ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐỖ HOÀNG LONG
Quản lý, điều hành hợp tác xã cơ sở pháp lý
và thực tiễn áp dụng
luËn v¨n th¹c sÜ kinh tÕ
Hµ néi - 2005
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐỖ HOÀNG LONG
Quản lý, điều hành hợp tác xã cơ sở pháp lý
và thực tiễn áp dụng
Mã số
: 6.01.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: TS. Vũ Quang
Hµ néi - 2005
Cổ phần
UBND
Ủy ban nh©n d©n
HTX theo mô hình 1
Hợp tác xã thành lập một bộ máy vừa
quản lý vừa điều hành
HTX theo mô hình 2
Hợp tác xã thành lập riêng bộ máy quản
lý và bộ máy điều hành
3
MỤC LỤC
Trang
6
LỜI MỞ ĐẦU
Chƣơng 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỢP TÁC XÃ VÀ QUẢN LÝ,
ĐIỀU HÀNH HỢP TÁC XÃ
12
2.1 PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ QUẢN LÝ, ĐIỀU HÀNH HỢP TÁC XÃ
29
33
2.1.1 Qui định về quản lý, điều hành theo Luật Hợp tác xã năm
33
2003
2.1.2 Những điểm mới trong Luật Hợp tác xã năm 2003 về
33
35
quản lý, điều hành
2.1.3 Phân biệt quản lý, điều hành trong nội bộ hợp tác xã
với quản lý, điều hành trong các loại hình doanh nghiệp khác
45
2.2 THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ, ĐIỀU HÀNH HỢP
47
TÁC XÃ
2.2.1 Tình hình chuyển đổi phƣơng thức quản lý, điều hành
hợp tác xã kiểu cũ sang kiểu mới
47
78
5
LỜI MỞ ĐẦU
1.TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Trong giai đoạn phát triển kinh tế của nƣớc ta hiện nay, yêu cầu về phát
triển nguồn nội lực một cách đồng đều, toàn diện và hiệu quả đặt ra một bài toán
cho các nhà hoạch định chính sách là phải tạo ra đƣợc một cơ chế đồng bộ, thông
thoáng cho các thành phần kinh tế, cởi bỏ mọi vƣớng mắc nhằm giải phóng mọi
năng lực sản xuất và phát huy tốt nhất các nguồn lực của xã hội.
Hợp tác xã là một thành phần kinh tế tồn tại rất lâu, gắn liền với công cuộc
đấu tranh giải phóng đất nƣớc của nhân dân ta. Trong những giai đoạn khác
nhau, HTX đóng vai trò lịch sử nhất định. Tuy nhiên, trƣớc công cuộc đổi mới
một cách toàn diện, sâu sắc của đất nƣớc ta vào những năm đầu của thập kỷ 90,
đã nảy sinh những vấn đề mới bức xúc và buộc chúng ta phải xem xét lại sự tồn
tại của HTX, hiệu quả kinh tế mà HTX mang lại, cơ chế hoạt động trong giai
đoạn hiện nay, sở hữu trong HTX, đặc biệt là vấn đề quản lý và điều hành HTX.
Nhìn nhận một cách khái quát tình hình tồn tại và phát triển của loại hình
hợp tác xã trong khoảng 20 năm gần đây, ta thấy có những thăng trầm rõ rệt.
Sau khi đất nƣớc giải phóng, bƣớc vào giai đoạn khôi phục kinh tế, mô hình hợp
tác xã đã phát triển mạnh mẽ mà cao điểm là năm 1987 nƣớc ta có khoảng
33.000 hợp tác xã với hàng triệu lao động. Đến năm 1990 giảm xuống còn
13.000 hợp tác xã với 450.000 lao động và năm 1991 giảm xuống còn 6.900 hợp
tác xã với 337.000 lao động [14,tr.5]. Đây là một sự sụt giảm đáng báo động cho
thấy mô hình hợp tác xã kiểu cũ có nguy cơ tan rã.
Trƣớc tình hình đó, Đảng và Nhà nƣớc ta nhận thấy sự cần thiết phải vực
dậy thành phần kinh tế tập thể. Vì vậy, năm 1996, Quốc hội nƣớc Cộng hoà xã
đề này dƣới góc độ kinh tế và pháp luật, nhƣ:
- Khảo sát các hình thức tổ chức hợp tác xã của công dân nƣớc ta hiện nay
(Đào Thế Tuấn - chủ biên - NXB Chính trị Quốc gia - Hà Nội 1995).
7
- Hợp tác xã và thời vàng son của kinh tế gia đình (Trần Đức - NXB Tƣ
tƣởng văn hoá - Hà Nội, 1991).
- Chống quan liêu bao cấp trong hợp tác xã và tập đoàn sản xuất (Vũ
Trọng Khái, Nguyễn Thế Văn - NXB thành phố Hồ Chí Minh - 1987).
- Hoàn thiện khoán sản phẩm thực hiện hạch toán kinh doanh Xã hội chủ
nghĩa trong hợp tác xã nông nghiệp (Hữu Thọ - NXB Sự thật - Hà Nội, 1989)…
Trong giai đoạn trên, việc nghiên cứu dƣới góc độ pháp lý chƣa đƣợc quan
tâm tới, mà chủ yếu chỉ ở góc độ kinh tế - xã hội.
Bƣớc sang cơ chế thị trƣờng, Nhà nƣớc quản lý xã hội dƣới góc độ vĩ mô
và cùng với việc ra đời Luật hợp tác xã năm 1996, đã có một số đề tài khoa học
nghiên cứu về hợp tác xã theo quan điểm mới nhƣ:
- Luận cứ khoa học về đổi mới tổ chức, hoạt động và quản lý HTX trong
nền kinh tế thị trƣờng ở nƣớc ta - Hà Nội, 1995 (Đề tài KX.D3.15 do Giáo sƣ,
tiến sĩ Nguyễn Quang Quýnh chủ nhiệm đề tài);
- Phát triển và đổi mới quản lý HTX theo Luật HTX - Hà Nội, 1997 (Phó
giáo sƣ, tiến sĩ Nguyễn Văn Bích - Phó Viện trƣởng Viện nghiên cứu quản lý
kinh tế Trung ƣơng);
- Kinh tế hợp tác - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn - Hà Nội 1998 (Hội
đồng Trung ƣơng Liên minh các HTX Việt Nam).
- Kinh tế hợp tác trong nông nghiệp ở nƣớc ta hiện nay NXB Chính trị
Quốc gia, 2002 (Phó giáo sƣ, tiến sĩ Nguyễn Văn Kỷ chủ biên).
Việc nghiên cứu dƣới góc độ pháp lý chuyên ngành về HTX đã đƣợc quan
tâm đáng kể trong những năm gần đây thông qua các luận văn cao học, luận án
- So sánh hoạt động quản lý, điều hành HTX với một số loại hình doanh
nghiệp ở Việt Nam.
9
- Tìm hiểu cơ cấu tổ chức, nguyên tắc hoạt động của các cơ quan quản lý,
điều hành HTX theo Luật HTX năm 2003; đối chiếu vào thực tiễn để làm rõ tính
hợp lý của các chế định này.
- Nghiên cứu lý luận và thực tiễn trong công tác quản lý, điều hành HTX
theo Luật HTX năm 2003, để từ đó đánh giá đƣợc những ƣu, nhƣợc điểm của
các quy định pháp luật hiện hành về quản lý, điều hành HTX.
- Đánh giá một số tồn tại của hoạt động quản lý, điều hành HTX, để từ đó
kiến nghị phƣơng hƣớng hoàn thiện những quy định pháp luật về quản lý, điều
hành hợp tác xã.
4. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Cơ sở lý luận của luận văn là quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tƣ
tƣởng Hồ Chí Minh, đƣờng lối chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nƣớc
về tổ chức và quản lý, điều hành HTX, các phƣơng pháp lôgic học, triết học, sử
học, kinh tế học…
Cơ sở lý luận về các vấn đề liên quan tới các khía cạnh quản lý, điều hành
HTX đã đƣợc nghiên cứu và công bố sẽ đƣợc sử dụng làm tài liệu cho việc
nghiên cứu đề tài, đó là các khái niệm, các nguyên tắc, số liệu, các kết luận, tổng
hợp đã đƣợc công bố trong các công trình khoa học có liên quan.
Trong luận văn này, tác giả sử dụng phƣơng pháp nghiên cứu là phép duy
vật biện chứng và duy vật lịch sử kết hợp với lý luận về hình thái kinh tế - xã
hội.
Bên cạnh đó, luận văn còn sử dụng phƣơng pháp phân tích tổng hợp,
thống kê, điều tra chuyên ngành để có đƣợc các con số cụ thể sinh động.
11
Chƣơng 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỢP TÁC XÃ VÀ QUẢN LÝ,
ĐIỀU HÀNH HỢP TÁC XÃ
1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HỢP TÁC XÃ
1.1.1 Khái niệm và các đặc trƣng của hợp tác xã
Khái niệm hợp tác xã
Ngay trong buổi bình minh của lịch sử loài ngƣời, con ngƣời đã biết hợp
tác với nhau để cùng tồn tại, cùng lao động và cùng phát triển. Vì thế, có thể nói
hợp tác là một thuộc tính cơ bản của xã hội con ngƣời, hợp tác giúp con ngƣời
chế ngự thiên nhiên, tồn tại và phát triển mạnh mẽ.
Hợp tác là sự kết hợp các yếu tố tinh thần và thể chất tạo ra một sức mạnh,
một ý chí tập thể. Đó là sự kết hợp sức lực, trí tuệ của các cá nhân đơn lẻ lại, của
các đơn vị nhỏ thành các lực lƣợng lớn hơn nhằm thực hiện một công việc mà
mỗi cá nhân, mỗi đơn vị sẽ gặp khó khăn, thậm chí không thể thực hiện đƣợc
nếu thiếu sự hợp tác.
Hợp tác có tính tất yếu khách quan trong đời sống xã hội cũng nhƣ trong
quá trình lao động, sáng tạo của con ngƣời, nó là yếu tố thúc đẩy kinh tế phát
triển. Hợp tác bắt nguồn từ tính chất xã hội, do vậy xã hội càng phát triển thì các
quá trình hợp tác càng chặt chẽ về tính chất, lớn mạnh về quy mô.
Có nhiều loại hợp tác trong các lĩnh vực của đời sống xã hội nhƣ: hợp tác
kinh tế, hợp tác chính trị, hợp tác quân sự, hợp tác lao động, hợp tác trong và
ngoài nƣớc, hợp tác ngẫu nhiên, hợp tác thƣờng xuyên, ổn định, hợp tác nhất
thời… Trong các loại hợp tác này thì hợp tác kinh tế có vai trò vô cùng quan
12
Theo tinh thần các định nghĩa trên thì HTX là một tổ chức đƣợc điều
chỉnh và quản lý theo Luật HTX và dựa trên nền tảng vững chắc của sự tự
nguyện, liên kết, hợp tác, bình đẳng. Căn cứ vào các cách định nghĩa về HTX
trên thì Luật HTX của một số nƣớc đã cụ thể hoá rất rõ nét đƣợc tính chất, đặc
điểm, các nguyên tắc của HTX, theo tinh thần chung của quốc tế và lấy đó làm
nền tảng để xây dựng các phần tiếp theo của Luật HTX.
Theo luật HTX của một số nƣớc nhƣ Canađa, Anh, Cộng hoà Liên bang
Đức, Philipin, Inđônêxia… đều quan niệm HTX là một tổ chức kinh tế do những
cá nhân, tập thể tự nguyện liên kết lại với nhau vì mục đích chung nhằm hỗ trợ,
giúp đỡ lẫn nhau tiến hành công việc sản xuất, kinh doanh nhằm đạt hiệu quả cao
nhất dựa trên một nguyên tắc cao nhất là bình đẳng về vai trò của các xã viên.
Khái niệm HTX ở nƣớc ta cũng đƣợc định nghĩa theo rất nhiều cách khác
nhau tuỳ thuộc vào thời kỳ, tính chất ngành nghề… trong thời kỳ kế hoạch hoá,
vai trò của HTX đƣợc nhìn nhận dƣới góc độ xã hội, còn vai trò kinh tế rất mờ
nhạt, vì vậy đã không phát huy đƣợc sức mạnh của kinh tế tập thể mà trái lại đã
trở thành rào cản đối với kinh tế hộ gia đình, kinh tế tƣ nhân.
Nhận thức đầy đủ về cả chức năng kinh tế lẫn chức năng xã hội của HTX
trong nền kinh tế thị trƣờng, tại Điều 20 Hiến pháp năm 1992 đã ghi nhận về tổ
chức kinh tế tập thể nhƣ sau: “Kinh tế tập thể do công dân góp vốn, góp sức hợp
tác sản xuất kinh doanh đưọc tổ chức dưới nhiều hình thức trên nguyên tắc tự
nguyện, dân chủ và cùng có lợi. Nhà nước tạo điều kiện để củng cố và mở rộng
các hợp tác xã hoạt động có hiệu quả”.
Tại Điều 1 Luật HTX ngày 26/11/2003 định nghĩa HTX nhƣ sau:
“Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể do các cá nhân, hộ gia đình, pháp
nhân (sau đây gọi chung là xã viên) có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện góp
vốn, góp sức lập ra theo quy định của Luật này để phát huy sức mạnh tập thể
của từng xã viên tham gia hợp tác xã, cùng giúp nhau thực hiện có hiệu quả các
15
mới chủ yếu giữ vai trò hỗ trợ, dịch vụ cho các họ xã viên. Hình thức hợp tác
mới với chức năng làm làm dịch vụ cho các hộ xã viên trước và sau sản xuất chú
ý đến cả đầu ra và đầu vào của quá trình sản xuất” [5,tr.138]
- Thứ hai, Hợp tác xã là một tổ chức kinh tế có tƣ cách pháp nhân. Đây là
một đặc trƣng pháp lý nhằm phân biệt HTX với các tổ chức kinh tế khác không
có tƣ cách pháp nhân. Theo các quy định hiện hành, một tổ chức muốn đƣợc
công nhận là pháp nhân phải thoả mãn đầy đủ cả 4 điều kiện đƣợc quy định tại
Điều 94 Bộ luật dân sự, gồm: Đƣợc thành lập hợp pháp; Có cơ cấu tổ chức chặt
chẽ; Có tài sản độc lập với các cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm
bằng tài sản đó; Nhân danh mình tham gia vào các quan hệ pháp luật một cách
độc lập. Tất cả những điều kiện này, HTX đều đáp ứng đầy đủ: (1) Hợp tác xã
đƣợc thành lập trên cơ sở đã có văn bản báo cáo với Uỷ ban nhân dân cấp xã,
đƣợc đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật tại các Phòng đăng ký
kinh doanh cấp tỉnh hoặc cấp huyện. Điều này cho thấy, sự thành lập và tồn tại
của HTX là hợp pháp; (2) Hợp tác xã có cơ cấu tổ chức chặt chẽ thể hiện ở việc
trong các HTX có thành lập các bộ phận quản lý, điều hành HTX, có cơ cấu các
xã viên và mỗi bộ phận cấu thành nên hợp tác xã đều đƣợc quy định những
quyền hạn, nghĩa vụ xác định, tất cả các bộ phận cấu thành nên HTX ấy đều
đƣợc gắn kết chặt chẽ với nhau trên cơ sở Điều lệ của hợp tác xã và các quy định
pháp luật về tổ chức quản lý hợp tác xã; (3) Hợp tác xã có tài sản đƣợc hình
thành do việc góp vốn của các xã viên. Khối tài sản này là khối tài sản riêng của
hợp tác xã, thuộc quyền sở hữu của hợp tác xã và nó tách biệt với các khối tài
sản thuộc quyền sở hữu của các cá nhân, tổ chức khác. Trong quá trình hoạt
động, nếu phải chịu trách nhiệm bằng tài sản thì hợp tác xã chỉ có trách nhiệm
trong phạm vi khối tài sản hiện có. Nếu toàn bộ những tài sản hiện có tại thời
điểm phát sinh nghĩa vụ trả nợ không đủ trả nợ thì các xã viên không phải chịu
chủ; (3) Xã viên tham gia vào hoạt động kinh tế của hợp tác xã; (4) Độc lập và tự
chủ; (5) Giáo dục và đào tạo thông tin; (6) Hợp tác giữa các HTX; (7) Quan tâm
đến cộng đồng [25, tr.24-25].
17
Thực tế thì sáu nguyên tắc đã đƣợc ghi nhận và thực hiện từ năm 1966, còn
nguyên tắc thứ bảy đƣợc ICA bổ sung vào năm 1995 với mục đích nâng cao tính
phát triển bền vững của toàn thể cộng đồng. Các nƣớc trên thế giới cũng lấy các
nguyên tắc trên làm cơ sở xây dựng pháp luật trong nƣớc, đƣa nó thành các
nguyên tắc của HTX trong nƣớc. Thuỵ Điển và Canađa cũng ghi nhận 6 nguyên
tắc đầu của ICA làm nguyên tắc của Luật HTX quốc gia mình. Tuỳ theo đặc thù
kinh tế trong nƣớc mà các quốc gia sẽ áp dụng một cách linh hoạt các nguyên tắc
này cho phù hợp với tình hình thực tế.
Luật HTX Việt Nam cũng ghi nhận và thể chế hoá các nguyên tắc này.
Điều 5 Luật HTX năm 2003 ghi nhận 4 nguyên tắc tổ chức và hoạt động của
HTX: Tự nguyện gia nhập và ra khỏi hợp tác xã; Dân chủ, bình đẳng và công
khai; Tự chủ, tự chịu trách nhiệm và cùng có lợi; Hợp tác và phát triển cộng
đồng.
So với các nguyên tắc đƣợc quy định trong Luật HTX năm 1996, Luật HTX
năm 2003 giảm đi một nguyên tắc là: đảm bảo kết hợp lợi ích của xã viên và sự
phát triển của HTX. Đó là về hình thức, còn về bản chất thì nguyên tắc này đã
đƣợc lồng ghép trong nguyên tắc: tự chủ, tự nguyện và cùng có lợi, nó thể hiện
trong nội hàm của nguyên tắc này là: "… Sau khi thực hiện xong nghĩa vụ nộp
thuế và trang trải các khoản lỗ của HTX, lãi được trích một phần vào các quỹ
HTX, một phần chia theo vốn góp và công sức đóng góp của xã viên, phần còn
lại chia cho xã viên theo mức độ sử dụng dịch vụ của HTX."(khoản 3 Điều 5
Luật HTX năm 2003).
Có thể khẳng định rằng các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của HTX ở
Nguyên tắc hợp tác và phát triển cộng đồng. Đây là nguyên tắc mà tính
cộng đồng đƣợc đề cao, tính tập thể đƣợc nhân lên. Nguyên tắc này chú trọng tới
công tác xây dựng tập thể, hợp tác giữa các xã viên trong HTX và với cộng đồng
xã hội, trong nƣớc và ngoài nƣớc.
19
Nhƣ vậy, các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của HTX là sự đúc kết kinh
nghiệm, tri thức tổ chức quản lý kinh tế tập thể, là sự kế thừa tinh thần HTX
trong nƣớc và quốc tế. Đây là cơ sở pháp lý để HTX tồn tại, phát triển, hoà nhập
với các thành phần kinh tế khác, trong nƣớc và quốc tế.
Việc áp dụng các nguyên tắc này có vai trò rất quan trọng trong việc định
hƣớng tồn tại và phát triển kinh tế tập thể. Hiểu đúng và đầy đủ các nguyên tắc
này là yêu cầu tối thiểu đối với các nhà làm luật, những ngƣời hoạch định chính
sách và lãnh đạo. Nếu hiểu sai thì hậu quả sẽ khôn lƣờng. Lịch sử đã chứng minh
là sai sót trong cách hiểu về nguyên tắc tổ chức và hoạt động của HTX sẽ dẫn tới
hậu quả to lớn và lâu dài. Cụ thể là trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung ở nƣớc
ta, thực hiện nguyên tắc “tự nguyện gia nhập HTX" và nguyên tắc "bình đẳng"
thì chúng ta đã hiểu sai, khi đó đã có các chính sách khá cứng rắn nhƣ đƣa nông
dân vào HTX và đƣa cả tƣ liệu sản xuất (ruộng đất, trâu bò…) nhập vào khối tài
sản chung của HTX, sau đó cho xã viên hƣởng theo chế độ công điểm, lao động
theo kiểu bình quân. Đây là nguyên nhân dẫn tới sự khủng hoảng và tan rã của
HTX trong thập kỷ 80 ở nƣớc ta.
Vấn đề là việc áp dụng các nguyên tắc sao cho phù hợp với đặc điểm nền
kinh tế, bản chất quan hệ hợp tác, tình hình thực tiễn áp dụng thi hành pháp Luật
HTX ở trong nƣớc. Cũng cần quan tâm tới sứ mệnh lịch sử của mô hình kinh tế
này trong từng thời kỳ, ví dụ: trong thời kỳ kháng chiến, khi đó tất cả tập trung
cho tiền tuyến thì có thể áp dụng các nguyên tắc tổ chức hoạt động theo kiểu thời
chiến, còn khi hoà bình trở lại, cần khuyến khích phát triển kinh tế của các xã
Chế độ phong kiến sang Chủ nghĩa Tƣ bản đã kéo theo sự thay đổi từ nền kinh tế
phong kiến mà đặc trƣng của nó là kinh tế hàng hoá giản đơn, sang nền kinh tế
thị trƣờng. Trong giai đoạn này diễn ra quá trình tích tụ tƣ bản nguyên thuỷ, phát
triển thƣơng nghiệp mà đặc biệt là ngoại thƣơng đã tạo ra đƣợc thế và lực cho
giai cấp tƣ sản. Không chỉ thống lĩnh thƣơng nghiệp, mà giai cấp tƣ sản còn làm
21
chủ trong các ngành công nghiệp và nông nghiệp, điều này dẫn tới việc giai cấp
tƣ sản tƣớc đoạt đất đai, gia nhập vào thị trƣờng lao động. Nƣớc Anh trong quá
trình tích tụ tƣ bản đã đẩy mạnh hoạt động buôn bán quốc tế, đa dạng hàng hoá
(kể cả nô lệ), cƣớp bóc thuộc địa, thực hiện chế độ kinh doanh ruộng đất theo
kiểu tƣ bản chủ nghĩa. Khi trở thành cƣờng quốc công nghiệp, nƣớc Anh là nơi
diễn ra một cách tập trung nhất, điển hình nhất quá trình hình thành và phát triển
nền kinh tế thị trƣờng. Đó là quá trình đào thải kinh tế ghê gớm, cá lớn nuốt cá
bé, của cải đƣợc tập trung, tích tụ vào trong một số ngƣời, những ngƣời sản xuất
nhỏ bé không có cơ hội tồn tại và phát triển, ngƣời lao động bị bóc lột và phải
làm thuê cho giai cấp tƣ sản, nông dân bị tƣớc đoạt ruộng đất và phải làm thuê
cho các địa chủ và bị bần cùng hoá một cách cùng cực. Từ đó hình thành thị
trƣờng sức lao động đông đảo, giúp cho sự phát triển của các doanh nghiệp tổ
chức theo kiểu kinh tế thị trƣờng. “Lịch sử ghi nhận rằng: nước nào diễn ra cách
mạng về ruộng đất sớm và triệt để thì ở đó kinh tế thị trường sẽ phát triển sớm
và mạnh mẽ” [9, tr.18].
Tuy nhiên, quá trình này đã thể hiện đƣợc những ƣu điểm rõ rệt, tạo ra bƣớc
ngoặt lịch sử trong việc hình thành nên các mô hình kinh tế, xã hội mới, nó tạo
ra một thị trƣờng vốn và thị trƣờng lao động rộng lớn, tạo ra một khả năng to lớn
để chủ nghĩa tƣ bản làm biến đổi bộ mặt xã hội, phát triển kinh tế với tốc độ cao.
Chính trong hoàn cảnh nhƣ thế đã tạo ra một yêu cầu là phải kết hợp các
nhà sản xuất nhỏ hay những ngƣời lao động lại với nhau để chống chọi lại với
- Quan hệ tổ chức, quản lý và hoạt động: trong mô hình HTH quan hệ giữa
các xã viên là bình đẳng, không phụ thuộc vào tài sản, công sức đóng góp, mỗi
xã viên đều có quyền biểu quyết ngang nhau, trong quan hệ chỉ huy, vai trò của
ngƣời đứng đầu và điều hành HTX là quan trọng và đƣợc tôn trọng, bên cạnh đó,
duy trì, hỗ trợ, phục vụ kinh tế hộ gia đình, không tiến hành sản xuất tập trung.
Mô hình TTH thì quan hệ giữa HTX và xã viên là quan hệ phụ thuộc, xã viên là
ngƣời lao động hƣởng thù lao trong HTX. Kinh tế hộ gia đình bị xoá bỏ để đƣa
23
vào sản xuất tập trung. Tập thể Ban quản trị lãnh đạo theo nguyên tắc: Tập thể
lãnh đạo, cá nhân ra quyết định, vai trò của cá nhân bị xem nhẹ, trách nhiệm
không rõ ràng.
- Quan hệ phân phối: Mô hình HTH tiến hành trả công theo lao động, theo
mức độ sử dụng dịch vụ của các xã viên và đƣợc hƣởng lợi nhuận theo vốn góp.
Mô hình TTH sử dụng chế công điểm: số điểm tính trong 1 ngày công lao động,
phân phối sản phẩm, lợi ích mang nặng tính bình quân chủ nghĩa, cào bằng.
- Mô hình HTH phát triển chủ yếu trong các ngành dịch vụ, thƣơng mại va
thƣờng gắn liền với nền kinh tế thị trƣờng tƣ bản chủ nghĩa, trong khi đó mô
hình TTH thƣờng gắn với các ngành sản xuất, còn các ngành dịch vụ và thƣơng
mại chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ bé.
- Quan hệ giữa Nhà nƣớc và HTX: Trong mô hình HTH, HTX là đơn vị
kinh tế độc lập, tự chủ trong kinh doanh, hạch toán độc lập, chịu trách nhiệm về
hoạt động của mình, Nhà nƣớc đóng vai trò định hƣớng và quản lý vĩ mô HTX
thông qua việc ban hành hệ thống pháp luật liên quan tới HTX và HTX không
phải gánh vác các chính sách phúc lợi xã hội. Mô hình TTH, HTX là đơn vị kinh
tế phụ thuộc, hoạt động dựa vào kế hoạch hoá nền sản xuất, HTX đƣợc tổ chức
phụ thuộc theo các cấp, hoạt động sản xuất theo kế hoạch do Nhà nƣớc giao,
Nhà nƣớc cung ứng cho HTX vật tƣ, thiết bị, vốn theo kế hoạch, sau đó HTX
1.2 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUẢN LÝ, ĐIỀU HÀNH HỢP TÁC XÃ
1.2.1 Khái niệm quản lý, điều hành hợp tác xã
Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động. Việc phát
hiện quản lý đƣợc coi nhƣ là kết quả tất yếu của sự chuyển nhiều quá trình lao
động cá biệt, tản mạn, độc lập với nhau thành một quá trình lao động đƣợc phối
hợp lại. C. Mác đã viết: “Bất cứ lao động xã hội hay lao động chung nào mà tiến
hành trên quy mô khá lớn đều yêu cầu phải có sự chỉ đạo, điều hoà những hoạt
động cá nhân... Một nhạc sỹ độc tấu thì tự điều khiển lấy mình nhưng một dàn
nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [18, tr.5]. Quản lý là một hoạt động khách
25