Giám đốc thẩm trong tố tụng dân sự việt nam - Pdf 31

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

HÀ THỊ THÚY HÀ

GIÁM ĐỐC THẨM
TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2014

1


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

HÀ THỊ THÚY HÀ

GIÁM ĐỐC THẨM
TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM
Chuyên ngành : Luật dân sự
Mã số
: 60 38 30

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Công Bình

HÀ NỘI - 2014

Chương 1:

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIÁM ĐỐC THẨM

6

TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

1.1.

Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của giám đốc thẩm trong tố
tụng dân sự

6

1.1.1. Khái niệm giám đốc thẩm dân sự

6

1.1.2. Đặc điểm của giám đốc thẩm

9

1.1.3. Ý nghĩa của giám đốc thẩm trong tố tụng dân sự

12

1.2.

13


1.4.

25

Giám đốc thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự
một số nước trên thế giới

1.4.1. Cộng hòa Pháp

25

1.4.2. Cộng hòa nhân dân Trung Hoa

26

1.4.3. Liên bang Nga

26

4


Chương 2:

NỘI DUNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT

29

NAM HIỆN HÀNH VỀ GIÁM ĐỐC THẨM DÂN SỰ


48

2.2.2. Các quy định những người tiến hành phiên tòa giám đốc thẩm
và những người tham gia phiên tòa giám đốc thẩm

49

2.2.3. Các quy định về thủ tục phiên tòa giám đốc thẩm

53

2.2.4. Các quy định về phạm vi giám đốc thẩm

54

2.2.5. Các quy định về thẩm quyền của Hội đồng giám đốc thẩm

56

2.2.6. Các quy định về quyết định giám đốc thẩm

60

Chương 3:

THỰC TIỄN THỰC HIỆN CÁC QUY ĐỊNH VỀ GIÁM

63



96
98

KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

5

100


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLTTDS

: Bộ luật tố tụng dân sự

HĐTP

: Hội đồng thẩm phán

PLTTGQCVADS : Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự
TAND

: Tòa án nhân dân

TANDTC

: Tòa án nhân dân tối cao


đã có hiệu lực pháp luật bị đề nghị xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm tăng
ngày càng nhanh về số lượng và mức độ phức tạp. Việc nội dung đề nghị xem
xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm dân sự của đương sự, của cá nhân, cơ quan,
tổ chức được chấp nhận cũng có nghĩa là số lượng bản án, quyết định đã có hiệu
lực bị kháng nghị nhiều hơn. Các vụ việc dân sự được xem xét lại một cách
khách quan hơn nhằm đảm bảo quyền lợi cho đương sự nhưng cũng có những
vụ việc bị xử đi, xử lại nhiều lần dẫn đến tốn kém về cả thời gian, công sức và
tiền bạc của cả Nhà nước và công dân. Tình trạng này còn làm cho người dân
mất lòng tin vào ngành Tòa án nhân dân (TAND) nói riêng và các cơ quan bảo
vệ pháp luật nói chung. Để nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan tư
pháp, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 49-NQ/TƯ ngày 02 tháng 6
năm 2005 về "Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020", trong đó xác định

7


việc xây dựng, hoàn thiện tổ chức và hoạt động TAND là một trong những
nhiệm vụ trọng tâm; tổ chức lại hệ thống Tòa án theo thẩm quyền xét xử, không
phụ thuộc vào đơn vị hành chính, Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC) có nhiệm
vụ tổng kết kinh nghiệm xét xử, hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật, phát
triển án lệ và xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm. Mặt khác, hoàn thiện chính sách
pháp luật về tố tụng dân sự cũng là một trong những nhiệm vụ của chiến lược cải
cách tư pháp. Theo đó từng bước hoàn thiện thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm theo
hướng quy định chặt chẽ những căn cứ kháng nghị và quy định rõ trách nhiệm
của người ra kháng nghị đối với bản án hoặc quyết định của Tòa án đã có hiệu
lực pháp luật v.v... Trên cơ sở định hướng của Nghị quyết số 49-NQ/TƯ ngày
02 tháng 6 năm 2005, tại Kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa XII đã thông qua Luật
sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS vào ngày 29 tháng 3 năm 2011
(Luật sửa đổi, bổ sung BLTTDS), trong đó việc sửa đổi đáng quan tâm nhất là
những quy định về việc xem xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu

án đã được Tòa dân sự TANDTC xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm làm
ví dụ minh họa.
6. Những đóng góp mới về khoa học của luận văn
Việc nghiên cứu đề tài, đã có những đóng góp mới cho khoa học luật
dân sự ở những điểm sau:
- Làm rõ thêm những vấn đề lý luận về giám đốc thẩm dân sự;
- Đánh giá đúng thực trạng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự
Việt Nam hiện hành về giám đốc thẩm và thực tiễn thực hiện chúng tại các
Tòa án trong những năm gần đây;
- Đề xuất một số kiến nghị xây dựng và thực hiện pháp luật tố tụng
dân sự về giám đốc thẩm nhằm nâng cao chất lượng trong công tác giám đốc
thẩm của TAND.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về giám đốc thẩm trong tố tụng dân sự
Chương 2: Nội dung các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành
về giám đốc thẩm dân sự
Chương 3: Thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật tố tụng dân
sự Việt Nam về giám đốc thẩm và kiến nghị.

11


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIÁM ĐỐC THẨM
TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

1.1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ Ý NGHĨA CỦA GIÁM ĐỐC THẨM
TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

trường hợp này gọi là giám đốc thẩm dân sự. Căn cứ vào mục đích của việc
xét lại bản án, quyết định theo thủ tục giám đốc thẩm khi nghiên cứu đề tài
luận án tiến sĩ "Thủ tục xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực
pháp luật trong tố tụng kinh tế, dân sự ở Việt Nam", tác giả Đào Xuân Tiến
cho rằng:
Thủ tục xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực
pháp luật là thủ tục đặc biệt nhằm kiểm tra, xem xét, xác định bản án,
quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật được xét xử đúng
pháp luật và xét lại đối với bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu
lực pháp luật nhưng có sai lầm nghiêm trọng hoặc có tình tiết mới
làm thay đổi nội dung hoặc kết quả giải quyết vụ án [28, tr. 20].
Tác giả cũng cho rằng, việc đưa ra khái niệm này còn nhằm phân biệt
với thủ tục xét lại bản án, quyết định của Tòa án chưa có hiệu lực pháp luật là
thủ tục phúc thẩm. Trong các công trình nghiên cứu khoa học pháp lý đã được
công bố các tác giả của các công trình khoa học này đã đưa ra các khái niệm
về việc xem xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nói
chung và khái niệm về giám đốc thẩm nói riêng dựa trên nhiều góc độ tiếp
cận, nhìn nhận khác nhau. Căn cứ vào đối tượng, căn cứ của việc xét lại bản
án, quyết định theo thủ tục giám đốc thẩm, Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt
Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội đã đưa ra khái niệm như sau: "Giám
đốc thẩm dân sự là việc xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của
Tòa án bị kháng nghị do phát hiện có sai lầm, vi phạm pháp luật trong giải
quyết vụ án" [43, tr. 325]. Tương tự, Giáo trình Luật tố tụng dân sự của Học
viện Tư pháp cũng đưa ra khái niệm: "Giám đốc thẩm là xét lại bản án, quyết
định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì phát hiện có
vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án" [13, tr. 417].

13



14


1.1.2. Đặc điểm của giám đốc thẩm
Đặc điểm thứ nhất: Đối tượng của giám đốc thẩm là những bản án,
quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.
Những bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật cần
phải được thi hành để đảm bảo được quyền lợi của đương sự và đảm bảo cho
việc thực thi công lý. Tuy nhiên, trong một số trường hợp thì bản án, quyết
định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng không đúng với bản chất sự
việc hoặc nếu có thi hành thì gây tổn hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của
đương sự. Do vậy, một trong những thủ tục để xem xét lại bản án, quyết định
của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật đó là giám đốc thẩm.
Đối tượng của giám đốc thẩm dân sự là những bản án, quyết định giải
quyết vụ án dân sự đã có hiệu lực pháp luật bị phát hiện có sai lầm, vi phạm
pháp luật trong việc giải quyết vụ án dân sự. Các bản án, quyết định có hiệu
lực pháp luật đó có thể là:
- Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự;
- Bản án, quyết định của Tòa án các cấp;
- Quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án.
Nói chung các bản án, quyết định giải quyết các vụ việc dân sự đã có
hiệu lực pháp luật đều có thể là đối tượng để xem xét lại theo thủ tục giám
đốc thẩm dân sự. Đây là điểm hoàn toàn khác với việc giải quyết vụ án ở cấp
phúc thẩm, đối tượng cần xem xét của Tòa án cấp phúc thẩm là các bản án,
quyết định chưa có hiệu lực pháp luật và có kháng cáo, kháng nghị. Đối với
thủ tục xét xử phúc thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm xét xử trên cơ sở kháng cáo
của đương sự hoặc kháng nghị của người có thẩm quyền kháng nghị, Tòa án
cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án về mặt nội dung vụ, việc dân sự, đồng thời
xem xét cả về thủ tục tố tụng thông qua hoạt động xét xử. Mặc dù cùng đối
tượng xem xét cùng là bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực nhưng

nghị Hội đồng giám đốc thẩm sẽ xác định những vi phạm pháp luật nghiêm
trọng của bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật

16


Sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật thường thể hiện
dưới dạng Tòa án đã áp dụng văn bản pháp luật không đúng, không còn hiệu
lực hoặc áp dụng không đúng điều luật, không đúng nội dung quy định của
điều luật.
Đặc điểm thứ ba: Việc xét lại bản án, quyết định phải dựa trên kháng
nghị của người có thẩm quyền.
Thủ tục giám đốc thẩm dân sự được tiến hành trên cơ sở có kháng nghị
của người có thẩm quyền trong thời hạn pháp luật quy định đối với bản án, quyết
định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng có sai lầm nghiêm trọng.
Việc phát hiện sai lầm của bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu
lực pháp luật còn thông qua các hoạt động thanh tra, giám sát, điều tra của các
cơ quan hành pháp và tư pháp, hoạt động chất vấn của cơ quan lập pháp. Tuy
nhiên, nguyên tắc tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự là nét đặc thù
trong pháp luật tố tụng dân sự. Vì vậy, đơn đề nghị giám đốc thẩm đối với bản
án đã có hiệu lực pháp luật là cơ sở ưu tiên hàng đầu để Tòa án xem xét, kiểm
tra lại bản án, quyết định. Không phải đơn đề nghị hoặc văn bản thông báo nào
của đương sự, của cá nhân, cơ quan, tổ chức cũng được kháng nghị và đưa ra
để Hội đồng giám đốc thẩm xem xét mà còn cần dựa trên các căn cứ kháng
nghị theo quy định của pháp luật để người có thẩm quyền ra quyết định kháng
nghị trong thời hạn luật định. Như vậy, quyền đề nghị xem xét lại theo thủ tục
giám đốc thẩm của đương sự chỉ là cơ sở để người có thẩm quyền kháng nghị
xem xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật chứ không
phải là căn cứ để Hội đồng giám đốc thẩm xác định những sai lầm, vi phạm
nghiêm trọng trong bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Hội

Hướng dẫn xét xử và áp dụng thống nhất pháp luật là công tác rất
quan trọng của ngành Tòa án. Các quyết định giám đốc thẩm là nguồn tư liệu
thực tế phong phú để TANDTC làm cơ sở đưa ra những kết luận, tổng kết
kinh nghiệm xét xử cho các Tòa án địa phương hàng năm, nhằm nâng cao
chất lượng xét xử, hạn chế những sai sót của Tòa án cấp dưới. Thông qua
công tác giám đốc thẩm, TANDTC ban hành các văn bản hướng dẫn xét xử

18


cho các Tòa án cấp dưới. Do vậy, giám đốc thẩm có ý nghĩa đặc biệt quan
trọng đối với Tòa án, nhất là TANDTC trong việc thực hiện chức năng quan
trọng là hướng dẫn xét xử đối với các Tòa án cấp dưới. Các quyết định giám
đốc thẩm được công bố công khai cũng là nguồn tư liệu quý giá để các Thẩm
phán tham khảo và rút kinh nghiệm trong quá trình xét xử, tránh lặp lại những
sai lầm tương tự.
Ngoài ra, thông qua công tác giám đốc án TANDTC còn đánh giá
được chất lượng Thẩm phán, để từ đó có kế hoạch cho việc đào tạo, bồi
dưỡng và sử dụng cán bộ ngành TAND cho phù hợp.
1.1.3.3. Giám đốc thẩm có ý nghĩa quan trọng trong việc thực hiện
nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa, đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp
của đương sự
Việc bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp của công dân là yêu cầu
quan trọng của nhà nước pháp quyền. Thông qua công tác giám đốc thẩm dân
sự Tòa án bảo đảm các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân. Khi phát hiện
bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án vi phạm pháp luật nghiêm
trọng ảnh hưởng đến quyền lợi của công dân. Tòa án có thẩm quyền giám đốc
thẩm hủy những bản án, quyết định sai đồng thời tạo cơ sở pháp lý để vụ án
được phục hồi, xét xử lại. Do đó đã khôi phục được quyền, lợi ích hợp pháp
của công dân bị vi phạm.

làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án, quyết định mà tòa án, các đương sự
không biết được khi giải quyết vụ việc dân sự (về căn cứ để kháng nghị tái
thẩm được quy định tại Điều 305 BLTTDS). Sự khác biệt căn bản về cơ sở
của việc xét lại bản án đã có hiệu lực pháp luật là nguồn gốc dẫn tới sự khác
biệt trong các quy định của pháp luật về thời hạn kháng nghị, quyền hạn của
Hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm.
Trên cơ sở các căn cứ kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm nêu
trên, pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam quy định thời hạn kháng nghị theo thủ
tục giám đốc thẩm phải được tính từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có
hiệu lực pháp luật. Trong khi đó thời hạn kháng nghị theo thủ tục tái thẩm lại

20


được tính từ ngày người có thẩm quyền kháng nghị biết được căn cứ kháng
nghị theo thủ tục tái thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Giám đốc thẩm trong tố tụng dân sự được thực hiện trên cơ sở nguyên
tắc cơ bản của pháp luật tố tụng dân sự, đó là nguyên tắc giám đốc việc xét
xử. Theo đó Tòa án cấp trên giám đốc việc xét xử của Tòa án cấp dưới.
TANDTC giám đốc việc xét xử của Tòa án các cấp để đảm bảo việc áp dụng
pháp luật được nghiêm chỉnh và thống nhất.
Nhà nước pháp quyền đòi hỏi dân chủ và tổ chức quyền lực mà trong
đó pháp luật được đề cao. Để đáp ứng được yêu cầu đó phải tạo dựng được ý
thức coi trọng pháp luật, xác định đúng đắn trách nhiệm qua lại giữa Nhà
nước và công dân, bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân. Bằng
việc xét lại các bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật có vi phạm
pháp luật nghiêm trọng, bảo đảm pháp luật được áp dụng đúng đắn thì giám
đốc thẩm dân sự là nhằm góp phần đáp ứng được yêu cầu trong việc xây dựng
nhà nước pháp quyền. Thông qua công tác giám đốc thẩm nhằm vô hiệu hóa
các bản án, quyết định có sai lầm, vi phạm pháp luật nghiêm trọng, nhằm bảo

rõ trách nhiệm của người ra kháng nghị đối với bản án hoặc quyết định của
Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Trên cơ sở Nghị quyết này của Bộ Chính trị,
năm 2011 Quốc hội nước ta đã có những sửa đổi, bổ sung tương đối lớn đối
với BLTTDS, đặc biệt là những vấn đề liên quan đến giám đốc thẩm, tái thẩm
và thủ tục đặc biệt xem xét lại quyết định của Hội đồng thẩm phán (HĐTP)
TANDTC.
Các quy định về giám đốc thẩm được xây dựng nhằm bảo đảm quyền
khiếu nại của công dân. Việc đảm bảo quyền khiếu nại của công dân cũng là
một trong những cơ sở để xây dựng các quy định về giám đốc thẩm dân sự.
Việc xét xử của Tòa án phải dựa trên cơ sở nguyên tắc thực hiện chế độ hai
cấp xét xử, tuy nhiên có những bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực
pháp luật vẫn không thể đưa ra thi hành được vì đương sự không chấp nhận
nội dung quyết định của Tòa án. Do đó, nhằm đảm bảo quyền khiếu nại của
công dân, cần thiết đặt ra các quy định về giám đốc thẩm, nhằm xem xét lại

22


các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Theo đó, công dân
có quyền khiếu nại theo thủ tục giám đốc thẩm nếu phát hiện vi phạm pháp
luật trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án.
Giám đốc thẩm nhằm kiểm tra, giám sát việc xét xử của Tòa án các
cấp. Việc thụ lý, giải quyết vụ án dân sự và việc dân sự của Tòa án cấp dưới
chịu sự kiểm tra, giám sát của Tòa án cấp trên, thông qua công tác kiểm tra
giám sát đó Tòa án cấp trên kịp thời phát hiện ra các bản án, quyết định của
Tòa án cấp dưới có vi phạm nghiêm trọng cần thiết phải giải quyết lại để đảm
bảo quyền lợi của cá nhân, tổ chức và của Nhà nước. Trên cơ sở các quy định
về giám đốc thẩm, Tòa án cấp trên mới có căn cứ thực hiện chức năng giám
đốc việc xét xử của Tòa án cấp dưới thông qua việc người có thẩm quyền
kháng nghị ra quyết định kháng nghị bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp

quyết vụ án. Mặc dù pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam chưa có các văn bản
pháp luật cụ thể quy định về các vi phạm thủ tục tố tụng nào được coi là vi
phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Song trong thực tế có thể hiểu là vi phạm
nghiêm trọng thủ tục tố tụng là việc vi phạm các nguyên tắc cơ bản được quy
định tại BLTTDS hoặc những vi phạm về thủ tục tố tụng dẫn đến việc xâm
phạm quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, của Nhà nước và của người
thứ ba như: Việc xét xử vắng mặt đương sự không được thực hiện đầy đủ các
quy định của BLTTDS, không đưa đầy đủ người tham gia tố tụng, định giá tài
sản không đúng thành phần, thành phần Hội đồng xét xử không đúng quy
định của pháp luật dẫn đến việc ra bản án, quyết định thiếu khách quan,
không đảm bảo được quyền lợi của các đương sự…
Có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật. Đây là lỗi chủ
quan của Thẩm phán hoặc của Hội đồng xét xử khi giải quyết, xét xử vụ án
dân sự. Sai lầm này có thể do ý chí chủ quan của thẩm phán, nhưng cũng có
thể do xuất phát từ nhận thức sai đối với các văn bản hướng dẫn dưới luật, từ
đó dẫn đến việc giải quyết vụ án dân sự không đúng.
Mặt khác, để đảm bảo việc áp dụng pháp luật nghiêm chỉnh và thống
nhất trong toàn ngành TAND thì việc ban hành các văn bản hướng dẫn phải

24


được rút kinh nghiệm từ công tác kiểm tra, giám đốc án của TAND cấp tỉnh
và TANDTC. Để việc xem xét lại các bản án, quyết định của Tòa án đã có
hiệu lực pháp luật mang lại hiệu quả cao và đúng pháp luật cần có những quy
định chi tiết, chặt chẽ về thủ tục tố tụng trong công tác giám đốc thẩm. Do đó,
việc xây dựng chế định giám đốc thẩm trong thủ tục tố tụng dân sự là sự cần
thiết, tất yếu.
1.3. SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÁC QUY ĐỊNH VỀ GIÁM
ĐỐC THẨM TRONG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status