NHỮNG NÉT CHUNG VỀ NGƯỜI NÙNG - Pdf 31

Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành báo cáo thực tập này, chúng em xin chân thành cảm ơn sự
giúp đỡ vô cùng tận tình và chu đáo của Thầy Hứa Ngọc Tân. Chúng em xin được
bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy cô trong khoa Ngôn ngữ học Trường Đại
học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã tổ chức cho chúng em đi thực tập tại xã Phúc
Sen, Quảng Uyên, Cao Bằng.
Chúng em xin chân thành cảm ơn !
Website: Email : Tel : 0918.775.368
DẪN NHẬP
Việt Nam là Quốc gia đa dân tộc, đa ngôn ngữ, trong đó có 54 dân tộc
cư trú đan xen nhau và phân bố rải rác ở các vùng miền của đất nước.Có thể
nhận thấy mỗi dân tộc là một bức tranh đầy màu sắc, đa dạng không chỉ về
ngôn ngữ mà còn cả những nét đặc trưng về truyền thống văn hóa, lịch sử
hình thành phát triển,…
“Dân tộc là một tập đoàn người ổn định hoặc các tập đoàn người tương
đối ổn định dựa trên mối liên hệ chung về địa vực cư trú, tiếng nói, sinh hoạt
kinh tế, các đặc điểm sinh hoạt văn hoá. Trên cơ sở những mối liên hệ
đó,mỗi dân tộc còn có một ý thức về thành phần dân tộc và tên gọi riêng của
mình” (Viện Văn hóa Dân tộc, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội & Nhân văn)
PHẦN I
NHỮNG NÉT CHUNG VỀ NGƯỜI NÙNG
Dân tộc Nùng (tên gọi khác là Xuồng, Giang, Nùng An, Nùng Lài,
Phần Sinh, Nùng Cháo, Nùng Inh, Quý Rịn, Nùng Dín, Khen Lài) thuộc
nhóm ngôn ngữ Tày- Thái của hệ ngôn ngữ Thái- Kađai. Người Nùng sinh
sống tập trung ở các tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng, Lào Cai, Hà Giang, Bắc Kạn,
Bắc Giang, Tuyên Quang, Quảng Ninh, ngoài ra còn ở Thành phố Hồ Chí
Minh, Lâm Đồng, Đắc Lắc. Người Nùng có quan hệ gần gũi với người Tày
và người Choang sống dọc biên giới Trung Quốc. Riêng đối với địa bàn
Trung Quốc, người Nùng và người Tày được xếp vào dân tộc Choang.Vì vậy
mà thủ lĩnh Nùng Trí Cao của người Nùng cũng được coi là thủ lĩnh của

bông, dệt vải. Tuy nhiên tất cả họat động kinh tế của xã chủ yếu là tự cung,
tự cấp, tự tiêu thụ vì không có đường nào thu mua, nếu có bán ra ngoài thì
thường bị ép giá cho nên vẫn còn 120 hộ nghèo.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
1. Về xã hội
- Có 10/10 xóm có điện lưới quốc gia, xã có 1 trường cấp I, một trường
cấp II, 1 trạm y tế xã, 1 nhà sinh hoạt cộng đồng, 1 nhà tưởng niệm liệt sĩ, 1
bưu điện văn hoá, 1 sân vận động phục vụ cho việc vui chơi giải trí của học
sinh và đoàn viên thanh niên trong xã, 1 Uỷ ban Nhân dân có 5 ngành: Hội
cựu chiến binh, đoàn thanh niên, hội phụ nữ, mặt trận Tổ Quốc, đoàn thể .
Có 353/413 hộ văn hoá và 3 làng văn hoá, hàng năm xã có tổ chức
viếng thăm các liệt sĩ vào ngày 27/7.
2. Về an ninh
Tuy có đường quốc lộ III , lượng người lưu thông đông nhưng do có
sự quản lý tốt về nhân khẩu cho nên từ năm 1999 đến nay không có tệ nạn xã
hội .
II. Mục đích nghiên cứu
Trong điều kiện thời gian hạn hẹp, mục đích của chúng tôi là bước đầu
tìm hiểu được một số đặc trưng văn hoá ẩm thực và nhà ở của đồng bào dân
tộc Nùng An ( Phúc Sen).
III. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp điền dã: (Ghi âm, nói chuyện với một số người dân ở
trong xã để tìm hiểu văn hoá của họ)
IV. Khái quát các thuật ngữ liên quan
Có nhiều định nghĩa về văn hoá:
V. Những vấn đề liên quan đến báo cáo
1. Khái niệm
Văn hóa là một khái niệm rộng. Hiện nay có hơn 1000 định nghĩa về văn
hóa. Sau đây là một số định nghĩa:
1.1. “Văn hóa = way (S) of life”

phải đứng tên và có mặt trong thủ tục cần thiết và liên quan đến việc làm nhà
và những khâu quan trọng trong quá trình làm nhà như động thổ ( san nền ),
đặt móng (dựng cột ), đổ trần ( đặt thương lượng, lợp nhà ); Nếu vợ hoặc
chồng không được tuổi làm nhà thì những giờ động thổ, đặt móng và đổ trần,
người đó cần lánh mặt, đi làm việc khác.
Vấn đề chọn hướng nhà là vấn đề được quan tâm sau khi chọn được
tuổi làm nhà. Đồng bào có câu: “Đảy kin dòm mồ mả”, nghĩa là được ăn là
nhờ mồ mả, được yên ổn là nhờ đất làm nhà. Khi chọn hướng nhà, đồng bào
thường đặt thế nhà đó trong toàn cảnh thế đất và cảnh xung quanh, bao gồm
hướng phía trước nhà và thế đất ở hai bên sườn nhà, “điểm tựa” phía sau
nhà. Hướng nhà tốt là phải nhìn được xa ,phải có một đỉnh núi cao ở tầm xa
làm đích.
Ngôi nhà truyền thống tiêu biểu cho dân tộc là ngôi nhà sàn, lợp ngói
máng, dưới gầm sàn là chuồng gia cầm, thậm chí có cả gia súc.
Nguyên liệu để làm nhà là gỗ, tre,ngói, là những thứ mà có sẵn tại chỗ.
Trong ngôi nhà là cột, xà, kèo, hoành, cầu phong ly tô, đều là gỗ bị mọt ăn.
Cột, kèo, xà được làm bằng nhóm một. Phổ biến nhất là gỗ nghiến ,gỗ
đinh...Bộ khung này được coi là “vĩnh cửu”- không mối, không mọt, không
mục, không ải. Hoành, cầu phong ly tô...Nếu được gỗ nhóm một là lý tưởng
nhất, nhưng nhiều khi cũng phải chấp nhận gỗ nhóm ba, nhóm bốn, thậm chí
Website: Email : Tel : 0918.775.368
đến nhóm sáu, miễn là chúng không bị mối, mọt ăn.Tre làm nhà là tre già,
đảm bảo độ bền hàng chục năm.
Đồng bào Nùng không chỉ chú ý chọn gỗ, mà còn chọn thời điểm chặt
gỗ dể làm nhà. Theo quy luật sinh học, vào mùa thu, đông, tiết trời khô, các
loại cây đều có nhịp độ phát triển chậm, thân cây chứa ít nước, cây gỗ có độ
cứng tốt, độ dẻo cao. Hạ cây gỗ, tre vào mùa khô sẽ tránh được rất nhiều các
hiện tượng mối mọt ...Do tri thức được quy luật sinh học này đồng bào
thường hạ cây làm nhà vào mùa thu đông. Cần nói thêm rằng ,đây cũng là
mùa nông nhàn, mùa khô ráo, tiện cho việc đi rừng, không ảnh hưởng đến

được mở ở gian này.Tính từ phía trước nhà đến phía sau nhà, gian này
thường có giường ngủ của chủ nhà, giường ngủ của con trai, tiếp nữa là cối
xay, cối giã gạo, cầu thang lên xuống gầm sàn và có thể để ít củi đun hàng
ngày .
Gian bên cạnh kia, cũng từ phía trước đến ngang với liếp làm ngăn
bếp. Ở gian giữa thường được bố trí như sau: Buồng đầu tiên là buồng để
bàn thờ, buồng thứ hai là buồng ngủ của vợ chủ nhà, buồng thứ ba là buồng
ngủ của con gái. Còn một khoảng trống ngang liếp ngăn bếp đến vách sau
của gian này là các thứ dụng cụ của nhà bếp .
Khu vực này liếp ngăn bếp đến cửa trước là nơi sinh hoạt chung của
gia đình, nơi tiếp khách, gia đình ăn cơm ...Vào những ngày mùa khẩn
trương, đây là nơi tập kết thóc, ngô, hồi ... để chở đem phơi khô sau đó đưa
lên bảo quản ở trên gác ( tầng 3) .
Tầng 3 là gác để lương thực thức ăn cả năm, để đỗ, lạc, đường phèn ...
Ngay trên gác bếp nấu ăn và bếp nấu cám lợn, đồng bào treo một gác
nhỏ bằng nan tre với diện tích khoảng 2m2. Trên gác bếp, đồng bào để các
thứ dùng hàng ngày và một số thứ cần hong khô thường xuyên như bao
diêm, đóm, măng khô, mộc nhĩ ...
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Phía trước nhà ở là sàn để phơi. Sàn phơi thấp hơn sàn ở một chút và
được làm bên ngoài giọt gianh của mái nhà. Sàn ở được nối với sàn phơi
bằng một cầu rộng khoảng 2m .
Sàn phơi được nối bằng một thang rộng . Người vào nhà đi cửa trước,
phải lên thang sàn phơi rồi mới vào nhà .
Sàn phơi được sử dụng để phơi thóc, ngô, hồi, các loại đậu, đỗ ...
Những buổi chiều sàn là nơi nghỉ ngơi, hóng mát. Những ngày nắng mùa
đông, sàn là nơi chị em ngồi sưởi nắng ấm, tập may vá.
Phía sau nhà liền với cửa ra vào, là sàn để nước. Người nhà, khách
quen đi lên nhà thường đi cửa sau, qua sàn nước để còn rửa sạch chân trước
khi bước vào nhà .

cho mọi lời chúc tụng cuối cùng .
Ngay sát ngôi nhà của dân tộc Nùng thường có một mảnh vườn. Tuỳ
điều kiện thế đất, vườn có thể rộng hẹp khác nhau. Trong vườn thường có
các loại rau xảnh theo mùa và các loại cây ăn quả và các loại cây đặc sản của
địa phương như mận, đào, lê, hồng, vải ... Trong vườn luôn có vài khóm
chuối xanh tươi quanh năm.
II. Thức ăn, uống, hút
Nghề nghiệp chính của đồng bào Nùng là trồng lúa, ngô, khoai, sắn ...
Do nguồn lương thực chính của họ là gạo tẻ, gạo nếp. Ngoài ra, những lúc
đói kém, ngày ba, tháng tám, đồng bào dùng ngô thay cho gạo. Thực phẩm
chính của đồng bào là các loại rau xanh trồng trong vườn cạnh nhà, trên
nương, hái trong rừng và các loại thịt cá, trứng ...
Cách chế biến lương thực và thực phẩm thật đa dạng :
Để chế biến từ thóc thành gạo, đồng bào phải tiến hành khâu xay, sau
đó là khâu giã. Xay thóc thực hiện bằng cối xay tay. Xay được đóng bằng gỗ
Website: Email : Tel : 0918.775.368
và răng bằng tre gốc chẻ ra. Đồng bào tiến hành giã gạo bằng các phương
thức sau :
Giã bằng tay, có thể giã từ một đến bốn người giã cùng 1 lúc, tốc độ
giã phải thật nhịp nhàng, ăn khớp với nhau .
Giã gạo bằng chân. Cách giã này dùng chân đạp cần cối, có thể có một
nhà đạp, song cũng có thể có hai, ba người đạp. Càng nhiều người đạp thì
càng nhẹ .
Giã gạo bằng cối nước. Dùng cối nước, đôi khi đồng bào không xay
thóc, mà giã cả thóc cho được nhiều cám. Cám được dùng để nuôi lợn. Xay
giã bằng tay, bằng chân, được thực hiện bằng sáng sớm hay chiều tối. Tiếng
chày vang lên từ các gia đình vào trước sau buổi đi làm việc nói lên một nề
nếp làm ăn, một sự siêng năng trong công việc của người lao động chính
trong gia đình. Còn tiếng chày vang lên trong lúc mọi người đi làm ngoài
đồng, chứng tỏ việc nhà bỏ bê, con cháu lười biếng .

bát con, để ăn, để cúng... Khi có nhu cầu ăn cho vui, đồng bào chỉ làm bánh
dày nhỏ, có loại bánh dày có nhân, cũng có loại không nhân, mà có món
chấm để riêng. Nhân bánh dày có thể là đỗ xanh phi hành mỡ, có thể là nhân
muối lạc hoặc vừng, đường. Ngày cuối tháng giêng (âm lịch ) đồng bào hay
làm bánh dày lá ngải nhân vừng, đường. Có lúc bánh dày nhuộm phẩm đỏ
bên ngoài, hoặc bánh dày được vẽ các loại hoa văn hình học bằng phẩm đỏ
hoặc tím không độc hại. Những đường nét hình học chủ yếu là hình tròn viền
răng cưa, các hình vuông, lồng vào nhau, hình ngôi sao năm cánh. Bố cục
các hình tam giác liền nhau như hàng răng cưa của đồng bào .
Bánh gai là loại bánh được làm vào dịp tết 14/7.
Ngoài ra, họ còn làm bánh chuối vào dịp 14/7.
Bánh rợm làm khi thích ăn và khi có thì giờ .
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Bánh tro làm để cúng vào dịp 5/5, là bánh không nhân, khi ăn chấm
mật mía .
Bánh trôi làm phổ biến vào dịp đông chí. Ngoài ra, có thể tuỳ ý thích
làm để ăn vào các dịp khác tuỳ thích. Gạo nếp, ngâm qua đêm, xay nước,
cho vào túi vải, treo lên cho chảy bớt nước. Bột đang nhão mềm, vo thành
viên tròn thả vào nước mật loãng đang sôi trên bếp, mới thả vào, viên bánh
chìm xuống dưới nước. Bếp vẫn tiếp tục đỏ lửa, nước mật tiếp tục sôi. Khi
nào thấy viên bánh nổi lên, là bánh đã chín, vớt ra ăn được. Bánh trôi thường
ăn với gia vị gừng. Gừng dập nát, bỏ một chút vào bát nóng rồi ăn ngay, có
mùi thơm, ấm, dễ chịu. Đồng bào làm hai loại bánh trôi: Bánh trôi không
nhân và bánh trôi có nhân. Bánh trôi không nhân phổ biến hơn. Bánh trôi có
nhân ít khi làm. Nhân bánh là đỗ xanh, xay vỡ đôi, ngâm đãi sạch vỏ, đồ nấu
chín, trộn đường. Nhân được cho vào giữa khi vo viên làm bánh.
Nếp được đồ chín như xôi, sau đó phơi thật khô giòn, khâu này chuẩn
bị hơi lâu, nên phải làm trước. Khi cần làm, lấy nếp đồ chín phơi khô này
rang lên cho hạt nếp nở to và tròn. Nấu mật ở chảo, cho đến khi mật không
tan trong nước lã là được .

Rau muối: Đồng bào Nùng có kỹ thuật muối các loại rau xanh khá tốt .
Có hai cách muối là muối ngâm nước và muối phơi khô.
Muối ngâm nước thường áp dụng muối rau cải, muối măng (tre, nứa,
vầu) và muối quả trám đen. Thông thường vào mùa đông, đồng bào muối rau
cải để tiện ăn dần. Muối cả cây để lâu ngày, muối rau cải thái là để ăn ngay,
mùa xuân hè, đồng bào muối măng chua, măng chua ngâm trong nước để
được rất lâu. Mùa thu, đồng bào muối trám đen. Một vại trám có thể để dành
ăn quanh năm .
Muối phơi khô cũng được áp dụng cho quả trám đen, măng tre (nứa,
vầu...).ngoài ra đồng bào còn áp dụng để muối su hào, cải củ…ủ trám đen,

Trích đoạn Hội thanh minh
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status