Nợ công và sự tác động của nó đến tăng trưởng kinh tế việt nam giai đoạn 2006-2013 - Pdf 31

1


2

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Sô thứ tự

Chữ viêt tăt

Giải thích

1

ADB

Ngân hàng phát triên Châu Á

2

BTC

Bộ Tài Chính

3

DNNN

Doanh nghiệp nhà nước

4


TPCP

Trái phiêu Chính phủ

10

WB

Ngân hàng thê giới


3

DANH MỤC SƠ ĐỒ BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Tình hình nợ công giai đoạn 2006-2013.
Bảng 2.2: Tình hình trả nợ công giai đoạn 2006-2013. Đvt: tỷ VNĐ
Bảng 2.3: Tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2006 -2013
Bảng 2.4: Một số chỉ tiêu kinh tế cơ bản giai đoạn 2011-2013
Biểu đồ 2.1: Nợ công giai đoạn 2003-2013
Biểu đồ 2.2: Một số chỉ tiêu kinh tế
Biểu đồ 2.3: Tăng trưởng kinh tế việt nam giai đoạn 2006 đến 2013
Hình 2.1: Đồng hồ nợ công việt nam năm 2014
Hình 2.2: Cấu trúc nợ công năm 2011
Sơ đồ 1.1: cấu trúc nợ công theo quỹ tiền tệ IMF


4

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

nhau, chiếm một phần trong các khoản vay đó. Tuy nhiên trong thực tế các nước cho
thấy, việc vay nợ và chi tiêu lãng phí, sử dụng kém hiệu quả đồng tiền của Chính phủ
khiến cho nhiều nước lâm vào tình trạng khủng hoảng nợ công ở các nước châu âu. Ví
dụ điển hình là Hy Lạp đây cũng là vấn đề thời sự được quan tâm đặt biệt ở Việt Nam.
Nhiều nhà nghiên cứu học nghiên cứu về ngưỡng nợ mà tại đó kinh tế đạt tối đa
khi vượt qua ngưỡng nợ đó thì nền kinh tế giảm sút từ đó đưa ra những biện pháp kiến


6

nghị cho quốc gia đó về vấn đề quản lý nợ công. Tuy nhiên mỗi nước lại có ngưỡng nợ
khác nhau.
Tăng trưởng kinh tế Việt Nam thấp trong khi thâm hụt ngân sách lên đên đỉnh
điểm đã làm cho tỷ lệ nợ chính phủ trên GDP nhảy vọt từ mức khoảng 42,9% năm
2008 lên đên 51,16% năm 2009, tức đã vượt qua ngưỡng nợ công vốn được xem là an
toàn trước đó là 50% GDP. Có vẻ mức nợ này chưa phải quá lớn đên mức đủ để cảnh
báo các nhà chức trách khi vẫn luôn có những trấn an rằng nợ vẫn đang “trong tầm
kiểm soát”. Điều đáng ngờ là ngưỡng nợ an toàn luôn được tịnh tiến lên trong khi thiếu
những giải trình có trách nhiệm. Mặc dù vậy, có một điều mà người ta không thể phớt
lờ là tỷ lệ nợ công đang tăng lên và tăng nhanh.
Trong đề án chuyên ngành này với đề tài: “Nợ Công và sự tác động của nó đến
tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2006- 2013” sẽ đi sâu nghiên cứu một cách
logic, phản ánh được bản chất của vấn đề đặt ra.
Đề án gồm 3 phần:
Phần 1: Cơ sở lý thuyết về nợ công, tăng trưởng kinh tế và sự tác động nợ
công đến tăng trưởng kinh tế.
Phần 2: Thực trạng nợ công và tăng trưởng kinh tế việt nam và sự tác động
của nợ công đến tăng trưởng kinh tế việt nam giai đoạn 2006- 2013
Phần 3: Một số nhận xét và giải pháp hạn chế nợ công, thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế.

tư nhân do chính phủ bảo lãnh.

 Theo quan điếm của quĩ tiền tệ quốc tế (IMF) nợ công bao gồm nợ của khu vực tài


8

chính công và nợ khu vực phi tài chính công. Trong đó:
+

Khu vực tài chính công gồm: Tố chức tiền tệ (ngân hàng trung ương, các tổ chức tín
dụng nhà nước) và các tổ chức phi tiền tệ (các tố chức tín dụng không cho vay mà chỉ
có chức năng hỗ trợ phát triến).

+

Các tổ chức phi tài chính công như: Chính phủ, tỉnh thành phổ, các tổ chức chính
quyền địa phương, các doanh nghiệp phi tài chính nhà nước.

Khu vực công
Khu vực chính phủ
Khu vực các tổ chức công
Chính quyên liên bang
Chính quyền địa phương
Chính phủ trung ương
Các tổ chức công phi tài chính
Các tổ chức công tài chính
Ngân hàng TW
Các tổ chức nhà nước nhận tiền gửi (trừ ngân hàng TW)
Các tổ chức tài chính công khác

như ngoài nước), hay một tập đoàn kinh tế vay nợ nước ngoài được chính phủ bảo lãnh
đều được xem là nợ công. Trước nay mọi người thường chỉ nghĩ đến nợ Chính phủ khi
nói đến tổng nợ công. Khi Chính phủ phát hành 1 tỷ đô-la trái phiếu ở nước ngoài, ai
cũng biết nó được tính vào tổng nợ công nhưng khi đọc tin một doanh nghiệp thu xếp
ký kết một khoản vay 2 tỷ đô-la với một ngân hàng nước ngoài nào đó, có sự bảo lãnh
của Chính phủ, có thể có người vẫn nghĩ đó là nợ doanh nghiệp, không phải nợ công.
 Ngoài ra cần chú ý thêm khái niệm “nợ nước ngoài của quốc gia”, là tổng các khoản

nợ nước ngoài của Chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh, nợ của doanh nghiệp và
tổ chức khác vay theo phương thức tự vay, tự trả (Luật quản lý nợ công năm 2009).
Vốn vay từ ADB hay WB đương nhiên là nợ nước ngoài rồi nhưng một doanh nghiệp
vay từ đối tác nước ngoài vài trăm triệu đô-la, chẳng hạn, dù có hay không có bảo lãnh
của chính phủ, thì khoản tiền đó vẫn phải tính vào tổng nợ nước ngoài của quốc gia.


Thước đo nợ Chính phủ thường là phần trăm so với GDP. Nợ thường được tính tại
tùng thời kỳ, từng giai đoạn. So sánh tổng nợ nước ngoài với GDP là nhàm so sánh nợ
với những gì một quốc gia làm ra, để xác định khả năng trả nợ của quốc gia đó.



Thông thường, nợ công là hệ quả trực tiếp của thâm hụt ngân sách chính phủ và quy
mô nợ công đúng bàng quy mô thâm hụt ngân sách tích tụ qua các năm. về nguyên tắc,
đề bù đắp thâm hụt ngân sách, các chính phủ phải đi vay trong và ngoài nước chứ
không được phát hành tiền đề tránh nguy cơ xảy ra lạm phát cao. Tuy nhiên, nợ công ở
một số nước đang phát triển, chẳng hạn như Việt Nam, còn do chính phủ vay nợ để tài
trợ cho các dự án đầu tu- của mình (thường là các dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng)
nên quy mô nợ công thậm chí còn cao hơn nữa. Nguồn để trả nợ công là các khoản thu
trong tương lai bao gồm cả thu ngân sách và thu từ các dự án đầu tư bằng nguồn vốn
vay (nếu có).




Theo tính chất ưu đãi của khoản vay làm phát sinh nợ công: Nợ công có ba loại: Nợ
công từ vốn vay ODA, nợ công từ vốn vay ưu đãi và nợ thương mại thông thường.



Theo trách nhiệm đối với chủ nợ: Nợ công được phân loại thành nợ công phải trả và nợ
công bảo lãnh. Nợ công phải trả là các khoản nợ mà Chính phủ, chính quyền địa
phương có nghĩa vụ trả nợ. Nợ công bảo lãnh là khoản nợ mà Chính phủ có trách
nhiệm bảo lãnh cho người vay nợ, nếu bên vay không trả được nợ thì Chính phủ sẽ có
nghĩa vụ trả nợ.



Theo cấp quản lý nợ: Nợ công được phân loại thành Nợ công của trung ương và Nợ


12

công của chính quyền địa phương. Nợ công của trung ương là các khoản nợ của Chính
phủ, nợ do Chính phủ bảo lãnh. Nợ công của địa phương là khoản nợ công mà chính
quyền địa phương là bên vay nợ và có nghĩa vụ trực tiếp trả nợ.
1.1.3. Đặc trưng nợ công
Tuy có nhiều cách tiếp cận rộng hẹp, khác nhau, nhưng về cơ bản, nợ công có
những đặc điểm chủ yếu sau:


Nợ công là khoản nợ ràng buộc trách nhiệm trả nợ của Nhà nước được thể hiện dưới


vốn để phát triển cơ sở hạ tầng và tăng khả năng đầu tư đồng bộ của Nhà nước. Muốn
phát triển cơ sở hạ tầng nhanh chóng và đồng bộ, vốn là yếu tố quan trọng nhất. Với
chính sách huy động nợ công hợp lý, nhu cầu về vốn sẽ từng bước được giải quyết để
đầu tư cơ sở hạ tầng, từ đó gia tăng năng lực sản xuất cho nền kinh tế;
Thứ hai, nợ công góp phần tận dụng được nguồn tài chính nhàn rỗi trong dân cư.
Một bộ phận dân cư trong xã hội có các khoản tiết kiệm, thông qua việc Nhà nước vay
nợ mà những khoản tiền nhàn rỗi này được đưa vào sử dụng, đem lại hiệu quả kinh tế
cho cả khu vực công lẫn khu vực tư;
Thứ ba, nợ công tận dụng được sự hỗ trợ từ nước ngoài và các tổ chức tài chính
quốc tế. Tài trợ quốc tế là một trong những hoạt động kinh tế - ngoại giao quan trọng
của các nước phát triển muốn gây ảnh hưởng đến các quốc gia nghèo, cũng như muốn
hợp tác kinh tế song phương. Biết tận dụng tốt những cơ hội này, thì sẽ có thêm nhiều
nguồn vốn ưu đãi để đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, trên cơ sở tôn trọng lợi ích đối tác,
đồng thời giữ vững độc lập, chủ quyền đất nước.
Bên cạnh những tác động tích cực, nợ công cũng gây ra những tác động tiêu cực:
Nợ công gia tăng sẽ gây áp lực lên chính sách tiền tệ, đặc biệt là từ các khoản tài trợ
ngoài nước. Nếu kỷ luật tài chính của Nhà nước lỏng lẻo và thiếu cơ chế giám sát chặt
chẽ việc sử dụng và quản lý nợ công sẽ dẫn đến tình trạng tham nhũng, lãng phí tràn
lan. Tình trạng này làm thất thoát các nguồn lực, giảm hiệu quả đầu tư và điều quan
trọng hơn là giảm thu cho ngân sách. Nhận biết những tác động tích cực và tiêu cực
nhằm phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực là điều hết sức cần thiết trong xây
dựng và thực hiện pháp luật về quản lý nợ công.
Về bản chất, nợ công chính là các khoản vay để trang trải thâm hụt ngân sách.
Các khoản vay này sẽ phải hoàn trả gốc và lãi khi đến hạn, nhà nước sẽ phải thu thuế
tăng lên để bù đắp. Vì vậy, suy cho cùng, nợ công chỉ là sự lựa chọn thời gian đánh
thuế: hôm nay hay ngày mai, thế hệ này hay thế hệ khác. Vay nợ thực chất là cách đánh
thuế dần dần, được hầu hết chính phủ các nước sử dụng để tài trợ cho các hoạt động
chi ngân sách. Tỷ lệ nợ công/GDP chỉ phản ảnh một phần nào đó về mức độ an toàn


bờ vực phá sản. Ngược lại, nếu yên tâm với tỷ lệ nợ công còn trong giới hạn an toàn


15

mà không phân tích cẩn trọng, chú ý đúng mức đến khoản nợ đó được hình thành như
thế nào, bằng cách nào, thực trạng nền kinh tế ra sao và khả năng trả nợ thế nào., cũng
dễ đẩy nền kinh tế rơi vào vòng xoáy thâm hụt ngân sách, tác động tiêu cực đến tăng
trưởng.
1.2. Cơ sở lý thuyết về tăng trưởng kinh tế
1.2.1. Khái niệm tăng trưởng kinh tế
Ngày nay để đánh giá sự tiến bộ trong một giai đoạn nào đó của một quốc gia
thường dựa trên hai mặt: sự gia tăng về mặt kinh tế và sự biến đổi về mặt xã hội, người
ta thường dùng hai thuật ngữ tăng trưởng và phát triển để phản ánh sự tiến bộ này.
Tăng trưởng kinh tế thường được quan niệm là sự tăng thêm về quy mô, sản
lượng của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định, đó là kết quả của tất cả mọi hoạt
động sản xuất và dịch vụ của nền kinh tế tạo ra. Do vậy để biểu thị sự tăng trưởng kinh
tế người ta dùng mức tăng lên tổng sản lượng nền kinh tế (tính toàn bộ hay tính bình
quân đầu người) của thời kỳ sau so với thời kỳ trước. Tăng trưởng kinh tế được thể
hiện trên hai mặt: mức tăng tuyệt đối hay mức tăng % hàng năm hoặc bình quân trong
một giai đoạn.
Sự tăng trưởng được so sánh theo thời điểm liên tục trong một giai đoạn nhất
định sẽ cho ta tốc độ tăng trưởng.
1.2.2. Các chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng của nền kinh tế được biểu hiện ở sự tăng thêm sản lượng hàng năm
do nền kinh tế tạo ra. Do đó thước đo giá trị của sự tăng trưởng thường là các đại lượng
sau: tổng giá trị sản xuất (GO), tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tổng sản phẩm quốc
dân (GNI), sản phẩm quốc dân thuần tuý (NNP), thu nhập quốc dân sản xuất (NI), thu
nhập quốc dân sử dụng (NDI), thu nhập bình quân đầu người (GDP/người).
Trong các chỉ tiêu này thì GDP là chỉ tiêu được sử dụng nhiều nhất. Để đánh giá

người đều mong muốn nền kinh tế tăng trưởng do đó đất nước ta đã sử dụng kế hoạch
tăng trưởng để đề ra mục tiêu và giải pháp thực hiện tăng trưởng.
1.3. Mối quan hệ giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế
1.3.1. Nợ công lớn làm giảm tích lũy vốn tư nhân dẫn đến hiện tượng thoái lui đầu
tư tư nhân
Khi chính phủ tăng vay nợ, đặc biệt là vay trong nước, lúc này mức tích lũy vốn
tư nhân sẽ được thay thế bởi tích lũy nợ chính phủ. Thay vì sở hữu cổ phiếu, trái phiếu
doanh nghiệp hay gửi tiết kiệm ngân hàng, dân chúng lại sở hữu trái phiếu chính phủ


17

làm cho cung về vốn giảm trong khi cầu tín dụng của chính phủ lại tăng lên, từ đó đẩy
lãi suất tăng, chi phí đầu tư tăng và có thể dẫn đến hiện tượng “thoái lui đầu tư” khu
vực tư nhân
1.3.2. Nợ công làm giảm tiết kiêm quốc gia
Thu nhập quốc gia (Y) được xác định tương đương với tổng sản lượng quốc dân
(GDP) Theo công thức: Y = C + S + T = C + I + G + NX = GDP (1)
Trong đó: Y: Thu nhập quốc gia; C: Tiêu dùng tư nhân; S: tiết kiệm tư nhân; T:
thuế trừ đi các khoản thanh toán; I: Đầu tư nội địa, G: Chi tiêu của chính phủ, NX:
Xuất khẩu ròng.
Như vậy: S + (T-G) = I + NX (2) Hay: T- G = I + NX - S (3)
Phương trình (3) chỉ ra rằng, khi ngân sách nhà nước thâm hụt (T-G
cả gốc và lãi bằng ngoại tệ sẽ đẩy cầu ngoại tệ tăng lên, đồng nội tệ giảm giá làm tăng
chi phí đầu vào khi nhập khẩu nguyên liệu, máy móc, thiết bị... dẫn tới nguy cơ lạm
phát. Tỷ giá tăng làm chi phí thanh toán nợ trở nên đắt đỏ hơn, nếu vượt quá sức chịu
đựng của ngân sách sẽ dẫn đến nguy cơ vỡ nợ.
1.3.4. Nợ công làm méo mó các hoạt động kinh tế, gây tổn thất phúc lợi xã hội
Nếu vay nước ngoài, nguồn để trả nợ cả gốc và lãi chỉ có thể lấy từ các khoản thu
thuế. Ngựời dân phải chịu một khoản thuế cao hơn trong tương lai để trả lãi cho các
đối tượng ngoài quốc gia sẽ làm giảm thu nhập, giảm tiêu dùng... từ đó giảm chất
lượng cuộc sống.
Vay trong nước có thể được coi là ít tác động hơn bởi lý do chính phủ nợ chính
công dân nước mình và cũng chính họ là người được hưởng thụ các lợi ích do các
khoản chi tiêu công tạo ra. Tuy nhiên, ngay cả khi một người bị đánh thuế để trả lãi cho


19

chính họ do đang sở hữu trái phiếu chính phủ thì vẫn có những tác động khiến cho các
hoạt động kinh tế của người đó bị bóp méo. Dù cho Chính phủ dùng loại thuế nào (thuế
thu nhập, thuế tiêu dùng, thuế tài sản.), đánh thuế dưới hình thức nào (trực tiếp, gián
tiếp) cũng sẽ dẫn đến những sai lệch trong các hoạt động kinh tế của một cá nhân như
thay đổi hành vi tiết kiệm, tiêu dùng, từ đó ảnh hưởng đến các hoạt động kinh tế vi mô,
vĩ mô khác như: sản xuất, việc làm... Bên cạnh đó, việc tăng thuế để trả lãi vô hình
chung đã tạo ra sự phân phối lại thu nhập giữa những ngựời nộp thuế và ngựời sở hữu
trái phiếu chính phủ, theo đó người nộp thuế chắc chắn phải gánh chịu sự suy giảm về
thu nhập, tiêu dùng hoặc tiết kiệm.
1.3.5. Những tác động khác
Bên cạnh những tác động về mặt kinh tế, một quốc gia với khoản nợ công lớn có
thể phải đối mặt với những hệ quả khác do nó gây ra như: Làm thay đổi quy trình quản
lý Nhà nước do phải thay đổi chính sách tài chính quốc gia để trang trải các khoản nợ;
làm tổn hại đến hệ số tín nhiệm quốc gia; nguy cơ suy giảm chủ quyền, giảm sự độc

định kỳ hàng năm về hệ thống chính trị, thể chế, những thay đổi về tỉ giá cũng như hệ
thống tiền tệ, và các điều kiện lịch sử khác. Kết quả chỉ ra rằng ngưỡng nợ nguy hiểm
là 90% GDP, khi các quốc gia có mức nợ công vượt quá con số này, tăng trưởng kinh
tế sẽ bắt đầu suy giảm. Tuy nhiên, các tác giả lại không cho rằng có một mối quan hệ
chắc chắn giữa việc nợ công cao có thể dẫn đến lạm phát đối với các nền kinh tế tiến
bộ. Còn đối với các nền kinh tế mới nổi, lạm phát thường leo thang mạnh khi nợ công
gia tăng.
Reinhart và Rogoff cũng phân tích thêm dựa trên những số liệu kể từ sau khủng
hoảng về nợ nước ngoài, bao gồm cả nợ công và nợ tư. Do các nền kinh tế tiến bộ
thường không phụ thuộc nhiều vào các khoản vay nước ngoài, nên nghiên cứu này chỉ
tập trung vào các nền kinh tế mới nổi. Kết quả chỉ ra rằng, khi dư nợ nước ngoài chạm
mức 60% GDP, tăng trưởng kinh tế sẽ bắt đầu suy giảm 2%, và nếu như vượt quá 90%
GDP, mức tăng trưởng sẽ giảm một nửa.
Một nghiên cứu khác của Caner, Grennes và Koehler-Geib (2011) tiếp tục đi sâu
phân tích thêm về ngưỡng nợ nguy hiểm. Nghiên cứu này sử dụng số liệu nhiều hơn so


21

với nghiên cứu của Reinhart và Rogoff, bao gồm các số liệu về nợ công, tăng trưởng,
độ mở của nền kinh tế, lạm phát và GDP trong thời kỳ trước của 101 quốc gia (75 đang
phát triển và 26 đã phát triển) trong giai đoạn 1980-2008, đồng thời sử dụng mô hình
kinh tế lượng. Kết quả cho thấy ngưỡng nợ nguy hiểm trung bình cho tất cả các quốc
gia đã được lấy số liệu là 77% GDP, vượt qua ngưỡng này tăng trưởng kinh tế bắt đầu
suy giảm. Bên cạnh đó, áp dụng tương tự mô hình cho nhóm các quốc gia đang phát
triển thì con số này là 64% GDP.

PHẦN 2: THỰC TRẠNG VỀ NỢ CÔNG VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở
VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2006-2013


25% thu ngân sách nhà nước và nằm trong giới hạn an toàn theo thông lệ quốc tế.
Một khó khăn được Chính phủ nhìn nhận là dư nợ công tăng nhanh qua các năm.
So với năm liền trước thì dư nợ công năm 2011 tăng 24,8%, năm 2012 tăng 17%, và
năm 2013 tăng 17,4%.
Hiện nay, vốn vay chủ yếu là để bổ sung cho đầu tư phát triển kinh tế - xã hội của
đất nước ngày càng gia tăng, chiếm khoảng 30% tổng số vốn đầu tư toàn xã hội, song
hiệu quả đầu tư chưa cao (ICOR năm 2013 ở mức 5,62), Bộ Tài chính phân tích.
Con số cụ thể là quỹ tích luỹ trả nợ phải ứng ra trả thay cho các dự án có xu
hướng tăng lên trong các năm gần đây, năm 2010 là 1.676 tỷ đồng; năm 2011 là 2.437
tỷ đồng; năm 2012 là 2.588 tỷ đồng và năm 2013 là 3.072 tỷ đồng.
Ngoài ra, hiện nay Việt Nam đã bước vào nhóm nước có thu nhập trung bình
thấp, nên huy động vốn vay ODA đang có xu hướng giảm dần với thời hạn ngắn hơn,
lãi suất cho vay tăng lên dẫn đến nghĩa vụ trả nợ công, nợ Chính phủ có xu hướng gia
tăng.
Các điều khoản ưu đãi của ODA đă giúp Việt Nam giảm bớt được áp lực nợ công;
tuy nhiên, các khoản vay ưu đãi lại thường đi kèm với các điều khoản có liên quan đến
những ràng buộc về chính trị và kinh tế khác. Nợ càng nhiều, ràng buộc về kinh tế,


24

chính trị cũng lớn hơn. Khủng hoảng nợ Argentina (2001) và sự bất ốn của Hy Lạp
hiện nay là minh chứng điển hình cho tác động tiêu cực của nguồn nợ công từ nước
ngoài.
Nợ chính quyền địa phương chủ yếu là vay nợ đế đầu tư xây dựng cơ bản theo
Luật Ngân sách nhà nước 2002. Mức dư nợ phát hành trái phiếu của chính quyền địa
phương hiện nay vẫn ở mức thấp, hiện khoảng 0,6% GDP. Mức dư nợ của chính quyền
địa phương hiện nằm trong giới hạn quy định của Luật Ngân sách nhà nước, không quá
30% tống chi đầu tư xây dựng cơ bản trong nước của các địa phương.
2.1.2. Quy mô nợ công 2006 đến năm 2013

đã vượt quá 50% GDP. Theo phân tích của IMF (2010), Việt Nam vẫn ở mức rủi ro
thấp của nợ nước ngoài nhưng cần lưu ý rằng khoản nợ này chưa tính đến nợ của các
doanh nghiệp nhà nước không được chính phủ bảo lãnh. Hơn nữa, vấn đề ở đây không
chỉ là tỷ lệ nợ so với GDP mà cả quy mô và tốc độ của nợ nước ngoài và nợ công của
Việt Nam gần đây đều có xu hướng tăng mạnh. Nếu năm 2001, nợ công đầu người là
144 USD thì đến năm 2010 lên tới 600 USD, tốc độ tăng bình quân hàng năm khoảng
18%. Nợ công tăng nhanh trong khi thâm hụt ngân sách lớn và hiệu quả đầu tư công
thấp đặt ra những lo ngại về tính bền vững của nợ cả trong ngắn hạn và dài hạn. Điều
này cũng đặt ra yêu cầu cấp thiết của việc cần tăng cường quản lý và giám sát nợ công

-

một cách chẽ và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay ở Việt Nam.
Năm 2011, tỷ lệ nợ công Việt Nam là 54.9% GDP, trong khi đó, tỷ lệ này ở một số


Trích đoạn Các biện pháp nâng cao chất lượng quản lý nợ công Cân có cái nhìn đánh giá chính xác kịp thời về tính hình nợ công
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status