung
1. Quan điểm của Đảng và Nhà Nước về ưu đãi xã hội
Do trải qua nhiều cuộc chiến tranh ác liệt, cho nên chính sách xã hội
ở Việt Nam chủ yếu thực hiện đối với các đối tượng là những người có cống
hiến đặc biệt trong công cuộc bảo vệ Tổ Quốc. Họ là những người đã hi sinh
cả tính mạng, cống hiến cả cuộc đời cho sự ngiệp của dân tộc hoặc họ đã
mất mát một phần thân thể hay chịu đựng những hậu quả nặng nề của bom
đạn, chất độc do chiến tranh để lại… Chính sách ưu đãi xã hội luôn được
Đảng và nhà nước ta coi là một quốc sách truyền thống. Qua các thời kì, các
giai đoạn khác nhau của lịch sử, chính sách ưu đãi xã hội luôn được ban
hành và được thực hiên theo các quan điểm sau:
đánh dấu sự ra đời của chính sách thương binh liệt sỹ, thời kì chống Mỹ.
Chính sách này đã đạt được những thành tựu nhất định, nhưng vẫn bộc lộ
những bất hợp lý, trong đó có một số vấn đề khá gay gắt. Như xét trợ cấp
chưa kịp thời, mức trợ cấp lại quá thấp nên gia đình họ gặp rất nhiều khó
khăn 20 đồng/người đối với dân quân, 10,5 đồng/ người đối với du kích bị
thương hạng 3 mất sức 40%.
Đến giai đoạn sau, do tính chất của cuộc chiến tranh chống Mỹ vào giai
đoạn gay go ác liệt việc ưu đãi với người có công càng được đề cao. Các văn
bản được bổ xung, hoàn thiện, đang chú ý là nghị định 161/CP ngày
30/10/1964 kèm theo điều lệ tạm thời về chế độ đãi ngộ quân nhân, dân quân
du kích…
Có thể nói, chính sách ưu đãi người có công trong giai đoạn này đã phát
triển tương đối toàn diện. Tuy vậy chính sách ưu đãi ở thời kì này còn có
5
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
6
những hạn chế như thiếu đồng bộ giữa quyền lợi và nghĩa vụ, tính pháp lý
chưa cao.
II.3. Giai đoạn từ năm 1975 đến 1985.
Sau khi hòa bình lập lại tren cả nước, hệ thống chính sách xã hội tiếp tục
hoàn thiện:
Tiến hành xác nhận và thực hiện chính sách thương binh, liệt sỹ ở miền
Nam theo nghị định 08/NĐ - 76ngày 17/6/1976 của chính phủ cách mạng
lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam.
Ở phía Bắc, nhà nước chủ trương giải quyết một số vấn đề nổi cộm về
chính sách thương binh, liệt sỹ do lịch sử để lại.
Ban hành quyết định bỏ xung đối tượng là người có công giúp đỡ cách
mạng (quyết định số 208/CP ngày 20/7/1977) chế độ đối với bệnh binh
(quyết định 78/CP ngày 13/4/1978).
Quy định đối tượng, tiêu chuẩn xác nhận thương binh, liệt sỹ trong công
“uống nước nhớ nguồn” là chủ trương của đảng và nhà nước, là tư tưởng của
Chủ Tịch Hồ Chí Minh. Các chính sách liên tục dược bổ xung hoàn thiện,
phong trào “toàn dân chăm sóc người có công” tiếp tục được khơi dậy và
phát triển với nhiều nội dung phong phú và thiết thực.
Một số chính sách ưu đãi trong những năm gần đây:
Năm 2007: những người hoạt động CM trước ngày 01/01/1945 đến
trước Tổng KN 19/8/1945, thân nhân liệt sĩ, Bà mẹ Việt Nam Anh hùng,
Thương binh, bệnh binh... từ nay, nếu mua nhà ở thuộc sở hữu nhà
nước sẽ được hỗ trợ toàn bộ tiền sử dụng đất đối với những người có
công với cách mạng “Để người có công yên ổn vật chất, vui vẻ tinh
thần".
Trường hợp mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước là nhà một hoặc nhiều
tầng (có một hộ ở) thì được hỗ trợ một phần hoặc toàn bộ tiền sử dụng đất
theo các mức cụ thể tùy đối tượng.
Chẳng hạn, Bà mẹ VN Anh hùng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân
dân, Anh hùng Lao động, thương bệnh binh có tỷ lệ suy giảm khả năng lao
động từ 81% trở lên, thân nhân của liệt sĩ đang hưởng tiền tuất nuôi dưỡng
hàng tháng được hỗ trợ toàn bộ tiền sử dụng đất.
Các mức hỗ trợ khác (90%, 80%...) được áp dụng tùy theo đối tượng.
Các mức nêu trên được tính trong định mức đất ở do UBND tỉnh, TP trực
thuộc TƯ quy định và tính trên số tiển sử dụng đất mà người được hỗ trợ
phải nộp.
Trong quyết định số 117/2007/QĐ-TTg, Thủ tướng CP Nguyễn Tấn
Dũng cũng điều chỉnh một số nội dung trong các quyết định đã ban hành
7
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
8
trước đó (năm 1996 và 2000) về hỗ trợ người có công với CM cải thiện nhà
ở.
Ngoài các đối tượng vừa nêu, Thủ tướng cũng quy định thêm, với
nhân của người hoạt động cách mạng trước ngày 1/1/1945 (2 mức: 50 và 10
triệu đồng) và thân nhân người hoạt động cách mạng từ ngày 1/1/1945 đến
trước 19/8/1945 (25 và 5 triệu đồng) chết trước 1/1/1995.
8
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
9
Tuy nhiên, Chủ nhiệm Uỷ ban các vấn đề xã hội (CVĐXH) của QH
Nguyễn Thị Hoài Thu cho rằng, quy định này chưa đảm bảo sự công bằng về
chế độ ưu đãi giữa thân nhân của những người hoạt động trước cách mạng
tháng Tám đã được công nhận (hưởng các chế độ ưu đãi theo quy định hiện
hành) và thân nhân của những người sẽ được công nhận (hưởng chế độ ưu
đãi theo dự thảo nghị định).
Nhiều ý kiến trong Uỷ ban CVĐXH cũng cho rằng việc ban hành nghị
định là không phù hợp vì các vấn đề mà Chính phủ trình xin ý kiến về cơ
bản đã được quy định trong Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng.
Ngoài ra chế độ ưu đãi đối với người có công luôn được nâng lên cùng với
sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Chính phủ đã trình UBTVQH 3 lần
sửa đổi, bổ sung Pháp lệnh.
Do đó, để thực hiện chế độ trợ cấp một lần đối với các đối tượng trên,
Uỷ ban CVĐXH đề nghị Chính phủ nghiên cứu trình UBTVQH sửa đổi lại
điều 9, 10 Pháp lệnh người có công với cách mạng. Ngoài ra, uỷ ban này
cũng đề nghị Chính phủ cần xây dựng dự luật ưu đãi người có công với cách
mạng để việc đãi ngộ những đối tượng này được toàn diện, đồng bộ và công
bằng với sự đóng góp của họ.
3. Quy định cụ thể về mức trợ cấp, ưu đãi hàng tháng đối với người
có công với cách mạng.
Chính phủ vứa mới ban hành Nghị định số 35/2010/NĐ-CP ngày
6/4/2010 quy định cụ thể về mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi đối với người có
công với cách mạng. Mức chuẩn để xác định các mức trợ cấp, phụ cấp ưu
đãi đối với người có công với cách mạng theo quy định tại Nghị định này là
chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này./.
Chất lượng đền ơn đáp nghĩa
(HNM) - Nếu tính từ sắc lệnh đầu tiên "Quy định chế độ hưu
bổng, thương tật và tiền tuất tử sĩ" do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ngày
16-2-1947, thì đến nay Nhà nước ta đã ban hành 1.400 văn bản về việc
đãi ngộ, ưu đãi thương binh, gia đình liệt sỹ, người có công (gọi tắt là
người có công).
Được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và xã hội, đến nay có: 20.000
thương, bệnh binh, 60.000 bố, mẹ liệt sỹ cô đơn, già yếu, 100% các Mẹ Việt
10