ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHẠM TRUNG KẾT
PHÁP LUẬT VỀ BẢO LÃNH NGÂN HÀNG TRONG
HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN
DỤNG Ở VIỆT NAM
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 603805
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. LÊ THỊ THU THUỶ
HÀ NỘI - NĂM 2006
MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1
MỞ ĐẦU
2
Chương 1. Những vấn đề lý luận về hoạt động cho vay của tổ chức
tín dụng và bảo lãnh ngân hàng trong hoạt động cho vay của các tổ
chức tín dụng
35
2.2. Hình thức, nội dung của Bảo lãnh gnân hàng trong hoạt động
cho vay của các tổ chức tín dụng
39
2.3. Thủ tục xác lập, sửa đổi, bổ sung, thực hiện bảo lãnh ngân
hàng và vấn đề chuyển giao quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ bảo
40
lãnh
2.4. Quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ bảo lãnh ngân
hàng
2.5. Chấm dứt bảo lãnh ngân hàng và thời hạn bảo lãnh ngân hàng
44
trong hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng
48
2.6. Giải quyết tranh chấp phát sinh từ bảo lãnh ngân hàng trong
hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng
51
Chương 3. Định hướng hoàn thiện các quy định của pháp luật Việt
DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
TCTD:
Tổ chức tín dụng
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
ăn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã ghi “Đường lối kinh tế
V
của Đảng ta là: Đẩy mạnh Công nghiệp hoá hiện đại hoá, xây dựng
nền kinh tế độc lập tự chủ, đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp; ưu
tiên phát triển lực lượng sản xuất, đồng thời xây dựng quan hệ sản xuất phù
hợp theo định hướng xã hội chủ nghĩa; phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh
thủ nguồn lực bên ngoài và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển
nhanh, có hiệu quả và bền vững; tăng trưởng kinh tế đi liền với phát triển văn
hoá, từng bước cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, thực hiện
tiến bộ và công bằng xã hội”. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm
2001 - 2010 nhằm: “Đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ
rệt đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng để đến năm 2020
nước ta cơ bản trở thành một nước Công nghiệp theo hướng hiện đại. Nguồn
lực con người, năng lực khoa học và công nghệ, kết cấu hạ tầng, tiềm lực kinh
tế, quốc phòng, an ninh được tăng cường; thể chế kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa được hình thành về cơ bản. Vị thế của nước ta trên trường
ngân hàng hợp tác xã tín dụng và Công ty tài chính được ban hành, hệ thống
ngân hàng ở Việt Nam đã trở thành hệ thống ngân hàng hai cấp. Theo đó, các
ngân hàng thương mại đã thực sự chuyển sang hoạt động kinh doanh, giai đoạn
này nhiều nghiệp vụ ngân hàng mới, hiện đại đã được các ngân hàng thương
mại thực hiện. Bảo lãnh ngân hàng với tính chất là một nghiệp vụ ngân hàng
cũng được các ngân hàng thương mại đưa vào sử dụng, và trong cơ chế thị
trường hoạt động gân hàng luôn luôn tiềm ẩn nhiều yếu tố rủi ro. Vì vậy để hạn
chế rủi ro thì cùng với các biện pháp bảo đảm khác, bảo lãnh gân hàng trong
hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng cũng được sử dụng phổ biến.
3
Để điều chỉnh nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng trong hoạt động cho vay của
các tổ chức tín dụng, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản quy định về vấn đề
này như: Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Quyết định số 196/ QĐ-NH14
ngày 16.4.1994 về quy chế bảo lãnh của các ngân hàng thương mại; Quyết
định số 23/QĐ-NH14 ngày 21.02.1994 về quy chế bảo lãnh và tái bảo lãnh vay
vốn nước ngoài; Luật các tổ chức tín dụng được ban hành ngày 12.12.1997 và
sửa đổi bổ sung ngày 15.6.2004; Quyết định số 283/2000/QĐ-NHNN14 ngày
25.8.2000 của Thống đốc ngân hàng Nhà nước về việc ban hành quy chế bảo
lãnh ngân hàng; Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31.12.2001 của
Thống đốc ngân hàng Nhà nước Việt Nam về việc ban hành quy chế cho vay
của tổ chức tín dụng đối với khách hàng; Quyết định số 112/2003/QĐ-NHNN
ngày 11.02.2003 của Thống đốc ngân hàng Nhà nước Việt Nam về việc sửa đổi
bổ sung một số điều của quy chế bảo lãnh ngân hàng ban hành kèm theo Quyết
định số 283/2000/QĐ-NHNN14 ngày 25.8.2000...Và gần đây nhất là Quyết
định số 26/2006/QĐ - NHNN ngày 26/6/2006 về việc ban hành Quy chế bảo
lãnh ngân hàng.
Có thể khẳg định, bảo lãnh ngân hàng trong hoạt động cho vay của các tổ
chức tín dụng với tính chất là bảo lãnh của các tổ chức kinh tế có uy tín sẽ ngày
biện pháp bảo lãnh như là một biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự và
chỉ xem xét nó dưới góc độ bảo lãnh nói chung hoặc xem xét bảo lãnh dưới góc
độ kinh tế của vấn đề. Có một số luật gia lại đề cập đến biện pháp bảo lãnh,
nhưng chỉ đề cập đến bảo lãnh như là biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng
tín dụng và các chủ thể tham gia quan hệ bảo lãnh trong hoạt động cho vay của
các tổ chức tín dụng đều là các tổ chức, cá nhân sử dụng tài sản để bảo lãnh
đảm bảo thực hiện hợp đồng tín dụng. Ngoài ra, có một số tác giả đề cập đến
vấn đề này trong các công trình nghiên cứu như cuốn “Bảo lãnh Ngân hàng và
5
tín dụng dự phòng”- Nhà xuất bản thống kê, Hà Nội năm 1997 của tác giả Lê
Nguyên đã có trình bày về bảo lãnh Ngân hàng, song đây là bảo lãnh ngân
hàng trên thế giới và theo thông lệ quốc tế; Cuốn “Pháp luật về hợp đồng” cũng
chỉ đề cập tới vấn đề lý luận cơ bản của hợp đồng và khái quát các biện pháp
bảo đảm thực hiện hợp đồng. Một số luận văn Thạc sỹ mới chỉ nghiên cứu có
tính khái quát đi sâu vào lý luận, giải thích, định nghĩa mà chưa đi sâu vào
phân tích, đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật về bảo lãnh ngân hàng trong
hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng ở Việt Nam và chưa có những kiến
nghị giải pháp để hoàn thiện pháp luật bảo lãnh ngân hàng trong hoạt động cho
vay của các tổ chức tín dụng. Những tài liệu trên là nguồn tài liệu tham khảo
cần thiết cho chúng tôi thực hiện đề tài này. Trong đề tài, chúng tôi đi sâu vào
nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật về bảo lãnh ngân hàng trong hoạt động
cho vay của các tổ chức tín dụng, trên cơ sở đó đề ra định hướng, kiến nghị
hoàn thiện các quy định của pháp luật về bảo lãnh ngân hàng trong hoạt động
cho vay của các tổ chức tín dụng.
3/ Mục đích nghiên cứu:
Thông qua nghiên cứu một cách hệ thống các vấn đề lý luận về bảo lãnh
ngân hàng trong hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng ở Việt Nam, thực
- Phạm vi nghiên cứu là một số vấn đề cơ bản của pháp luật về bảo lãnh
ngân hàng trong hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng, thực tiễn áp dụng
pháp luật về bảo lãnh ngân hàng trong hoạt động cho vay của các tổ chức tín
dụng, tình hình giải quyết tranh chấp liên quan tới bảo lãnh ngân hàng trong
hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng.
- Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về bảo lãnh
ngân hàng trong hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng.
7
5/ Phương pháp nghiên cứu:
Để đạt được mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra chúng tôi sử dụng
một số phương pháp nghiên cứu khoa học như: Logic, biện chứng duy vật, duy
vật lịch sử, phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, trên cơ sở đó làm rõ các
vấn đề nêu ra trong luận văn.
6/ Đóng góp khoa học:
Luận văn này được nghiên cứu trên cơ sở những vướng mắc trong thực
tiễn áp dụng bảo lãnh ngân hàng trong hoạt động cho vay của các tổ chức tín
dụng, thông qua hoạt động giải quyết các tranh chấp trong lĩnh vực bảo lãnh
của Toà án. Từ đó kiến nghị hướng hoàn thiện pháp luật về vấn đề này, làm
cho các quy định của pháp luật về bảo lãnh là cơ sở pháp lý giúp cho các doanh
nghiệp yên tâm tham gia hợp tác, hội nhập kinh tế quốc tế.
7/ Kết cấu và nội dung của luận văn:
Đề tài được bố cục thành ba chương có quan hệ chặt chẽ với nhau, nhằm
đáp ứng mức độ nghiên cứu của đề tài.
Ngoài phần lời nói đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
được chia thành ba chương như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về hoạt động cho vay của tổ chức tín
dụng và bảo lãnh Ngân hàng trong hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng.
mang tính chất truyền thống không chỉ của các ngân hàng ở Việt Nam mà còn
của ngân hàng ở các nước có hệ thống ngân hàng phát triển mạnh như Mỹ,
Pháp…..Hoạt động này là hoạt động cơ bản của TCTD, đem lại nguồn lợi
nhuận chủ yếu cho các tổ chức này. Theo pháp luật ngân hàng ở Việt nam, cho
vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách
hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thoả
thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.
Trong nghiệp vụ cho vay, tổ chức tín dụng giao một khoản tiền nhất định
trong một thời gian nhất định cho bên đi vay để dùng vào mục đích nhất định
10
và bên đi vay phải hoàn trả cả gốc và lãi khi đến hạn. Điều này có nghĩa là đối
với hình thức cho vay thì khoản tiền vay được chuyển giao trực tiếp hoặc nhập
vào tài khoản của bên đi vay.
Hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng thực chất là giao dịch hợp đồng.
Chủ thể tham gia quan hệ cho vay là bên cho vay (tổ chức tín dụng) và bên đi
vay (khách hàng vay). Hoạt động này tiềm ẩn rủi ro lớn. Theo quan điểm của
một số tác giả thì hoạt động cho vay là hoạt động tiêu biểu nhất của hầu hết các
ngân hàng, hoạt động này đòi hỏi ngân hàng phải tìm mọi cách để kiểm soát
được khả năng hoàn trả nợ của khách hàng, ít nhất cũng là dự tính, phán đoán
khả năng này. Tuy nhiên, không phải bao giờ dự tính này cũng chính xác tuyệt
đối và thời gian qua đi thì khả năng phán đoán lại càng trở nên khó khăn hơn.
Do vậy, rủi ro chính mà ngân hàng phải đối mặt là rủi ro tín dụng [29]. Có thể
nói, hoạt động cho vay luôn đi liền với rủi ro, kinh doanh tín dụng là chấp nhận
đối đầu với rủi ro.Tính rủi ro này xuất phát từ những đặc thù của đối tượng
hoạt động cho vay, đặc thù của nguồn vốn cho vay của bên cho vay - tổ chức
tín dụng. Nếu trong các hoạt động kinh doanh khác, tiền tệ chỉ được coi là
thước đo giá trị, là phương tiện thanh toán thì trong hoạt động cho vay, tiền tệ
trở thành hàng hoá. Bên cho vay chỉ có thể đòi tiền của bên vay sau một thời
hình giao dịch các bên có thể lựa chọn các biện pháp thực hiện nghĩa vụ sao
cho phù hợp để cho hợp đồng được thực hiện một cách nghiêm chỉnh.
Bảo lãnh là một trong các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự,
khái niệm bảo lãnh dưới góc độ kinh tế, xã hội nó khác với khái niệm bảo lãnh
dưới góc độ pháp lý. ở mỗi quốc gia, khái niệm bảo lãnh cũng có những nét
riêng, nét đặc thù phù hợp với trình độ phát triển kinh tế, xã hội, chính trị của
mỗi quốc gia ấy.
12
Theo từ điển tiếng Việt thì bảo lãnh được hiểu là bảo đảm cho người khác
thực hiện một nghĩa vụ và chịu trách nhiệm nếu người đó không thực hiện, và
bảo đảm là làm cho chắc chắn thực hiện được [25]. Như vậy dưới góc độ ngôn
ngữ theo thực tiễn cuộc sống thì khi mà một người đã cam kết bảo lãnh cho
một người khác về công việc được thực hiện thì có nghĩa là người đó sẽ bảo
đảm cho công việc mà người kia phải thực hiện thì chắc chắn sẽ được thực hiện
và nếu trong trường hợp không thực hiện được như thoả thuận thì người bảo
lãnh sẽ chịu trách nhiệm trước người nhận bảo lãnh.
Theo từ điển thuật ngữ pháp lý phổ thông: “Bảo lãnh là một trong những
phương thức bảo đảm thực hiện trái vụ. Bảo lãnh là hợp đồng trong đó người
bảo lãnh phải chịu trách nhiệm trước chủ nợ của người khác về việc người này
thực hiện toàn bộ hay một phần trái vụ của mình” [30].
Theo từ điển pháp luật của Mỹ quốc thì bảo lãnh được hiểu là thoả thuận
trong đó người bảo lãnh đồng ý sẽ thực hiện nghĩa vụ nợ của bên nợ chỉ khi
bên nợ không trả nợ; bảo lãnh là việc bên bảo lãnh bảo đảm hoặc hứa thực hiện
nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực
hiện được [37].
Theo Bộ luật dân sự Sài Gòn: “Khế ước bảo chứng là những khế ước có
mục đích bảo đảm quyền lợi cho chủ nợ trong trường hợp trái hộ lâm vào tình
quyền, song về bản chất lại không phải là bảo lãnh như:
* Việc thực hiện nghĩa vụ thông qua bên thứ ba: Trong một giao dịch nào
đó bên có nghĩa vụ có thể uỷ quyền cho bên thứ ba thực hiện nghĩa vụ đối với
bên có quyền và sự uỷ quyền đó được bên có quyền chấp nhận thì bên có
quyền có thể trực tiếp yêu cầu bên thứ ba đó thực hiện nghĩa vụ đối với bên có
14
quyền khi nghĩa vụ đến hạn mà không cần đợi có sự vi phạm nghĩa vụ của bên
có nghĩa vụ ( bên uỷ quyền).
Như vậy, điều này khác với bảo lãnh vì trong bảo lãnh thì bên có quyền
có thể yêu cầu bên bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh nhưng đồng thời vẫn
có quyền yêu cầu bên được bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ, và trong bảo lãnh thì
chỉ khi bên được bảo lãnh có sự vi phạm về nghĩa vụ thì bên có quyền mới có
quyền yêu cầu bên bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh.
* Trong việc thực hiện nghĩa vụ liên đới: Bên thứ ba có nghĩa vụ theo
phần với bên có quyền nhưng liên đới chịu trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ
cùng với bên có nghĩa vụ, thì bên thứ ba sẽ cùng với bên có nghĩa vụ thực hiện
nghĩa vụ đối với bên có quyền. Trong trường hợp này, khi đến hạn, bên có
quyền có thể yêu cầu bên thứ ba trực tiếp thực hiện toàn bộ nghĩa vụ đối với
mình mà không nhất thiết phải yêu cầu từng bên thực hiện phần nghĩa vụ của
họ. Như vậy ở đây khác với bảo lãnh đó là không có sự cam kết trả thay cho
bên được bảo lãnh.
Do vậy, sự cam kết của bên thứ ba vào việc thực hiện nghĩa vụ thay cho
người khác là một trong những đặc trưng cơ bản để xác định bản chất đích thực
của bảo lãnh và để phân biệt bảo lãnh với thực hiện nghĩa vụ liên đới, thực hiện
nghĩa vụ thông qua bên thứ ba. Và bảo lãnh chỉ phát sinh khi mà có sự vi phạm
nghĩa vụ của bên được bảo lãnh đây là yếu tố để xác định một cam kết có phải
là bảo lãnh hay không.
nhận bảo đảm quyền yêu cầu đối với chính bên đưa ra cam kết bảo đảm, không
đưa ra quyền ưu tiên thu nợ đối với tài sản cụ thể nào của bên đưa ra cam kết
bảo đảm. Bộ luật dân sự Sài Gòn quy định “Bảo chứng đối nhân tức là sự bảo
lãnh” [24]. Bộ luật dân sự Việt Nam không quy định riêng biệt thành các biện
16
pháp bảo đảm đối vật và bảo đảm đối nhân. Nhưng qua nghiên cứu các quy
định của Bộ luật dân sự Việt Nam chúng ta cũng có thể rút ra được các đặc
điểm của biện pháp bảo đảm đối vật và biện pháp bảo đảm đối nhân:
- Bảo đảm đối vật: Bên có nghĩa vụ (chủ thể nghĩa vụ) cam kết bảo đảm
thực hiện nghĩa vụ bằng một hoặc một số tài sản thuộc quyền sở hữu của mình
thông qua các biện pháp cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, ký cược, ký quỹ, đặt
cọc.
- Bảo đảm đối nhân: Việc thực hiện nghĩa vụ dân sự được bảo đảm bằng
uy tín hoặc tài sản của người thứ ba (ngoài hai bên chủ thể trong hợp đồng
chính) người thứ ba cam kết với bên có quyền (trong hợp đồng chính) thực
hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ nếu đến thời hạn mà bên có nghĩa vụ
không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ của mình thông qua biện
pháp bảo lãnh.
Thông qua việc bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bằng bảo lãnh, quyền và lợi
ích hợp pháp của bên có quyền được đảm bảo không chỉ bằng khối tài sản của
người có nghĩa vụ (người được bảo lãnh) mà còn được bảo đảm bằng khối tài
sản của người thứ ba (người bảo lãnh). Như vậy có thể nói quyền và lợi ích hợp
pháp của bên có quyền được bảo đảm bằng hai khối tài sản ( khối tài sản của
người bảo lãnh và người được bảo lãnh) thay vì chỉ một khối tài sản của người
có nghĩa vụ ( người được bảo lãnh).
Tuy nhiên, trên thực tế hiện nay, theo Quy chế thế chấp, cầm cố tài sản và
bảo lãnh vay vốn ngân hàng: “Bên bảo lãnh thực hiện bảo lãnh bằng tài sản
hoặc các bên có thể thoả thuận bên bảo lãnh thế chấp, cầm cố tài sản cho bên
biện pháp bảo lãnh là phạm vi bảo lãnh không vượt quá phạm vi nghĩa vụ đã
được xác định trong nội dung của quan hệ chính.
18
* Nghĩa vụ bảo đảm bằng bảo lãnh phải là nghĩa vụ có thể chuyển giao.
Nghĩa vụ cơ bản của bên bảo lãnh là thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo
lãnh, nếu đến hạn trả nợ mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc không thể
thực hiện được nghĩa vụ. Nghĩa là có sự thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được
bảo lãnh, vì vậy mà nguyên tắc chuyển giao nghĩa vụ cần được áp dụng “Trừ
trường hợp nghĩa vụ gắn liền với nhân thân của bên có nghĩa vụ hoặc pháp luật
có quy định không được chuyển giao nghĩa vụ” [3]. Điều này nó phù hợp với
thực tế là các nghĩa vụ liên quan đến nhân thân như nghĩa vụ học tập, lao động,
bảo vệ tổ quốc thì không thể thực hiện thay, tức là không thể bảo lãnh [5]. Do
vậy mà nghĩa vụ được bảo đảm bằng bảo lãnh là những nghĩa vụ được phép
thực hiện thay hoặc nghĩa vụ không gắn liền với nhân thân của người có nghĩa
vụ.
Tóm lại: Những đặc điểm trên đây của bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ dân
sự cho thấy rằng chúng có rất nhiều đặc điểm khác biệt với biện pháp bảo đảm
khác như cầm cố, thế chấp tài sản. Chính những đặc điểm khác biệt này là tiền
đề, cơ sở pháp lý cho việc nghiên cứu loại hình bảo lãnh ngân hàng.
1.3. Khái niệm, đặc điểm của bảo lãnh ngân hàng trong hoạt động cho vay của
các tổ chức tín dụng
Vấn đề khái niệm bảo lãnh ngân hàng trong hoạt động cho vay của các tổ
chức tín dụng có nhiều quan điểm khác nhau. Quan điểm thứ nhất cho rằng:
“Bảo lãnh ngân hàng chỉ được hiểu như là một hợp đồng bảo đảm nghĩa vụ, do
ngân hàng ( hay tổ chức tín dụng) cam kết với bên có quyền sẽ thực hiện nghĩa
vụ trả nợ thay cho người được bảo lãnh, nếu người này không thực hiện đúng
tế đưa ra định nghĩa cụ thể của từng loại hình bảo lãnh mà không có một khái
niệm chung. Chương 5 luật thương mại Mỹ khẳng định nghĩa vụ của người
20
phát hành tín dụng thư hoặc bảo lãnh độc lập là “Sẽ thanh toán chứng từ xuất
trình theo đúng tiêu chuẩn thực hành”. Công ước liên hiệp quốc về bảo lãnh
độc lập và tín dụng thư dự phòng định nghĩa bảo lãnh như sau “Cam kết là lời
hứa độc lập, được biết trong thực tiễn quốc tế như là một bảo lãnh độc lập hoặc
tín dụng thư dự phòng do ngân hàng hoặc tổ chức hay cá nhân ( người bảo
lãnh. Người phát hành) thanh toán cho...” . Phòng thương mại quốc tế định
nghĩa về bảo lãnh độc lập như sau: “Với mục đích của bản quy tắc này, bảo
lãnh độc lập là bất cứ bảo lãnh, cam kết hay cam kết thanh toán, dù được gọi
hay miêu tả như thế nào của ngân hàng, Công ty bảo hiểm hoặc pháp nhân hay
thể nhân bằng văn bản, thanh toán một số tiền khi được xuất trình theo đúng
quy định của cam kết, bản đòi tiền và các chứng từ khác” [32].
Qui tắc thống nhất về bảo lãnh theo yêu cầu bản số 458 - Phòng thương
mại quốc tế Pari có quy định: bảo lãnh được đưa ra bằng văn bản cho việc
thanh toán số tiền xác định khi có sự xuất trình yêu cầu thanh toán phù hợp với
các điều khoản của bảo lãnh cùng với các chứng từ phù hợp với các quy định
của bảo lãnh ( nếu có) [28] . Bảo lãnh theo yêu cầu có một số đặc điểm là: Bên
bảo lãnh phải thanh toán khi nhận được yêu cầu thanh toán bằng văn bản phù
hợp với điều kiện của bảo lãnh cùng với chứng từ phù hợp với quy định của
bảo lãnh ( nếu có), bảo lãnh theo yêu cầu có thời hạn xác định: sự độc lập của
bảo lãnh đã được xác định rõ, nghĩa vụ kiểm tra sự phù hợp của yêu cầu thanh
toán bảo lãnh của bên bảo lãnh khi thực hiện thanh toán theo bảo lãnh được
quy định cụ thể.
Qua xem xét về bảo lãnh ngân hàng nêu trên, quy định hiện hành của Việt
Nam cũng như quy định bảo lãnh ngân hàng theo thông lệ quốc tế thì bảo lãnh
ngân hàng trong hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng là cam kết của
hoàn toàn phù hợp với định nghĩa về bảo lãnh vay vốn được qui định tại Điều 5
22