Hoàn thiện pháp luật ưu đãi xã hội ở Việt Nam Nguyễn Thị Tuyết Mai
Khoa Luật
Luận văn ThS ngành: Luật Kinh tế; Mã số: 60 38 50
Người hướng dẫn: TS. Nguyễn Hữu Chí
Năm bảo vệ: 2009 Abstract: Trình bày một số vấn đề lý luận cơ bản như: khái niệm, lược sử phát triển của
pháp luật ưu đãi xã hội, phân tích vai trò và ý nghĩa cũng như những nguyên tắc điều
chỉnh xuyên suốt của pháp luật ưu đãi xã hội. Nghiên cứu các quy định về đối tượng
được hưởng ưu đãi xã hội, chế độ ưu đãi trợ cấp của pháp luật ưu đãi xã hội và thực trạng
áp dụng các quy định đó ở Việt Nam, làm rõ những thành tựu đạt được và những hạn chế
tồn tại. Phân tích phương hướng hoàn thiện pháp luật ưu đãi xã hội và đưa ra một số kiến
nghị về: Đối tượng hưởng ưu đãi xã hội; Các chế độ trợ cấp ưu đãi; Hoàn thiện cơ chế
thực thi, kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật ưu đãi xã hội; Việc xây dựng pháp
luật ưu đãi xã hội nhằm hoàn thiện pháp luật ưu đãi xã hội ở Việt Nam
Keywords: Cựu chiến binh; Dịch vụ xã hội; Pháp luật Việt Nam; Ưu đãi xã hội Content
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất nước chúng ta đã trải qua hai cuộc chiến tranh ác liệt và lâu dài với rất nhiều sự hy sinh
và mất mát. ở bất kỳ thời kỳ nào những người có công đều được kính trọng, được hưởng những
chính sách ưu đãi từ phía Nhà nước, các tổ chức và cộng đồng xã hội.
hơn pháp luật về ưu đãi xã hội, góp phần nâng cao đời sống, đảm bảo công bằng cho các đối
tượng được hưởng ưu đãi xã hội.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn có đối tượng nghiên cứu chính là những vấn đề thực tiễn cũng như lý luận về pháp
luật ưu đãi xã hội, phân tích và tìm ra những tồn tại của pháp luật ưu đãi xã hội từ đó đưa ra
những cách thức hoàn thiện các quy phạm pháp luật ưu đãi xã hội.
Luận văn chỉ giới hạn nghiên cứu những quy phạm pháp luật về chính sách đối với người có
công trong giai đoạn từ sau Cách mạng tháng Tám - 1945 đến nay.
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được viết dựa trên sự tổng hợp các phương pháp nghiên cứu, trong đó tác giả sử
dụng một số phương pháp nghiên cứu chính như phương pháp duy vật lịch sử, phương pháp
phân tích, so sánh…
5. Những đóng góp mới của luận văn
Luận văn đã góp phần làm sáng tỏ hơn nữa những vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật ưu đãi
xã hội.
Đưa ra khái niệm pháp luật ưu đãi xã hội. Phân tích vai trò, ý nghĩa cũng như những nguyên
tắc điều chỉnh xuyên suốt pháp luật ưu đãi xã hội.
Phân tích thực trạng pháp luật ưu đãi xã hội, đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp
luật ưu đãi xã hội.
Đưa ra những vấn đề cơ bản cũng như mô hình để xây dựng pháp luật ưu đãi xã hội ở Việt
Nam.
6. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3
chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về pháp luật ưu đãi xã hội.
Chương 2: Quy định pháp luật ưu đãi xã hội ở Việt Nam và thực trạng áp dụng.
Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật ưu đãi xã hội ở Việt Nam.
Đảng và Nhà nước ta vẫn rất chú trọng đến công tác xây dựng cũng như thực hiện chính sách
này. Chính sách ưu đãi đối với người có công là một chính sách đặc biệt giành cho những đối
tượng đặc biệt. Vì thế, Nhà nước với vai trò và chức năng của mình, sử dụng các biện pháp khác
nhau để xây dựng và triển khai đưa các chính sách ưu đãi đối với người có công vào cuộc sống. Không những vậy, Đảng và Nhà nước còn vận động, kêu gọi và khuyến khích mọi người dân,
các tổ chức tham gia các phong trào thiết thực nhằm mục đích thực hiện tốt nhất chính sách ưu
đãi đối với người có công.
Pháp luật ưu đãi xã hội là sự thể chế hóa các chính sách ưu đãi của Đảng, Nhà nước đối với
người có công, các quyền ưu đãi của người có công và những đảm bảo về mặt pháp lý cho việc
thực hiện các quyền đó. Pháp luật ưu đãi người có công quy định những nguyên tắc, cách thức,
phương pháp thực hiện các chế độ ưu đãi đối với người có công; quy định quyền hạn, trách
nhiệm của các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện ưu đãi đối với người có công; điều chỉnh
tất cả các hoạt động ưu đãi đối với người có công nhằm mục đích đảm bảo thực hiện một cách
tốt nhất, hữu hiệu nhất các chế độ, ưu đãi đối với đối tượng đặc biệt này.
Từ những phân tích trên có thể rút ra kết luận, pháp luật ưu đãi xã hội là tổng thể các quy
phạm pháp luật do Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ hình thành trong việc tổ
chức và thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công trên tất cả các lĩnh vực của đời sống.
Luận văn cũng trình bày về đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh của pháp luật
ưu đãi xã hội. Theo đó, đối tượng điều chỉnh của pháp luật ưu đãi xã hội là những quan hệ xã hội
hình thành trong lĩnh vực ưu đãi đối với người có công. Đó là quan hệ giữa hai bên Nhà nước và
người có công cùng với thân nhân của họ trong nhiều mặt của đời sống xã hội, những quan hệ
phát sinh từ sự trợ giúp của cộng đồng. Để điều chỉnh những mối quan hệ đó, Nhà nước sử dụng
phương pháp mệnh lệnh - quyền uy, nó thể hiện rõ trách nhiệm của Nhà nước trong việc đền ơn
đáp nghĩa và tình cảm, trách nhiệm của cộng đồng đối với người có công.
1.2. Các nguyên tắc của pháp luật ưu đãi xã hội
Qua nghiên cứu, tác giả cho rằng có bốn nguyên tắc cơ bản xuyên suốt và toàn bộ hệ thống
pháp luật ưu đãi xã hội ở nước ta. Đó là, nguyên tắc Nhà nước thống nhất quản lý vấn đề ưu đãi xã
hội; nguyên tắc đảm bảo công bằng, công khai trong thực hiện ưu đãi xã hội; nguyên tắc kết hợp hài
Xã hội hóa công tác ưu đãi xã hội là một vấn đề hết sức quan trọng. Vì thế, việc chăm lo cho
người có công không chỉ là trách nhiệm của Nhà nước mà đó còn là tình cảm và là trách nhiệm
của cộng đồng, của xã hội, là sự thể hiện truyền thống đạo đức tốt đẹp từ ngàn đời của dân tộc ta,
truyền thống " Ăn quả nhớ kẻ trồng cây", "Uống nước nhớ nguồn".
1.3. Vai trò, ý nghĩa của pháp luật ưu đãi xã hội
ưu đãi xã hội là một phần quan trọng và đặc biệt trong hệ thống an sinh xã hội Việt Nam.
Pháp luật ưu đãi xã hội được ban hành nhằm bảo vệ một số đối tượng đặc biệt đã đóng góp
xương máu, tuổi trẻ, công sức, trí tuệ vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Pháp luật ưu
đãi xã hội là sự thể chế hóa những chính sách ưu đãi đối với người có công của Nhà nước trong
đời sống xã hội. Những chế độ, ưu đãi mà Nhà nước giành cho họ không chỉ là những sự hỗ trợ
về vật chất, tinh thần mà nó còn tạo cho họ niềm tin vào một chế độ xã hội tốt đẹp, là động lực
giúp họ tiếp tục phấn đấu; khuyến khích những thành viên khác trong xã hội cống hiến cho sự
nghiệp bảo vệ và phát triển đất nước. Thực hiện tốt pháp luật ưu đãi xã hội là việc làm có ý
nghĩa quan trọng, nó không chỉ giúp ổn định cuộc sống của những người có công mà còn góp
phần vào sự ổn định và phát triển của xã hội, của đất nước.
Chính sách ưu đãi người có công không chỉ mang ý nghĩa chính trị mà còn mang tính kinh tế.
Những chế độ trợ cấp của Nhà nước đóng vai trò hết sức quan trọng, nó đảm bảo và nâng cao đời
sống cho những người có công; đối với một số đối tượng đặc biệt như không còn khả năng lao động,
không còn nơi nương tựa, già yếu… thì đây còn là nguồn thu nhập của họ để ổn định đời sống.
1.4. Lược sử phát triển của pháp luật ưu đãi xã hội (từ sau Cách mạng tháng Tám -
1945 đến nay)
Luận văn trình bày sự phát triển của pháp luật ưu đãi xã hội người có công ở nước ta qua
thời 05 thời kỳ: từ sau Cách mạng tháng Tám - 1945 đến năm 1954; giai đoạn thứ hai là từ năm
1954- 1975; tiếp theo là giai đoạn từ năm 1975 - 1985; giai đoạn từ năm 1986 - 1994 và cuối
cùng là giai đoạn từ năm 1995 đến nay. Luận văn cũng trình bày tóm tắt những kết quả, thành
tựu đạt được trong từng giai đoạn, nêu ra những hạn chế, tồn tại của những văn bản pháp luật ưu
đãi xã hội qua những thời kỳ đó.
Qua những phân tích trong luận văn, có thể nói, trong lịch sử của dân tộc Việt Nam, trải qua
nhiều triều đại, nhiều chế độ khác nhau nhưng ở thời kỳ nào, giai đoạn nào, chế độ nào thì những
người có công với đất nước đặc biệt là những người có công trong sự nghiệp chống giặc ngoại
Chương 2
Quy định pháp luật ưu đãi xã hội ở Việt Nam và thực trạng áp dụng
Trong chương này tác giả trình bày về những vấn đề sau:
- Đối tượng và các hình thức ưu đãi.
- Những thành tựu của pháp luật ưu đãi xã hội Việt Nam.
- Những hạn chế, tồn tại của pháp luật ưu đãi xã hội.
2.1. Đối tượng và các hình thức ưu đãi
Theo pháp luật hiện hành có 11 nhóm với 17 đối tượng được hưởng trợ cấp, bao gồm: Người
hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945; người hoạt động cách mạng từ 01/01/1945
đến trước Tổng khởi nghĩa 19 tháng 8 năm 1975; liệt sĩ; Bà mẹ Việt Nam anh hùng; Anh hùng lực
lượng vũ trang, Anh hùng Lao động; thương binh, người được hưởng chính sách như thương binh;
bệnh binh; người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học; người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù đày; người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo
vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế; Người có công giúp đỡ cách mạng; và thân nhân của họ.
Luận văn cũng trình bày về những chế độ, trợ cấp hiện hành mà những người có công được
hưởng theo quy định của pháp luật. Theo đó, những người có công căn cứ trên mức độ suy giảm
khả năng lao động, mức độ cống hiến, sự hy sinh… của họ mà Nhà nước giành cho họ những
mức trợ cấp, ưu đãi khác nhau.
Việc hỗ trợ người có công phải là sự hỗ trợ trên mọi phương diện của đời sống vật chất và
tinh thần. Sự hỗ trợ đó không chỉ là một khoản tiền mà còn là sự chăm sóc sức khỏe, việc làm,
học tập, bên cạnh đó còn có những ưu đãi về nhà ở; về việc tham quan; công tác mộ, nghĩa trang
liệt sĩ.
Những người có công với cách mạng tùy vào mức độ cống hiến, vào hoàn cảnh gia đình của
từng đối tượng mà sẽ được Nhà nước, địa phương xét cho việc miễn, giảm tiền mua, thuê nhà
ở… Việc ưu đãi về nhà ở có thể được thực hiện dưới một số hình thức như: tặng nhà tình nghĩa;
hỗ trợ kinh phí để xây dựng và sửa chữa nhà ở; mua nhà trả góp; miễn giảm tiền sử dụng đất;
miễn giảm tiền chuyển quyền sử dụng đất khi mua nhà của Nhà nước… Tùy thuộc vào từng
hoàn cảnh của người có công, vào mức độ cống hiến của họ, vào khả năng của địa phương, sự
mất sức lao động từ 61% trở lên mới được hưởng chế độ, còn thân nhân 2 liệt sĩ chỉ được hưởng
trợ cấp tiền tuất.
Cùng với các chế độ ưu đãi, Pháp lệnh đã đưa ra cơ chế xử lý vi phạm đối với một số loại
hành vi. Người có công đang hưởng ưu đãi mà phạm tội bị phạt tù có thời hạn nhưng không
được hưởng án treo thì trong thời gian chấp hành hình phạt bị đình chỉ chế độ ưu đãi. Người
phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc phạm tội khác bị phạt tù chung thân thì không được
hưởng ưu đãi nữa.
Trong thời gian qua, cùng với sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, các Ban ngành đoàn thể ở
địa phương và sự hỗ trợ của các nguồn lực khác trong xã hội cùng với sự nỗ lực tự vươn lên của
các đối tượng và gia đình chính sách, có thể thấy đời sống của những đối tượng chính sách đã
được cải thiện hơn rất nhiều, hầu hết các gia đình chính sách đã có cuộc sống ngang bằng và cao
hơn mức sống trung bình của khu dân cư nơi gia đình chính sách cư trú.
Bên cạnh sự quan tâm của Đảng, Nhà nước thể hiện qua những quy định bằng pháp luật các
ưu đãi, mức trợ cấp cho các đối tượng người có công, còn có thể thấy những kết quả lớn lao của
phong trào "Đền ơn đáp nghĩa", "Uống nước nhớ nguồn"… trong quần chúng nhân dân, các tổ
chức, doanh nghiệp trong xã hội. Thông qua các phong trào này, có rất nhiều tổ chức, đoàn thể
nhận chăm sóc, phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng; chăm sóc gia đình liệt sĩ; đỡ đầu con
liệt sĩ, con thương binh; đón thương binh nặng về gia đình chăm sóc; giúp hàng nghìn gia đình
chính sách có nhà ở ổn định, tặng hàng nghìn sổ tiết kiểm và nhiều sự hỗ trợ khác không chỉ về
mặt vật chất mà còn chăm lo đến đời sống tinh thần của người có công.
Thông qua những ưu đãi của Nhà nước, sự quan tâm, giúp sức của cộng đồng, một số đối
tượng là người có công đã nỗ lực vươn lên vượt qua khó khăn trở thành những doanh nghiệp
sản xuất, kinh doanh giỏi, không những chỉ tự cải thiện cuộc sống của mình, của gia đình mình
mà còn tạo cơ hội giúp đỡ những đối tượng là người có công có được dạy nghề, được làm việc,
lao động để trở thành những người "tàn nhưng không phế", tạo thêm thu nhập cho gia đình, trở
thành những điển hình trong sự nghiệp đổi mới đất nước.
2.3. Những hạn chế, tồn tại của pháp luật ưu đãi xã hội
Luận văn trình bày về những hạn chế và tồn tại của pháp luật ưu đãi xã hội. Theo đó, pháp
luật ưu đãi xã hội của Việt Nam hiện nay còn tồn tại một số điểm cần phải sửa đổi, bổ sung cho
hoàn chỉnh như sau:
Mức trợ cấp hiện tại so với trước đây đã được nâng cao và điều chỉnh tương ứng với mức
sống trung bình của xã hội, giúp ổn định được phần nào đời sống của những người có công. Tuy
nhiên, vật giá ngày càng tăng cao, những mặt hàng thiết yếu trong đời sống hằng ngày không
ngừng leo thang, gây nên những ảnh hưởng lớn đến đời sống của người dân nói chung và đến
những đối tượng là người có công, đặc biệt là người không có nguồn thu nhập nào khác mà chỉ
trông chờ vào những chế độ ưu đãi của Nhà nước. Trong khi mỗi người dân đều mong muốn có
được cuộc sống đầy đủ hơn, nhu cầu "ăn ngon, mặc đẹp" đã trở nên phổ biến thì đời sống của
những người có công vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn, không những phải đối mặt với vấn đề sức
khỏe mà còn phải đối mặt với nỗi lo cơm áo gạo tiền.
Vì thế, trong tình hình mới, Nhà nước cần nghiên cứu để điều chỉnh mức trợ cấp hợp lý hơn
để những người có công có thể ổn định được cuộc sống, vươn lên thành người có ích cho xã hội.
Tình hình kinh tế, xã hội luôn biến động không ngừng do đó sự điều chỉnh mức trợ cấp còn
cần phải kịp thời và nhanh chóng. Mức trợ cấp cũng cần chú ý hơn đến những đối tượng chính
sách có mức độ suy giảm lao động lớn, sống cô đơn cần sự hỗ trợ của Nhà nước để duy trì
cuộc sống của họ. Bên cạnh đó, những ưu đãi về miễn giảm các loại thuế, hỗ trợ về nhà ở, đất đai, ưu tiên trong
giáo dục - đào tạo, bố trí sắp xếp việc làm còn nhiều thiếu sót cần phải sửa đổi thêm.
Thứ ba, hệ thống pháp luật ưu đãi xã hội còn thiếu tính thống nhất, tản mạn thiếu đồng bộ
hiệu lực pháp lý còn thấp
Những chế độ ưu đãi đối với người có công hiện nay khá đầy đủ và toàn diện nhưng nhìn
chung còn khá tản mạn, quy định trong nhiều văn bản khác nhau.
Những quy định về quyền được hưởng ưu đãi đối với những người có công là người Việt
Nam ở nước ngoài hoặc người nước ngoài có đóng góp to lớn cho công cuộc kháng chiến ở Việt
Nam thì vẫn chưa được quy định.
Các ưu đãi trong lĩnh vực việc làm đã được ghi nhận trong Pháp lệnh Ưu đãi người có công
nhưng tính thực tiễn là rất thấp vì không có những quy định hướng dẫn cụ thể cũng như những
quy phạm đảm bảo cho quy định đó được thực hiện.
Do hiệu lực pháp lý còn thấp nên sự điều chỉnh của pháp luật ưu đãi xã hội vẫn chưa phát
chức chính trị - xã hội, các doanh nghiệp, cá nhân và toàn cộng đồng góp phần nâng cao đời
sống các đối tượng, gia đình chính sách, giúp họ tái hòa nhập với cộng đồng và trở thành những
người có ích cho xã hội, đất nước.
Tuy nhiên, pháp luật ưu đãi xã hội vẫn còn tồn tại một số điểm bất cập cần được lưu ý như:
đối tượng điều chỉnh tuy rộng nhưng chưa đầy đủ; hiệu quả pháp lý còn thấp; những quy định
của pháp luật còn tản mạn, thiếu tính đồng bộ; việc thực hiện pháp luật ưu đãi xã hội vẫn còn
chưa đầy đủ, nhiều sai sót gây ảnh hưởng không tốt đến đời sống của người có công và sự bất ổn
về kinh tế - chính trị - xã hội của đất nước.
Chương 3
Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật ưu đãi xã hội ở Việt Nam
Trong chương này, tác giả trình bày những nội dung sau:
- Phương hướng hoàn thiện pháp luật ưu đãi xã hội ở Việt Nam.
- Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật ưu đãi xã hội.
3.1. Phương hướng hoàn thiện
Trong quá trình tổng kết, hoàn thiện pháp luật ưu đãi xã hội, các cơ quan chức năng cần phải
lưu ý đến những điểm sau:
- Pháp luật ưu đãi xã hội phải phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội của đất nước.
- Pháp luật ưu đãi xã hội phải đảm bảo tính toàn diện.
- Pháp luật ưu đãi xã hội phải đảm bảo tính thực tiễn.
- Xã hội hóa hoạt động ưu đãi xã hội, thiết lập mối quan hệ chặt chẽ giữa ba chủ thể Nhà
nước, đối tượng ưu đãi và cộng đồng, trong đó nhà nước giữ vai trò chủ đạo.
Trong luận văn, tác giả đã phân tích cụ thể những vấn đề trên. Luận văn cũng đưa ra một vấn
đề là cho dù chính quyền, cộng đồng có ra sức giúp đỡ mà chính những đối tượng được hưởng
ưu đãi lại chỉ trông chờ vào những trợ cấp, ưu đãi của Nhà nước, sự trợ giúp của cộng đồng mà
không nỗ lực, phấn đấu vươn lên thì sự trợ giúp đó cũng không thể phát huy được hết tác dụng,
không cải thiện được chính cuộc sống của họ. Những sự trợ giúp về vật chất hay tinh thần của
Nhà nước, cộng đồng là có hạn so với nhu cầu, đòi hỏi của những người có công, nó chỉ nên là
một động lực hay là một đòn bẩy để người có công dựa vào đó để nỗ lực học tập, rèn luyện, lao
động, tự vươn lên thay đổi chính cuộc sống của mình. Chính sự phấn đấu vươn lên của họ mới là
miễn phí. Khi đau ốm, vết thương tái phát, họ chỉ có thể trông chờ vào việc khám, chữa trị tại các
cơ sở y tế của Nhà nước, nơi mà thẻ Bảo hiểm y tế của họ được chấp nhận. Thế nhưng, mức Bảo
hiểm y tế được quy định theo pháp luật hiện hành chỉ ở mức 3% tiền lương tối thiểu chung, quy
định mức này là còn khá thấp, không đảm bảo được việc chăm sóc sức khỏe cho những đối
tượng này.
Việc hỗ trợ trong giáo dục, đào tạo không chỉ là những khoản trợ cấp, miễn giảm tiền học
phí và các loại đóng góp khác… mà còn cần phải đảm bảo cho họ được vấn đề "đầu ra". Vấn đề
giải quyết việc làm đối với người có công là rất quan trọng, nó không những giúp họ tái hòa nhập
với cộng đồng, vượt qua mặc cảm tự ti để vươn lên lao động, sản xuất tự nâng cao đời sống của
mình và tạo cơ hội giúp đỡ những đối tượng là người có công khác có điều kiện cải thiện cuộc
sống của họ.
Bên cạnh đó, song song với việc đầu tư nâng cao đời sống về vật chất cho đối tượng chính
sách, đời sống tinh thần cũng cần được quan tâm đúng mức. Công tác điều dưỡng luân phiên cần
gắn kết giữa tham quan và điều dưỡng, tạo điều kiện cho những đối tượng chính sách có cơ hội
được tham quan những di tích, danh lam thắng cảnh từ đó tinh thần được sảng khoái và công tác
điều dưỡng sẽ đạt được hiệu quả cao hơn.
- Về cơ chế thực thi, kiểm tra, giám sát việc
thực hiện pháp luật ưu đãi xã hội:
Việc kiểm tra, giám sát trước hết phải được thực hiện ngay chính những cơ quan thực thi
công tác ưu đãi xã hội. Cấp trên kiểm tra, giám sát việc thực hiện, tuân thủ pháp luật của cấp dưới, các cấp tự kiểm tra nội bộ mình để chấn chỉnh, sửa đổi ngay những vi phạm. Trong quá
trình điều tra, giám sát phải xử lý nghiêm minh các tiêu cực, thiếu tinh thần trách nhiệm, quan
liêu, cố ý làm trái trong quá trình thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công.
Vấn đề lớn nhất hiện nay cần phải được kiểm tra, giám sát chặt chẽ đó là về việc chi trả trợ
cấp và về việc thủ tục xác nhận đối tượng là người có công. Rất nhiều trường hợp dưới sự tiếp tay
của những cán bộ thực thi pháp luật ưu đãi xã hội, hồ sơ xác nhận là người có công đã bị giả mạo,
giấy tờ, hồ sơ còn thiếu nhưng lại được công nhận là đối tượng chính sách và được hưởng ưu đãi.
Ngoài việc kiểm tra, giám sát của các cơ quan chức năng, các địa phương cần phải phát động
được và không thuộc diện được vận động đóng góp vào Quỹ; mục đích sử dụng cũng như cách
thức quản lý Quỹ. - Chương IV: Nghĩa vụ của người có công. Ngoài sự ghi nhận, tôn vinh của Nhà nước,
quyền được hưởng những ưu đãi, trợ giúp từ phía Nhà nước, cộng đồng, những người có công
còn phải có trách nhiệm và nghĩa vụ như những người công dân trong xã hội cũng như tuân thủ
những quy định của pháp luật ưu đãi người có công.
- Chương V: Trách nhiệm của cơ quan quản lý Nhà nước về ưu đãi người có công. Việc đền
ơn đáp nghĩa, trách nhiệm trước hết thuộc về Nhà nước, Nhà nước là chủ thể đóng vai trò chủ
đạo trong công tác ưu đãi người có công. Chương này sẽ quy định rõ về trách nhiệm của Chính
phủ, các Bộ trong việc quản lý, thực hiện ưu đãi người có công.
- Chương VI: Chế độ khen thưởng. Chương này sẽ quy định về việc khen thưởng đối với
những tổ chức, cá nhân thực hiện tốt công tác ưu đãi người có công; những ưu tiên, khích lệ của
Nhà nước đối với những tổ chức, cá nhân tạo cơ hội việc làm cho người có công.
- Chương VII: Xử lý vi phạm. Chương này sẽ định ra các chế tài cũng như cách thức xử
lý những hành vi cố ý làm trái pháp luật trong quá trình thực hiện công tác ưu đãi, những
hành vi vi phạm pháp luật ưu đãi người có công của những cán bộ thực thi pháp luật cũng
như những người có công đang hưởng ưu đãi mà phạm tội. Quy định về thẩm quyền, thủ tục
giải quyết những khiếu nại, tố cáo về những vấn đề của Luật Ưu đãi người có công.
- Chương VIII: Điều khoản thi hành. Chương này quy định về hiệu lực thi hành của Luật Ưu
đãi người có công và trách nhiệm của Chính phủ trong việc tổ chức, triển khai thực hiện pháp
luật ưu đãi người có công.
Kết luận
Ưu đãi người có công là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước ta, đó là sự đãi ngộ đặc
biệt của Đảng, Nhà nước đối với người có công, là trách nhiệm và là sự ghi nhận, tôn vinh những
cống hiến của họ đối với đất nước. Những người có công, không phân biệt giới tính, độ tuổi, dân
tộc, tôn giáo… nếu có công lao to lớn, những thành tích đặc biệt xuất sắc đối với đất nước Việt
Nam thì đều được ghi nhận và tôn vinh. Pháp luật ưu đãi xã hội không chỉ mang tính chính trị,
người có công; bổ sung, ban hành những quy định mới để giải quyết những điểm bất hợp lý,
những thiếu sót của pháp luật ưu đãi người có công. Tập trung nguồn lực để giải quyết những
nhu cầu cấp thiết của những người có công như vấn đề về tăng mức trợ cấp; quan tâm đến dạy
nghề, tạo việc làm, giúp đỡ các gia đình chính sách khó khăn phát triển sản xuất, kinh doanh;
tuyên truyền, cổ vũ những tấm gương thương binh, gia đình liệt sĩ, người có công tiêu biểu trong
lao động, học tập, trong sản xuất, kinh doanh và trong các hoạt động văn hóa, xã hội. Trên cơ sở
sự hệ thống hóa, những sửa đổi, bổ sung pháp luật ưu đãi người có công, tổng kết việc thực hiện
pháp luật ưu đãi người có công tiến tới xây dựng và ban hành Luật Ưu đãi người có công ở Việt
Nam. References
các Văn bản, nghị quyết của Đảng
1. Đảng cộng sản Việt Nam (2008), Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương
khóa X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
các văn bản pháp luật của nhà nước
2. Chính phủ (1994), Nghị định số 167/1994/NĐ-CP ngày 20/10 về việc thi hành Pháp lệnh
Quy định danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng, Hà Nội.
3. Chính phủ (2006), Nghị định số 54/2006/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Pháp lệnh Ưu đãi
người có công với cách mạng, Hà Nội.
4. Chính phủ (2007), Nghị định số 16/2007/NĐ-CP quy định về tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ
và thăm viếng mộ liệt sĩ; xây dựng, nâng cấp, quản lý mộ, nghĩa trang, đài tưởng niệm, bia ghi tên liệt sĩ; cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm quản lý, chăm sóc,
giữ gìn các công trình liệt sĩ (công trình ghi công liệt sĩ), Hà Nội.
5. Chính phủ (2007), Nghị định số 190/2007/NĐ-CP ngày 28/12 hướng dẫn thi hành một số
điều Luật Bảo hiểm xã hội, Hà Nội.
6. Chính phủ (2008), Nghị định số 89/2008/NĐ-CP ngày 13// hướng dẫn thi hành Pháp lệnh
ưu đãi người có công với cách mạng (Sửa đổi, bổ sung), Hà Nội.
số 17/2006/TTLT-BLĐTBXH-BTC-BYT ngày 21/11/2006 hướng dẫn chế độ chăm sóc
sức khỏe đối với người có công với cách mạng, Hà Nội.
19. Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội - Bộ Giáo dục và Đào tạo - Bộ Tài chính (2006), Thông tư
liên tịch số 16/2006/TTLT/BLĐTBXH-BGDĐT-BTC ngày 20/11 hướng dẫn về chế độ
ưu đãi trong giáo dục và đào tạo đối với người có công với các mạng và con của họ,
Hà Nội.
20. Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội - Bộ Quốc phòng - Bộ Nội vụ (2007), Thông tư liên
tịch số 07/2007/TTLT-BLĐTBXH-BQP-BNV ngày 04/05 hướng dẫn xác nhận liệt sĩ,
thương binh, người hưởng chính sách như thương binh ở địa bạn có điều kiện kinh tế -
xã hội đặc biệt khó khăn, Hà Nội.
21. Bộ Quốc phòng (2007), Thông tư số 113/2007/TT-BQP ngày 24/7 hướng dẫn thực hiện chế
độ cấp tiền mua phương tiện trợ giúp, dụng cụ chỉnh hình và phục hồi chức năng đối
với người có công với cách mạng đang công tác trong quân đội, Hà Nội.
22. Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội (2004), Giáo trình Lý luận chung Nhà nước và pháp
luật, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
23. Nguyễn Đình Liêu (1996), Hoàn thiện pháp luật ưu đãi người có công ở Việt Nam, Luận án
phó Tiến sĩ khoa học Luật học, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
24. Nguyễn Đình Liêu (2000), Một số suy nghĩ về hoàn thiện pháp luật ưu đãi người có công,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
25. Nguyễn Đình Liêu (2002), "Trợ cấp ưu đãi xã hội trong hệ thống pháp luật Việt Nam", Khoa
học (Kinh tế - Luật), (1), 15 - 18. 26. Lưu Bình Nhưỡng (2004), "Những nguyên tắc cơ bản của an sinh xã hội", Luật học, (5), tr.
37-41.
27. Nguyễn Hiền Phương (2004), "Một số vấn đề về pháp luật ưu đãi xã hội", Luật học, (1), tr.
39-45.
28. Lê Thị Hoài Thu (2006), Đề cương bài giảng Pháp luật an sinh xã hội Việt Nam - chương
trình đào tạo sau đại học.
29. Phạm Công Trứ (2004), "Luật an sinh xã hội trong hệ thống pháp luật Việt Nam", Nhà nước