Cáo bệnh, bảo mọi người - Pdf 31

Cáo bệnh, bảo mọi người

(Cáo tật thị chúng – Mãn Giác thiền sư)
Mãn Giác thiền sư (1052 – 1096) tên thật là Lí Trường, sống vào thời vua Lí Nhân Tông. Năm 25 tuổi ông
mới xuất gia và trở thành một thiền sư được ngưỡng vọng. Vua Lí thường xuyên hỏi ông về việc nước.
Năm 1096, ông cáo bệnh và làm bài thơ này để báo cho mọi người biết. Cũng năm đó, ông qua đời. Bài thơ
Cáo tật thị chúng thể hiện những suy ngẫm của nhà sư về cuộc đời. Bài thơ chia làm hai phần : Phần thứ
nhất nói về quy luật sinh tử của tự nhiên, phần thứ hai thể hiện tâm sự lạc quan của tác giả. Bài thơ mang vẻ
đẹp trong sáng nhưng chứa đựng chất triết lí sâu sắc của thơ thiền : vừa thể hiện tình yêu, niềm tin vào cuộc
sống của con người, vừa là sự ngộ giải chân lí Phật giáo của một vị chân tu trước lúc "nhập diệt".
Con người không thể thoát khỏi quy luật "sinh, lão, bệnh, tử" của tự nhiên. Phàm đã là con người ai cũng
phải trải qua những giai đoạn đó. Nhà sư Mãn Giác đã một lần nữa khẳng định quy luật tự nhiên ấy qua Cáo
tật thị chúng. Tinh thần nhập thế của Phật giáo cũng được thể hiện rõ ở bài thơ này. Tâm sự của một nhà sư
cũng là tâm trạng chung của tất cả mọi người trước sự xoay vần "đà định sẵn" của tự nhiên.
Mượn hình ảnh hoa nở hoa tàn để nói đến quy luật của thiên nhiên, bài thơ kệ được bắt đầu bằng hai câu
thơ :
Xuân khứ bách hoa lạc,
Xuân đáo bách hoa khai.
Miêu tả sự tuần hoàn của tự nhiên nhưng bằng một cách nói hơi trái tự nhiên. Thông thường có hoa nở mới
có hoa tàn nhưng ở đây nhà thơ lại nói đến hình ảnh hoa tàn trước rồi mới nói chuyện hoa nở. Phải chăng
tuổi già (nhà sư viết bài thơ vào năm cuối của cuộc đời) với những dự cảm của người sắp ra đi thường nghĩ
đến chuyện mất mát trước. Tác giả của bài thơ là một nhà sư, và theo quan niệm của đạo Phật, cuộc đời là
những vòng luân hồi nối tiếp nhau, không có sự kết thúc thật sự. Điểm kết của vòng đời này là sự bắt đầu
của một vòng đời khác. Hình ảnh "hoa" và "xuân" là hai điểm nhấn của câu thơ, vừa nhấn về ngữ điệu, vừa
nhấn về hình ảnh. Cách sắp xếp các hình ảnh đối nhau càng làm tăng sự đối lập giữa sự mất đi và sinh ra
của muôn hoa và vạn vật.
Cách sắp xếp "hoa lạc" trước "hoa khai", có lẽ là để thể hiện tính chất luân hồi. "Tàn" là sự bắt đầu của "nở",
vì thế tàn không có nghĩa là chấm hết. Điểm tích cực của tư tưởng luân hồi chính là ở đây, nó thổi vào cuộc
sống của con người tinh thần lạc quan. Tư tưởng Thiền học được thể hiện ở ngay cách sắp xếp hình ảnh thơ
này. Sự trôi chảy của thời gian là tự nhiên và rất vô tình, theo dòng thời gian, con người cũng phải thay đổi.
Từ quy luật biến đổi của thiên nhiên dẫn đến quy luật biến đổi của đời người :

Hai câu thơ cuối đối lập với bốn câu đầu cả về hình thức và nội dung. Bốn câu thơ đầu khẳng định quy luật
bất biến của cuộc sống – vạn vật có sinh có mất, và không gì cưỡng lại được, nhất là con người. Hai câu cuối
lại khẳng định điều ngược lại – vẫn có một cành mai nở vào độ xuân tàn, hiện hữu hoàn toàn trái quy luật.
Cành mai xuất hiện bất ngờ như sự khẳng định rằng không có gì là bất biến. Và con người, với ý chí và nghị
lực phi thường của mình, vẫn có thể vượt qua được quy luật. "Lão tòng đầu thượng lai" tưởng đã là điểm kết
thúc của một đời người. Nhưng niềm lạc quan, ý chí và cả niềm tin tôn giáo đã giúp nhà sư thấy được "Đình
tiền tạc dạ nhất chi mai".
Cáo tật thị chúng là một bài thơ thiền, và vậy tất nhiên có gửi gắm những quan niệm, triết lí Thiền học. Mãn
Giác thiền sư viết bài thơ này khi ông sắp qua đời, vì thế nó thể hiện sự ngộ giải chân lí Phật giáo. Nhà Phật
vẫn tin rằng, con người có thể sẽ chiến thắng được quy luật sinh tử của tự nhiên nếu tu thành chính quả,
nếu chiến thắng được những dục vọng cá nhân và giác ngộ. Là một bài thơ kệ, là tác phẩm ra đời vào thời kì
mà văn học dân tộc chưa có được bề dày thành tựu nghệ thuật, song Cáo tật thị chúng đã thể hiện một tầm
kết tinh nghệ thuật đáng tự hào. Bài thơ chỉ có sáu câu nhưng đã truyền tải được một nội dung triết lí sâu
sắc. Giá trị ấy của thi phẩm được làm nên bởi tài năng sử dụng, lựa chọn ngôn từ, hình ảnh và sự sắp xếp
kết cấu gợi cảm của nhà thơ. Trước hết đó là nghệ thuật sử dụng và sắp xếp từ ngữ, mỗi từ ngữ đều chứa
đựng khả năng biểu hiện ý tứ sâu sắc, "bách hoa lạc" (trăm hoa rụng), "bách hoa khai" (trăm hoa đua nở),
chỉ một từ hoa nhưng là biểu tượng cho vạn vật, là biểu tượng cho mùa xuân đến, mùa xuân đi. Nghệ thuật
đối điệp cũng được phát huy cao độ để tạo nên tính hàm súc cho bài thơ. Mỗi cặp câu thơ là một cặp đối lập,
nó biểu hiện cho quy luật sinh tử song tồn, cho sự trôi đi rất nhanh và vô tình của thời gian. Bốn câu đầu và
hai câu sau là một cặp đối, một bên là quy luật nghiệt ngã tưởng như không gì chống lại nổi của tự nhiên,
một bên là sự xuất hiện bất chấp quy luật "hoa lạc tận" của "nhất chi mai". Mùa xuân của thiên nhiên đã trôi
qua nhưng mùa xuân và sức sống trong mỗi con người vẫn hiên ngang và cứng cỏi. Hai câu thơ bảy chữ kết
thúc bài thơ tạo nên một thế đứng vững vàng. Đó là thế đứng của con người đã giác ngộ được chân lí của sự
sống : quy luật của tự nhiên là quy luật của vạn vật trong trời đất, song với tinh thần lạc quan, ý chí sắt đá,
con người có thể vượt lên trên quy luật nghiệt ngã ấy.
Sự phát triển thịnh trị của Phật giáo thời Lí cùng với tư tưởng "nhập thế" tích cực, đã sản sinh cho dân tộc ta
những nhà sư tài ba, tâm huyết với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước và đóng góp cho văn học dân
tộc những tác phẩm có giá trị triết lí sâu sắc. Cáo tật thị chúng đã chứng tỏ sự khởi đầu đáng tự hào của văn
học
dân


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status