DANH MỤC NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT
-
HTX: Hợp tác xã
DN: Doanh nghiệp
BHXH: bảo hiểm xã hội
NXB: Nhà xuất bản
ICA: Liên minh Hợp tác xã quốc tế
2
MỤC LỤC
Trang
LỜI MỞ ĐẦU
4
CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA
XÃ VIÊN HTX
8
1.1. Khái niệm xã viên HTX. So sánh xã viên HTX với thành viên các loại
hình doanh nghiệp khác
1.1.1. Khái niệm xã viên HTX
1.1.2. So sánh xã viên HTX với thành viên các loại hình doanh nghiệp khác
8
8
2.2. Nghĩa vụ của xã viên HTX
2.3. Thực trạng thi hành pháp luật về quyền và nghĩa vụ của xã viên HTX
61
76
CHƢƠNG 3: PHƢƠNG HƢỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN VÀ
NGHĨA VỤ CỦA XÃ VIÊN HTX
80
26
3.1. Phương hướng chung nhằm hoàn thiện pháp luật về quyền và nghĩa vụ
của xã viên HTX
3.2. Những kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về quyền và nghĩa
vụ của xã viên HTX
80
85
91
KẾT LUẬN
94
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
3
4
- Luận cứ khoa học về đổi mới tổ chức, hoạt động và quản lí HTX trong
nền kinh tế thị trường ở nước ta - Hà nội 1995 (Đề tài KX.03.15 do Phó
Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Quang Quýnh chủ nhiệm đề tài);
- Phát triển và đổi mới quản lí HTX theo Luật HTX - Hà nội, 1997 (Phó
Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn Bích - Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu
quản lí kinh tế Trung ương);
- Kinh tế hợp tác - Một số vấn đề lí luận và thực tiễn - Hà nội - 1998 (Hội
đồng Trung ương Liên minh các HTX Việt Nam)...
Trong nghiên cứu chuyên ngành, những năm gần đây đã có một số luận
văn thạc sĩ luật học và một số ít luận án tiến sĩ luật học nghiên cứu về HTX từ
nhiều góc độ khác nhau, ví dụ:
Luận văn thạc sĩ luật học của Nguyễn Thị Ngọc Hà, 1997 “Chế độ pháp
lí xã viên hợp tác xã - Những vấn đề lí luận và thực tiễn”; Luận văn thạc sĩ
luật học của Phan Hùng Dũng, 1997 “So sánh Luật Hợp tác xã ở một số nước
trên thế giới”; Luận văn thạc sĩ luật học của Hoàng Thị Vịnh, 1999 “Một số
vấn đề pháp lí cơ bản trong quá trình chuyển đổi hợp tác xã”; Luận văn thạc
sĩ luật học của Nguyễn Thị Thanh Lê, 2000 “Pháp luật về hợp tác xã - thực
trạng và phương hướng hoàn thiện”; Luận án tiến sĩ luật học của Trần Thị
Thơ, 2001 “Những vấn đề pháp lí về đổi mới tổ chức và quản lí các hợp tác
xã”.
Tình hình nghiên cứu trên cho thấy:
Cho đến nay, mặc dù đã có rất nhiều chuyên gia nghiên cứu về HTX từ
nhiều góc độ khác nhau, song còn rất ít chuyên gia nghiên cứu về quyền và
nghĩa vụ của xã viên HTX. Có thể nói rằng, các công trình nghiên cứu cũng
như các bài viết về vấn đề này vừa ít, vừa thiếu tính chuyên sâu.
Đặc biệt, cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách sâu
6. Điểm mới của luận văn
Những đóng góp mới của luận văn là:
Phân tích những nội dung mới của quyền và nghĩa vụ của xã viên HTX
theo Luật HTX 2003 và các văn bản dưới luật.
6
So sánh giữa quyền và nghĩa vụ của xã viên HTX với quyền và nghĩa vụ
của thành viên trong các loại hình doanh nghiệp khác; với quyền và nghĩa vụ
của xã viên HTX của một số nước.
Phát hiện những điểm còn bất cập trong các quy định của pháp luật về
quyền và nghĩa vụ của xã viên HTX và đề xuất phướng hướng hoàn thiện các
quy định pháp luật này.
7. Bố cục và nội dung cơ bản của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, tài liệu tham khảo, luận văn được
kết cấu thành 3 chương với nội dung cơ bản như sau:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về quyền và nghĩa vụ của xã viên HTX
Chương 2: Thực trạng pháp luật về quyền và nghĩa vụ của xã viên HTX
Chương 3: Phương hướng hoàn thiện pháp luật về quyền và nghĩa vụ của xã
viên HTX
7
CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ
CỦA XÃ VIÊN HỢP TÁC XÃ
1.1. Khái niệm xã viên HTX. So sánh xã viên HTX với thành viên của các
loại hình doanh nghiệp khác
gia của họ “không trực tiếp quản lý và điều hành HTX”. Giới hạn này đã được
cụ thể và chi tiết hoá trong Nghị định số 177/2004/NĐ-CP ngày 12/10/2004
của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật HTX, bao gồm
“không được giữ các chức danh: Trưởng Ban quản trị và thành viên Ban quản
trị; Trưởng Ban kiểm soát và thành viên Ban kiểm soát; Chủ nhiệm, Phó chủ
nhiệm HTX; kế toán trưởng hoặc kế toán viên và các cán bộ chuyên môn
nghiệp vụ của HTX”. Như vậy, cán bộ, công chức chỉ có thể tham gia HTX
như một xã viên bình thường bằng cách “góp vốn theo quy định của Điều lệ
HTX; góp sức dưới hình thức trực tiếp tham gia lao động sản xuất, tư vấn
cung cấp kiến thức, kinh doanh và khoa học kỹ thuật cho HTX” (điểm b,
khoản 2, Điều 10, Nghị định số 177). Ngoài ra, Nghị định số 177 cũng quy
định thêm một số giới hạn đối với đối tượng là cán bộ, công chức như: chỉ
được tham gia HTX khi có sự đồng ý bằng văn bản của thủ trưởng cơ quan
trực tiếp quản lý; các cán bộ, công chức đang làm việc trong các lĩnh vực
thuộc bí mật nhà nước, sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp trong các
đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân không được là xã viên HTX.
Một bước phát triển quan trọng khác của Luật HTX 2003 về phạm vi
đối tượng được tham gia HTX là “pháp nhân có thể trở thành xã viên theo quy
định của Điều lệ hợp tác xã”. Thực tiễn hoạt động kinh tế trong những năm
qua cho thấy tính đa dạng về chủ thể của các tổ chức kinh tế, trong đó có sự
tham gia của pháp nhân trong quá trình hoạt động của HTX. Cụ thể hoá thực
tiễn này, Luật HTX 2003 đã mở rộng đối tượng tham gia HTX bao gồm cả
pháp nhân. Quy định này thực tế tuy vượt quá quy định của Hiến pháp 2001 và
Bộ Luật Dân sự 2004 nhưng do chế độ sở hữu của HTX vừa dựa trên nền tảng
sở hữu tập thể là chủ yếu, vừa dựa trên cả sở hữu của các thành viên, nên việc
khuyến khích pháp nhân tham gia HTX là phù hợp và cần thiết. Theo Nghị
9
định số 177/2004/NĐ-CP, pháp nhân tham gia HTX là “các tổ chức, cơ quan
có vốn nhưng không nhiều, họ có sức lao động, mong muốn được làm việc và
tìm kiếm cơ hội nâng cao chất lượng cuộc sống về mọi mặt. Họ thấy rằng làm
ăn cá thể không hiệu quả bằng cùng hợp tác với nhau trong một tổ chức kinh tế
để phát huy sức mạnh tập thể. Chính vì mục đích này mà HTX luôn đề cao các
nguyên tắc tự nguyện, dân chủ và hợp tác trong tổ chức và hoạt động của
mình. Ngay từ ban đầu, khi mới xuất hiện ở Anh và Đức vào nửa cuối thế kỷ
19, HTX “do phần lớn những người có thu nhập thấp thành lập để cải thiện
cuộc sống và tăng sự tự tin” [3, tr.9]. Luật HTX của các nước cũng luôn nhấn
mạnh đến tính hợp tác, hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các thành viên. Luật HTX
của Indonexia định nghĩa HTX “là tổ chức kinh tế của nhân dân mang tính xã
hội… đặt trên cơ sở nguyên tắc của tình anh em”. Luật HTX của Singapore
quy định HTX là một hiệp hội nhằm mục đích thúc đẩy lợi ích của các thành
viên theo nguyên tắc hợp tác xã. Như vậy, đặc trưng của HTX là thông qua
hoạt động kinh tế để “liên kết các thành viên với nhau nhằm hỗ trợ, giúp đỡ
lẫn nhau tiến hành công việc kinh doanh có hiệu quả theo nguyên tắc hợp tác
xã” [3, tr.24].
Chính vì mục tiêu tham gia HTX để hợp tác, hỗ trợ nhau kinh doanh có
hiệu quả hơn mà HTX có khả năng thu hút được đông đảo các lực lượng lao
động trong xã hội tham gia. Sự phát triển của HTX còn có ý nghĩa to lớn đối
với cộng đồng. Đặc biệt, thông qua HTX, các chính phủ có thể giải quyết các
mục tiêu xã hội cho cộng đồng, như: công ăn việc làm, nhà ở, chữa bệnh, mua
bán hàng hoá... Và ngược lại, từ phía mình, HTX cũng góp phần giúp Chính
phủ giải quyết những vấn đề cụ thể, thiết yếu của xã hội.
c/ Các điều kiện để trở thành xã viên HTX:
Khoản 1 điều 17 Luật HTX 2003 quy định bảy điều kiện để một cá nhân
có thể trở thành xã viên HTX:
1) Công dân Việt Nam. Quy định này của Luật HTX Việt Nam cũng giống
với quy định của hầu hết các nước.
xin gia nhập HTX để Ban Quản trị xét kết nạp và báo cáo Đại hội xã
viên thông qua, đảm bảo việc gia nhập HTX hoàn toàn không có sự ép
buộc nào. Tự nguyện chính là nguyên tắc hàng đầu của HTX. Ngay từ
những ngày đầu hình thành và phát triển các tổ đổi công – hình thức sơ
12
khai của HTX, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ “Nguyên tắc tổ đổi
công: không được cưỡng ép ai hết… ai muốn vào thì vào, tuyệt đối
không được ép buộc ai…” [2, tr.35].
“Tự nguyện xin gia nhập hợp tác xã” là kết quả của việc “tán thành Điều
lệ hợp tác xã”. Chính vì thế mà hai điều kiện này luôn gắn liền nhau.
Nguyên nhân xuất phát từ các nguyên tắc tổ chức, hoạt động, phân chia
lợi nhuận… của HTX: lãi chia theo vốn góp thường hạn chế; xã viên
được hưởng lãi không chỉ theo vốn góp mà còn theo công sức đóng góp
và mức độ sử dụng dịch vụ của HTX; mỗi xã viên chỉ có một phiếu biểu
quyết, không phụ thuộc vào số vốn góp… Người muốn tham gia HTX
cần hiểu rõ các nguyên tắc trên để đảm bảo họ không nhầm lẫn rằng
tham gia HTX, họ cũng đạt được mục đích về lợi nhuận như tham gia
bất cứ loại hình doanh nghiệp nào khác. Chỉ khi nào hiểu rõ và tán thành
Điều lệ HTX thì sự tham gia của cá nhân vào HTX mới thực sự là tự
nguyện.
Điểm mới của Luật HTX 2003 là quy định về điều kiện tham gia HTX
của hộ gia đình và pháp nhân. Đó là: “hộ gia đình, pháp nhân phải cử người
đại diện” và người đại diện cũng phải “có đủ điều kiện như đối với cá nhân”
được trình bầy ở trên. Như vậy, về bản chất, điều kiện tham gia HTX đối với
cá nhân quy định tại khoản 1 Điều 17 Luật HTX được áp dụng chung cho cả
ba đối tượng là cá nhân, hộ gia đình và pháp nhân.
Luật HTX 1996 tuy quy định hộ gia đình có thể trở thành xã viên HTX,
song lại không quy định về điều kiện hộ gia đình phải cử người đại diện. Do
1.1.2. So sánh xã viên HTX với thành viên của các loại hình doanh nghiệp
khác:
Để so sánh xã viên HTX với thành viên các loại hình DN khác, cần phân
tích vấn đề từ hai góc độ: đối tượng tham gia HTX hoặc DN và các điều kiện,
cách thức tham gia HTX hoặc DN của các đối tượng.
a/ Đối tượng tham gia HTX hoặc DN:
Trước hết, khác với HTX, tất cả các loại hình DN đều không có hộ gia
đình tham gia với tư cách là thành viên. Có thể nói, thành viên hộ gia đình là
một nét rất đặc thù của HTX. Việc hộ gia đình có thể là thành viên HTX phản
14
ánh vai trò kinh tế hộ gia đình và tập quán làm ăn theo qui mô và mô hình gia
đình đã tồn tại từ lâu đời ở nước ta.
Với đối tượng tham gia là các tổ chức, cũng có sự khác nhau giữa HTX
và các loại hình DN khác. Công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân không
có thành viên là tổ chức: “thành viên hợp danh phải là cá nhân” và “doanh
nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ”. Công ty trách
nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần đều có thành viên là tổ chức. Nhưng nếu so
với đối tượng tham gia là “pháp nhân” của HTX thì đối tượng tham gia là “tổ
chức” của công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần có phạm vi rộng rãi
hơn. Thậm chí phạm vi này còn được mở rộng tới cả các tổ chức nước ngoài
không thường trú ở Việt Nam đối với quyền góp vốn vào doanh nghiệp. Tổ
chức nước ngoài không thường trú ở Việt Nam chỉ bị hạn chế quyền thành lập
và quyền quản lý doanh nghiệp. Quy định chỉ có “pháp nhân” (và ở đây có thể
hiểu là pháp nhân Việt Nam) mới có thể là xã viên HTX chứ không phải là “tổ
chức” nói chung xuất phát từ quan điểm của các nhà làm luật muốn có một sự
tham gia có đảm bảo hơn vào HTX, khi một tổ chức đã được công nhận là
pháp nhân với đầy đủ các điều kiện theo quy định của Bộ Luật Dân sự 2004.
Với đối tượng tham gia là cá nhân, có khá nhiều sự khác nhau giữa HTX
định xã viên là “công dân Việt Nam” để phù hợp với thực tế.
Trong các điều kiện để cá nhân có thể trở thành xã viên HTX, điều kiện
“góp sức” là đặc thù nhất. Thành viên của DN có thể chỉ cần góp vốn, không
nhất thiết phải góp sức. Nếu một cá nhân không muốn hoặc không có khả năng
góp sức mà có vốn và muốn có lợi nhuận, cá nhân đó có thể tham gia các loại
hình DN đối vốn. Trong thực tế, những người tham gia sản xuất kinh doanh vì
mục tiêu lợi nhuận chắc sẽ không gia nhập HTX - một tổ chức không đặt mục
tiêu lợi nhuận lên hàng đầu. Việc quy định điều kiện người lao động gia nhập
HTX không chỉ góp vốn mà còn phải góp sức một lần nữa khẳng định bản chất
của HTX là tổ chức của những người lao động, những người có vốn nhưng
không nhiều, có sức lao động và muốn được làm việc nhưng họ thấy rằng làm
việc cá thể không hiệu quả, không có lợi bằng làm việc tập thể nên đã tự
nguyện tập hợp lại với nhau trong một tổ chức kinh tế tập thể.
So sánh hai khái niệm xã viên HTX và thành viên DN giúp hiểu rõ hơn
bản chất HTX là một tổ chức kinh tế – xã hội của “đông đảo nhân dân lao
16
động và cộng đồng địa phương tham gia” [3, tr.10], HTX là “tổ chức của
những đối tượng tự nguyện hợp lại với nhau, nhằm giải quyết các vấn đề về
kinh tế, văn hoá, xã hội của họ, dưới một tổ chức kinh tế được sở hữu tập thể
và quản lý dân chủ” [13, tr.7].
1.2. Sự phát triển của chế định quyền và nghĩa vụ của xã viên HTX
Quyền và nghĩa vụ của xã viên HTX chỉ phát sinh sau khi cá nhân, hộ
gia đình, pháp nhân gia nhập HTX theo Quyết định của Đại hội xã viên. Có thể
hiểu quyền của xã viên HTX là những điều mà pháp luật hoặc Điều lệ HTX
công nhận cho xã viên được hưởng, được làm, được đòi hỏi HTX. Tương tự
như vậy, nghĩa vụ của xã viên HTX là việc mà pháp luật hay Điều lệ HTX yêu
cầu, bắt buộc xã viên phải làm đối với HTX. Quyền của xã viên HTX luôn đi
liền với nghĩa vụ của họ đối với HTX. Việc thực hiện nghĩa vụ chính là điều
ích quốc lại lợi dân. Tục ngữ có câu: “Một cây làm chẳng nên non, nhiều cây
chụm lại nên hòn núi cao” [2, trang 19].
Khái niệm quyền xã viên lúc đó chủ yếu được gắn với các quyền lợi về
kinh tế và được hiểu khá nôm na, đơn giản: tham gia tổ đổi công là để giúp đỡ
lẫn nhau, cùng chung sức, cùng góp tư liệu sản xuất, ai có gì góp nấy, như vậy
ai cũng có điều kiện để sản xuất, ai cũng được giúp đỡ. Ngoài quyền lợi kinh
tế, “nếu tăng gia nhiều nhất trong địa phương, thì Chính phủ còn khen thưởng
nữa. Thế là đã được lợi, lại được danh” [2-tr.42]. Tương tự như vậy, khái
niệm nghĩa vụ cũng rất giản dị, dễ hiểu: phải đoàn kết trong tổ đổi công; tổ
chức thi đua sản xuất và thực hành tiết kiệm để ích nước lợi nhà, khai đúng,
nộp đủ thuế nông nghiệp… Trong điều kiện hơn 90% dân số mù chữ và còn
đói nghèo sau Cách mạng Tháng Tám, khái niệm về HTX và kinh tế tập thể lại
hết sức mới mẻ thì khái niệm quyền và nghĩa vụ còn đơn giản, mộc mạc, chủ
yếu gắn liền với quyền lợi và nghĩa vụ vật chất là điều dễ hiểu. Trong suốt giai
đoạn này không có các quy định pháp lý mang tính hệ thống về HTX cũng như
về quyền và nghĩa vụ của xã viên. Vấn đề HTX và xã viên chỉ được quy định
rải rác, lẻ tẻ trong các chỉ thị, nghị quyết, văn kiện… của Đảng và một số
chính sách của Nhà nước.
1.2.2. Chế định quyền và nghĩa vụ của xã viên HTX trong giai đoạn từ 1958
đến 1988:
18
Trong giai đoạn này có các phong trào tập thể hoá ở Miền Bắc (19591960) và ở Miền Nam (1975-1985). Tổ chức và hoạt động của các HTX trong
giai đoạn này có những đặc điểm:
- Tập thể hoá triệt để các tư liệu sản xuất chủ yếu của xã viên HTX
- Tập trung hoá cao độ trong sản xuất, kinh doanh
- Nhà nước giao nhiều chỉ tiêu pháp lệnh cho các HTX
- Phân công lao động theo phương thức chuyên môn hoá cho từng đơn vị,
cá nhân. HTX trong một số ngành, nghề dùng công điểm để làm cơ sở
chúng ta cũng đã ban hành được Điều lệ HTX vào năm 1959 (Điều lệ HTX
bậc thấp) và năm 1969 (Điều lệ tóm tắt của HTX sản xuất nông nghiệp bậc
cao) và một dự thảo Điều lệ HTX nông nghiệp bậc cao vào năm 1974 (mặc dù
sau đó không được ban hành chính thức do bối cảnh lịch sử có nhiều thay đổi).
Điều lệ tóm tắt của HTX sản xuất nông nghiệp 1969 được Chủ tịch Hồ Chí
Minh viết lời mở đầu. Ngay trong phần đầu tiên của lời mở đầu, Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã nhấn mạnh tới ý nghĩa của Điều lệ đối với quyền lợi của thành
viên HTX: “Điều lệ này của HTX sản xuất nông nghiệp rất quan trọng. Nó
nhằm đảm bảo quyền làm chủ tập thể của các xã viên”. So với giai đoạn trước
1958, các quyền và nghĩa vụ của xã viên đầy đủ hơn và các quy định đã bắt
đầu đi vào những vấn đề cụ thể. Tuy nhiên, vẫn có thể dễ dàng nhận thấy
những hạn chế của Điều lệ tóm tắt 1969 trong những quy định liên quan đến
quyền và nghĩa vụ xã viên như:
- Chưa đầy đủ các quyền và nghĩa vụ. Ví dụ Điều lệ không đề cập đến
quyền ra HTX, quyền chuyển vốn góp hoặc được trả lại vốn góp, quyền
được hưởng lãi theo vốn góp và công sức đóng góp, quyền được HTX
đào tạo bồi dưỡng… Toàn bộ quyền và nghĩa vụ của xã viên trong
Chương 2 của Điều lệ chỉ vỏn vẹn trong ba câu với chưa đến 200 từ.
- Nhiều quyền và nghĩa vụ còn được quy định khá chung chung, đặc biệt
là các nghĩa vụ còn mang tính “khẩu hiệu”, nặng về giáo dục như: “ra
sức lao động sản xuất, thương yêu giúp đỡ lẫn nhau như con một nhà,
làm đúng các chính sách của Đảng, Chính phủ và pháp luật của Nhà
nước”, “HTX phải quản lý theo đúng nguyên tắc xã hội chủ nghĩa”,
“tất cả các cán bộ HTX … phải có công tâm, có ý thức tiết kiệm, phát
triển sản xuất”…
20
- Xã viên có nghĩa vụ phải góp toàn bộ tư liệu sản xuất: ruộng đất, trâu
bò, các công cụ chủ yếu như cày, bừa, guồng nước… cho HTX. HTX
vốn góp của xã viên đó. Ngược lại, một số quyền lại được coi như “cha truyền
con nối” mà về thực chất là không đúng với tính chất của HTX như: con xã
viên đến tuổi lao động được kết nạp làm xã viên thì không phải đóng góp vốn
cổ phần. Điều 3 Dự thảo Điều lệ HTX 1974 quy định nhiệm vụ của HTX,
trong đó có những nhiệm vụ cụ thể tương ứng với quyền của xã viên như: đảm
bảo thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động, mở rộng phúc lợi tập thể,
không ngừng nâng cao trình độ cho cán bộ và xã viên… Dự thảo Điều lệ HTX
sản xuất nông nghiệp (bậc cao) 1974 tuy không được chính thức ban hành,
song trong thực tế nó đã được nhiều HTX vận dụng và quan trọng hơn cả là nó
đánh dấu một bước phát triển mới trong tư duy và kỹ thuật lập pháp, tạo tiền
đề cho sự phát triển và hoàn thiện pháp luật về HTX sau này.
Như vậy, trong giai đoạn từ 1958 đến 1988, cùng với các chính sách của
Đảng và Nhà nước, Điều lệ HTX bậc thấp và Điều lệ tóm tắt của HTX bậc cao
đã được ban hành cũng như Dự thảo Điều lệ HTX bậc cao năm 1974 đã đánh
dấu một bước phát triển rất quan trọng của chế định quyền và nghĩa vụ thành
viên HTX cũng như của bản thân nội hàm hai khái niệm này.
Tuy nhiên, vào cuối giai đoạn 1958-1988, trên phạm vi cả nước, mô
hình HTX theo kiểu tập trung, qui mô lớn đã không phù hợp dẫn đến sự khủng
hoảng không chỉ diễn ra trong các HTX mà ảnh hưởng đến toàn bộ hoạt động
của nền kinh tế quốc dân, đòi hỏi phải có sự đổi mới cơ chế quản lý đối với
HTX. Có thể nói đây cũng là một thời kỳ khủng hoảng về quan điểm, đường
lối, chính sách về HTX. Trong suốt gần 15 năm kể từ khi Dự thảo Điều lệ
HTX sản xuất nông nghiệp bậc cao năm 1974 ra đời (nhưng không được ban
hành), không có văn bản pháp lý tương đương nào được ban hành để điều
chỉnh tổ chức và hoạt động của các HTX. Khu vực kinh tế HTX trong thời kỳ
này được điều chỉnh bởi các đường lối, chính sách của Đảng thông qua các
Nghị quyết, Chỉ thị… của Đảng như: Nghị quyết của Hội nghị lần thứ 6 Ban
Chấp hành Trung ương khoá V tháng 9/1979, Chỉ thị số 100/TW của Ban Bí
thư…
chức năng của HTX sang làm dịch vụ “đầu ra, đầu vào” cho hộ xã viên. Tập
thể xã viên HTX có quyền tự chủ hoàn toàn trong việc tổ chức và hoạt động
của HTX theo quy định của pháp luật. Nhà nước và các cơ quan quản lý không
can thiệp sâu vào công tác tổ chức và điều hành hoạt động của HTX.
23
Về quan hệ phân phối: thay thế chế độ phân phối theo công điểm bằng
việc thực hiện phân phối theo lao động, theo vốn góp và theo mức độ sử dụng
dịch vụ của HTX. Xã viên chỉ có nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước và đóng
góp xây dựng quỹ của HTX. Các hoạt động dịch vụ sản xuất giữa HTX với xã
viên đều thông qua quan hệ hợp đồng.
Có thể nói, đến Nghị quyết số 10 và Nghị quyết số 16 của Bộ Chính trị,
các quyền và nghĩa vụ của xã viên HTX đã được phát triển và đổi mới cả về
chất và lượng so với cả giai đoạn mấy chục năm trước đó, đặc biệt là đối với
những quyền và nghĩa vụ cơ bản nhất trong mối quan hệ sở hữu tư liệu sản
xuất, quan hệ quản lý và quan hệ phân phối. Sự phát triển này tạo tiền đề vững
chắc cho công tác pháp điển hoá quyền và nghĩa vụ thành viên HTX trong giai
đoạn sau này.
Tuy nhiên, quá trình thực hiện công cuộc đổi mới kinh tế tập thể trong
thực tế đã gặp rất nhiều khó khăn, vướng mắc mà một trong những nguyên
nhân cơ bản là tình trạng lạc hậu, không đồng bộ và thiếu các văn bản pháp
luật về HTX, trong đó có các quy định về quyền và nghĩa vụ của xã viên HTX.
Trong điều kiện cả nước bước vào công cuộc đổi mới đất nước và nền kinh tế
đang chuyển hướng sang kinh tế thị trường thì các HTX lại chậm được hướng
dẫn chuyển đổi nên từ cuối những năm tám mươi, phong trào HTX lâm vào
tình trạng khủng hoảng.
Ngày 20/3/1996, Quốc hội khoá IX đã thông qua Luật HTX. Luật HTX
được áp dụng chung cho tất cả các loại hình HTX ở Việt Nam. Luật đã dành
toàn bộ Chương III với 4 điều để quy định về chế độ xã viên, cụ thể là: điều
Luật HTX 1996 ra đời với những quy định rất đầy đủ, cụ thể về quyền
và nghĩa vụ của xã viên HTX đã góp phần chặn đứng được tình trạng tan rã
hàng loạt của các HTX, tạo hướng đi mới cho các HTX. Sau khi Luật và các
văn bản hướng dẫn thi hành ra đời, đã có hàng ngàn HTX cũ được chuyển đổi
theo mô hình mới và hàng ngàn HTX mới ra đời. Rất nhiều HTX trong số đó
đã thích nghi được với nền kinh tế thị trường và làm ăn có hiệu quả.
Sau hơn 7 năm thực hiện, trước thực tế phát triển đa dạng với tốc độ rất
nhanh của nền kinh tế thị trường Luật HTX 1996 đã bộc lộ những bất cập cần
được sửa đổi, bổ sung để tạo điều kiện cho kinh tế HTX phát triển tương xứng
với các khu vực kinh tế khác. Ngày 26/11/2003 Quốc hội đã thông qua Luật
25
HTX 2003. Chế định về xã viên, trong đó có quyền và nghĩa vụ của xã viên
không có nhiều thay đổi so với Luật HTX 1996. Những thay đổi tập trung vào
các vấn đề sau:
Về điều kiện gia nhập HTX: Luật HTX 2003 quy định thêm đối tượng
có thể gia nhập HTX là cán bộ, công chức và pháp nhân. Pháp nhân và hộ gia
đình khi tham gia HTX phải thông qua người đại diện.
Về việc chấm dứt tư cách xã viên: Luật HTX 2003 quy định thêm
trường hợp hộ gia đình và pháp nhân không có người đại diện đủ điều kiện;
pháp nhân bị giải thể, phá sản.
Về quyền của xã viên: Luật HTX 2003 bớt một quyền so với Luật HTX
1996 là quyền “tham gia bảo hiểm xã hội” do việc đóng bảo hiểm xã hội cho
xã viên và người làm việc thường xuyên cho HTX là nghĩa vụ hiển nhiên của
HTX theo Luật Lao động. Tuy nhiên, Luật HTX 2003 lại quy định rất chi tiết
và đầy đủ hơn so với Luật HTX 1996 về quyền được trả lại vốn góp của xã
viên, một quyền liên quan trực tiếp đến quyền lợi kinh tế của xã viên.
Quy định về nghĩa vụ của xã viên HTX trong Luật HTX 2003 về cơ bản
giống như quy định về nghĩa vụ của xã viên HTX trong Luật HTX 1996.