1
CHƯƠNG I : MỘT SỐ NHẬN THỨC CƠ BẢN VỀ PHÂN PHỐI SẢN PHẨM
1.1. Khái niệm về Marketing :
Marketing thường được dòch ra tiếng Việt là “ Tiếp thò “. Ngày nay khái niệm
tiếp thò đã trở nên vô cùng quen thuộc đối với các doanh nghiệp Việt Nam. Nó
hướng dẫn, chỉ đạo và phối hợp các hoạt động sản xuất kinh doanh của các
doanh nghiệp. Nhờ các hoạt động tiếp thò mà các quyết đònh đề ra trong sản
xuất kinh doanh có cơ sở khoa học vững chắc giúp doanh nghiệp thành công trên
thương trường.
• Theo Peter Drucker : “ Mục tiêu của tiếp thò là phải bán cho thật nhiều.
Đó là mục tiêu phải biết và hiểu được khách hàng thật cặn kẽ, cũng như
sản phẩm và dòch vụ thích hợp với họ, kể cả chính việc bán nữa “.
• Theo Philip Kotler : “ Tiếp thò là hoạt động của con người hướng đến việc
thỏa mãn nhu cầu và ước muốn thông qua các tiến trình trao đổi “.
• Theo hiệp hội Marketing Mỹ : “ Tiếp thò là quá trình hoạch đònh và thực
hiện các ý tưởng, đònh giá, phân phối, chiêu thò cho các sản phẩm và dòch
vụ tạo ra sự trao đổi nhằm thỏa mãn mục tiêu của các cá nhân và tổ chức
“.
Còn có rất nhiều các đònh nghóa khác nhau về tiếp thò. Tuy nhiên, từ những
đònh nghóa cơ bản trên, chúng ta có thể đưa ra một nhận xét chung rằng hoạt
động tiếp thò xuất hiện trong toàn bộ các hoạt động của doanh nghiệp từ khi
chưa sản xuất ra sản phẩm hoặc dòch vụ cho đến khi đã tiến hành trao đổi trên
thò trường.
Tiếp thò là khâu then chốt trong toàn bộ quá trình hoạt động và phát triển của
doanh nghiệp, là chìa khóa cho sự thành công của các doanh nghiệp trong môi
trường cạnh tranh của nền kinh tế thò trường. Theo Philip Kotler thì hoạt động
tiếp thò hướng đến các mục tiêu sau đây :
• Tối đa hóa tiêu thụ.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
2
• Tối đa hóa sự lựa chọn.
1.2.3. Phân khúc thò trường :
Người tiêu thụ trong thò trường đều mang tính không đồng nhất và có thể chia
thành nhiều nhóm khác nhau. Phân khúc thò trường sẽ giúp doanh nghiệp xác
đònh rõ được nhu cầu của khách hàng và khả năng đáp ứng của doanh nghiệp ở
từng khu vực thò trường nhất đònh.
Phân khúc thò trường là sự phân chia thò trường dựa vào sự phân loại nhu cầu
của từng nhóm khách hàng cụ thể. Chúng ta có các tiêu chuẩn phân khúc thò
trường như sau :
• Phân khúc theo khu vực đòa lý : là sự phân chia thò trường thành nhiều đơn
vò đòa lý như vùng, quốc gia, tỉnh…. Sự phân chia này tạo sự thuận tiện cho
việc khảo sát các vấn đề kinh tế – xã hội của từng khu vực.
• Phân khúc theo nhân khẩu học : thường căn cứ vào các chỉ tiêu : tuổi tác,
giới tính, thu nhập, nghề nghiệp, chủng tộc, tình trạng gia đình….
• Phân khúc theo đặc điểm tâm sinh lý : phân chia thò trường theo tâm lý
khách hàng như cá tính, kiểu sống, cách thức mua hàng….
• Phân khúc theo thái độ là sự phân chia thò trường theo phản ứng, tập tính
của khách hàng, bao gồm :
o Phân khúc theo lợi ích.
o Phân khúc theo tính cách tiêu dùng.
o Phân khúc theo tỷ lệ sử dụng.
o Phân khúc theo giá cả.
1.2.4. Thò trường mục tiêu :
Việc phân khúc thò trường làm bộc lộ những cơ hội của khúc thò trường, giúp
doanh nghiệp hiểu được những nhân tố ảnh hưởng, các đặc điểm của thò trường
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
4
và doanh nghiệp có thể lựa chọn những thò trường thuận lợi nhất cho kinh doanh.
Đó là thò trường mục tiêu.
Trước khi tiến hành lựa chọn thò trường mục tiêu, doanh nghiệp phải tiến
hành đánh giá các phân khúc thò trường khác nhau. Việc đánh giá các khúc thò
những sản phẩm mà họ có thể cần đến. Điều này chỉ có thể thực hiện bởi
những công ty có qui mô lớn có khả năng bao quát toàn bộ thò trường.
Sau khi hoàn tất việc xác đònh thò trường mục tiêu thì vấn đề quan tâm tiếp
theo của doanh nghiệp đó là việc đònh vò sản phẩm của mình trên thò trường mục
tiêu. Tức là xác đònh thái độ của khách hàng về sản phẩm của mình đối với các
sản phẩm cùng loại của đối thủ cạnh tranh trên từng khúc thò trường.
Nhiệm vụ của việc đònh vò sản phẩm gồm ba bước :
• Xác đònh những điểm khác biệt về sản phẩm, dòch vụ, hình ảnh có thể tạo
ra được để phân biệt đối với đối thủ cạnh tranh.
• Doanh nghiệp phải có tiêu chuẩn của sản phẩm để lựa chọn những điểm
khác biệt quan trọng nhất đối với đối thủ cạnh tranh.
• Tạo ra được dấu hiệu mà khách hàng ở thò trường mục tiêu có thể nhận
dạng ra được, phân biệt được doanh nghiệp với đối thủ cạnh tranh.
Thông qua việc phân khúc thò trường, xác đònh thò trường mục tiêu, đònh vò
sản phẩm doanh nghiệp sẽ có cơ sở để xây dựng mạng lưới phân phối cho phù
hợp, lựa chọn phương thức quản lý kênh có hiệu quả nhất. Thông qua đó xác
đònh chiến lược phân phối của doanh nghiệp.
1.3. Chiến lược phân phối :
1.3.1. Khái niệm về phân phối :
Phân phối là các hoạt động liên quan đến việc tổ chức điều hành và lưu
chuyển hàng hóa, dòch vụ từ người sản xuất đến người tiêu dùng.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
6
Trong nền kinh tế ngày nay, hầu hết các nhà sản xuất đều không bán hàng
hóa trực tiếp cho người sử dụng cuối cùng mà hoạt động này được thực hiện bởi
các trung gian. Các nhà trung gian này tập hợp lại thành kênh phân phối.
1.3.2. Kênh phân phối :
1.3.2.1. Đònh nghóa :
Kênh phân phối là tập hợp những cá nhân hay những doanh nghiệp hỗ trợ
việc chuyển nhượng quyền sở hữu một hàng hóa hay dòch vụ từ người sản xuất
• Kênh ba cấp : có ba người trung gian, trong cấu trúc kênh này có thêm
người bán sỉ mua hàng hóa từ nhà sản xuất rồi bán lại cho người bán sỉ
nhỏ hơn, sau đó người bán sỉ nhỏ hơn bán lại hàng hóa cho người tiêu
dùng.
1.3.2.3. Các trung gian trong kênh phân phối :
Trung gian trong kênh phân phối có hai loại :
Kênh
trực tiếp
Nhà sản
xuất
Khách
hàng
Kênh
một cấp
Nhà sản
xuất
Khách
hàng
Người
bán lẻ
o Nhà bán lẻ : là người mua hàng của người cung ứng để bán cho người
tiêu dùng. Các công việc chủ yếu của họ bao gồm quảng cáo tại chỗ
và trưng bày hàng hóa để bán hàng cá nhân, phát hiện nhu cầu và
truyền tin về hướng nhà sản xuất, chia nhỏ lô hàng của người cung ứng
và mở rộng nhiều điểm bán lẻ trên thò trường, tập hợp nhiều mặt hàng
để người tiêu dùng có khả năng lựa chọn.
Trong thực tế, không có sự phân biệt rõ ràng giữa người bán lẻ và người
bán buôn do một người bán hàng cụ thể bất kỳ lúc nào cũng có thể bán trực tiếp
cho người tiêu dùng hoặc bán lại cho người bán hàng khác khi có khách hàng
cần.
• Loại thứ hai : là người không sở hữu hàng hóa chỉ làm nhiệm vụ bán hàng
hoặc đàm phán bán hàng, họ là các nhân viên bán hàng của nhà sản xuất,
môi giới hưởng hoa hồng hoặc là các cửa hàng giới thiệu sản phẩm trực
thuộc nhà sản xuất hoặc là các đại lý ký gởi.
o Đại lý ký gởi : có thể là đại lý bán buôn hoặc đại lý bán lẻ, thực hiện
chức năng phân phối đối với hàng hóa ký gởi. Các đại lý tồn tại được
chính là để thay thế cho lực lượng bán hàng bên ngoài của nhà cung
ứng mà nhà cung ứng không có điều kiện thành lập hoặc thành lập
không có hiệu quả. Do tính chất không sở hữu hàng hóa nên họ chòu sự
kiểm soát chặt chẽ của các nhà cung ứng.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
9
o Cửa hàng giới thiệu sản phẩm, chi nhánh, văn phòng đại diện : đây là
các cơ sở phân phối sản phẩm được làm chủ và quản lý toàn diện hoạt
động bởi người sản xuất nhưng được tách riêng khỏi nơi sản xuất về
mặt cơ sở vật chất và quản lý hoạt động.
Chi nhánh, văn phòng đại diện : thực hiện việc bán buôn sản phẩm.
Cửa hàng giới thiệu sản phẩm : hoạt động như là điểm bán lẻ của
nhà sản xuất nhưng ở đây bán hàng không phải là mục tiêu chính
mà chủ yếu là tiến hành chức năng xúc tiến, thu thập thông tin về
nên sự hòa hợp giữa những lợi điểm của từng loại kênh phân phối với
những đòi hỏi của từng thò trường cụ thể.
Sơ đồ 1.2 : Mô hình kênh phân phối
•
• Sơ đồ tổ chức kênh phân phối : Sau khi đã lựa chọn kênh phân phối,
doanh nghiệp tiến hành lựa chọn sơ đồ tổ chức sao cho hiệu quả nhất.
Mặc dù có nhiều phương án tổ chức khác nhau cho từng tình huống cụ thể
của từng doanh nghiệp, nhưng chúng ta có thể xếp lại thành bốn nhóm sau
đây :
Trực tiếp
Công ty
Đại lý
Khách hàng
Lực lượng
bán hàng
của công ty
Gián tiếp Hỗn hợp
Công ty Công ty
Đại lý
Lực lượng
bán hàng
của công ty
Sơ đồ 1.4 : Cơ cấu tổ chức theo sản phẩm Phó giám đốc phụ trách
tiếp thò
Trưởng phòng phụ trách
bán hàng toàn quốc
Cấp quản lý khu vực
miền Trung
Cấp quản lý khu vực
miền Nam
Cấp quản lý khu vực
miền Bắc
Cấp quản lý tỉnh thuộc
khu vực miền Nam
o Cơ cấu tổ chức theo sản phẩm : cơ cấu này phân chia theo tính chất
sản phẩm. Đại diện bán hàng giờ đây trở thành những chuyên gia về
một sản phẩm nào đó hoặc một số những sản phẩm tương đối giống
nhau. Cơ cấu tổ chức này đặc biệt phù hợp khi sản phẩm bán ra đòi
hỏi mức độ chuyên môn hóa, trình độ kỹ thuật, hiểu biết rất cao về sản
phẩm của đại diện bán hàng.
o Cơ cấu tổ chức theo khách hàng : dựa trên những đặc điểm của khách
hàng như qui mô khách hàng, hành vi mua sắm và việc sử dụng sản
phẩm mà xây dựng cơ cấu tổ chức kênh phân phối theo khách hàng.
o Cơ cấu tổ chức hỗn hợp : những doanh nghiệp nào chuyên môn hóa lực
lượng bán hàng của mình theo hướng sản phẩm hoặc hướng đặc thù
của khách hàng thường có cơ cấu tổ chức lực lượng bán hàng theo lãnh
thổ đòa lý. Về cơ bản một cơ cấu tổ chức hỗn hợp là nỗ lực nhằm tận
dụng cả hướng chuyên môn hóa theo khách hàng hoặc theo sản phẩm
một cách hiệu quả, tận dụng những lợi điểm về quản lý của loại cơ
cấu tổ chức theo lãnh thổ đòa lý.
Quản trò kênh phân phối :
Quản trò kênh phân phối là việc điều hành các kênh đang hoạt động nhằm
đảm bảo sự hợp tác tối đa giữa các thành viên để thực hiện tốt nhất các mục tiêu
phân phối của doanh nghiệp. Công tác quản trò kênh phân phối có các vấn đề
chủ yếu sau đây :
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
13
Lựa chọn các thành viên của kênh :
Việc lựa chọn các thành viên kênh là điều thường xảy ra đối với một
doanh nghiệp. Việc này không chỉ cần thiết khi thay đổi cấu trúc kênh, mà vẫn
diễn ra khi doanh nghiệp vẫn giữ nguyên cấu trúc kênh nhưng muốn mở rộng thò
trường hoặc thay thế những thành viên đã rời khỏi kênh. Tùy vào tính chất hoạt
động của từng ngành mà các doanh nghiệp sẽ xây dựng tiêu chuẩn riêng để lựa
chọn kênh phân phối.
o Cộng tác : các doanh nghiệp cố gắng tạo dựng mối quan hệ cộng
tác lâu dài với các trung gian. Doanh nghiệp xây dựng một ý niệm
rất rõ ràng về những gì doanh nghiệp mong muốn ở người phân
phối phải làm được những gì trong việc bao quát thò trường, triển
khai hoạt động tiếp thò, tư vấn dòch vụ…. Doanh nghiệp sẽ tìm kiếm
nhà phân phối nhất trí với những chính sách đó để phát triển công
tác kinh doanh và xây dựng một chế độ để khuyến khích chấp hành
những chính sách đã đề ra.
o Xây dựng kế hoạch phân phối : đây được xem là cách tổ chức công
việc tiên tiến nhất, kết hợp được những nhu cầu của doanh nghiệp
và người phân phối. Doanh nghiệp nghiên cứu nhu cầu của người
phân phối và xây dựng kế hoạch bán hàng tối ưu nhất. Doanh
nghiệp phối hợp cùng người phân phối dự kiến các chỉ tiêu bán
hàng, quảng cáo, khuyến mãi…
Đánh giá các thành viên trong kênh :
Đi đôi với việc khuyến khích cần phải tiến hành đánh giá các thành viên
trong kênh phân phối. Việc đánh giá chính xác là công cụ hết sức đắc lưc để
giúp công tác quản lý kênh duy trì và phát triển việc điều khiển các hoạt động
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
15
hiện thời của kênh cũng như xét duyệt lại hiệu quả của các chức năng phân phối
đang thực hiện trong kênh và triển vọng của các nhà phân phối.
Việc đánh giá được tiến hành đònh kỳ và thông thường theo những tiêu chuẩn
như mức tiêu thụ, tình hình duy trì tồn kho, khả năng phân phối của các trung
gian, sự hợp tác với các chương trình khuyến mãi và huấn luyện, cùng khả năng
đương đầu với việc cạnh tranh của người trung gian.
Điều chỉnh những thỏa thuận của kênh :
Ngoài việc xây dựng một kênh phân phối và vận hành nó tốt, doanh nghiệp
còn phải đònh kỳ sử a đổi hệ thống cho phù hợp với những điều kiện mới trên thò
trường. Việc điều chỉnh trở nên cần thiết khi cách thức mua hàng của người tiêu
sản phẩm trên thò trừơng từ đó dẫn đến việc phải mở rộng kênh phân phối hoặc
thay đổi cấu trúc kênh để phù hợp với tình hình thò trường.
Thông thường, các chiến lược chiêu thò đòi hỏi sự hợp tác của các trung gian
trong việc thông báo, giải thích cho khách hàng về nội dung các chương trình
chiêu thò. Hiệu quả của chiến lược chiêu thò phụ thuộc và các quyết đònh yểm trợ
của người trung gian
Trong tình hình cạnh tranh gay gắt hiện nay, thì các ưu điểm về sản phẩm,
giá cả, các hoạt động chiêu thò thường chỉ có đạt được hiệu quả trong ngắn hạn
và nhanh chóng bò đối thủ cạnh tranh bắt chước. Chỉ có các ưu điểm của hệ
thống phân phối là không dễ dàng bắt chước do được xây dựng trong một thời
gian dài. Có thể nói rằng, chiến lược phân phối làm một bộ phận có vai trò đặc
biệt quan trọng trong các hoạt động của Marketing – mix.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
17
CHƯƠNG II : HOẠT ĐỘNG PHÂN PHỐI CỦA TRUNG TÂM THÔNG TIN DI
ĐỘNG KHU VỰC II.
2.1. Thò trường thông tin di động Việt Nam :
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển :
Bưu chính viễn thông là một bộ phận hợp thành của nền kinh tế quốc dân, là
lên đồng thời chuẩn bò các điều kiện để hội nhập kinh tế thế giới.
2.1.2. Giới thiệu về công nghệ GSM :
GSM là tên viết tắt của chữ : Global System for Mobile Communication.
Mạng GSM được chia thành hai hệ thống : hệ thống chuyển mạch và hệ
thống trạm phát. Mỗi hệ thống được xây dựng trên nhiều thiết bò chuyên dùng
khác nhau.
• Hệ thống chuyển mạch xử lý cuộc gọi và các công việc liên quan đến
việc cung cấp dòch vụ cho thuê bao.
• Hệ thống trạm phát xử lý công việc liên quan đến truyền phát sóng radio.
Hiện tại, mạng GSM đang hoạt động trên ba băng tần : 900, 1800 và 1900
MHZ.
Vì GSM là chuẩn chung nên thuê bao có thể dùng điện thoại hệ GSM tại tất
cả các mạng GSM trên thế giới
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
19
Ngày nay, hệ thống thông tin di động toàn cầu (GSM) đã chiếm tới hơn 70%
thò trường thông tin di động toàn thế giới với hơn 600 triệu người sử dụng với
trên 450 nhà khai thác tại 172 quốc gia. Qua đó khẳng đònh ưu thế của hệ thống
GSM so với các hệ thống thông tin di động khác. Bên cạnh đó, các thò trường
thông tin di động GSM ở châu Á, châu u, châu Mỹ và châu Phi cũng đang phát
triển với tốc độ rất nhanh. Sự thành công của các hệ thống GSM hiện có vẫn
đang thu hút sự quan tâm của các nhà khai thác mới. Vì họ dễ dàng nhận thấy
các lợi ích rõ ràng mà hệ thống GSM đem lại như : có hệ thống tiêu chuẩn rõ
ràng; dễ dàng trong triển khai, lắp đặt, áp dụng cấu trúc mở cho việc roaming
quốc tế và cung cấp các các dòch vụ gia tăng giá trò. Do vậy việc chấp nhận
GSM đồng nghóa với việc thu được lợi nhuận nhanh, ít chòu rủi ro và thỏa mãn
được nhu cầu của khách hàng.
Tuy hệ thống GSM đã phát triển rộng khắp trên toàn thế giới, nhưng hiệp hội
GSM quốc tế đã chỉ ra một số thách thức đối với thế hệ công nghệ GSM, có ảnh
hưởng đến việc duy trì sự tăng trưởng và phát triển của hệ thống. Bước phát
nhiều dòch vụ mới hơn, cho nhiều người sử dụng hơn và bằng nhiều phương thức
khác nhau. Nhận thức được điều này MobiFone đã tích cực phát huy mọi nguồn
lực đầu tư và nâng cao hiệu quả đầu tư, chú trọng đầu tư vào công nghệ mới.
Trong năm 2002, chỉ riêng MobiFone đã hoàn thành khối lượng đầu tư xây dựng
mạng lưới là 38,6 triệu USD, đưa tổng số vốn đầu tư nước ngoài trong khuôn khổ
BCC lên 192,8 triệu USD. Trong thời gian tới sẽ đầu tư thêm 50 triệu USD vào
mạng lưới nhằm nâng cao chất lượng mạng lưới, hiệu quả và tăng sức cạnh tranh
cho sản phẩm cũng như thương hiệu MobiFone.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
21
Qua bảng 2.1. ta có thể nhận thấy rằng : công nghệ GSM là công nghệ được
nhiều nước lựa chọn sử dụng nhất trong lónh vực thông tin di động, đồng thời
công nghệ này dễ dàng nâng cấp được lên thế hệ 3G. Một trong những công
nghệ hiện đại nhất của hệ thống thông tin di động trên thế giới. Do vậy, việc lựa
chọn công nghệ GSM để phát triển mạng thông tin di động tại Việt Nam là hoàn
toàn đúng hướng, phù hợp với mục tiêu “ công nghệ đón đầu “ của Bộ Bưu chính
Viễn thông Việt Nam.
Bảng 2.1. Tình hình sử dụng công nghệ GSM tại một số quốc gia ở Châu Á
STT Nước, lãnh
thổ
Số mạng
thông tin
di động
Số mạng
sử dụng
công nghệ
GSM
9 Đài Loan 9 6
Chunghwa Telecom, Far Eastone,
KG Telecom, MobiTai Comm,
Taiwan Cellular Corp, Tranasia
Telecom.
(Nguồn : ITU, tuần báo viễn thông châu Á-tính đến tháng 5/2002)
2.2. Hoạt động phân phối của Trung tâm Thông tin di động khu vực II ( Trung
tâm TTDĐ KV II ) :
2.2.1. Giới thiệu về Trung tâm TTDĐ KV II :
2.2.1.1. Giới thiệu công ty thông tin di động :
Ngày 16-04-1993, theo quyết đònh số 321/QĐ-TCCB của Tổng cục trưởng
Tổng cục Bưu Điện đã ký quyết đònh thành lập Công ty Thông Tin Di Động,
trực thuộc Tổng Công ty Bưu Chính Viễn Thông Việt Nam, với tên giao dòch
quốc tế là VIETNAM MOBILE TELECOM SERVICES CO. (VMS) thương
hiệu là MOBIFONE (VMS-MOBIFONE).
Công ty thông tin di động có chức năng nhiệm vụ : tổ chức xây dựng và phát
triển mạng lưới, quản lý, khai thác và kinh doanh dòch vụ thông tin di động, phục
vụ các nhiệm vụ chính trò theo kế hoạch của Tổng công ty Bưu chính Viễn thông
Việt Nam giao.
Công ty thông tin di động VMS – MobiFone.
Đòa chỉ: 811A Giải Phóng, Quận Hai Bà Trưng, Hà Nội
Điện thoại: 84.4.8649533
Công ty có ba Trung tâm di động khu vực tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí
Minh, Thành phố Đà Nẵng.
• Trung tâm thông tin di động khu vực I :
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
23
o Chòu trách nhiệm khai thác, vận hành và kinh doanh mạng
MobiFone tại các tỉnh và thành phố từ Quảng Bình trở ra
phía Bắc.
của Công ty VMS – MobiFone.
2.2.2. Các sản phẩm và dòch vụ của Trung tâm TTDĐ KV II :
Hiện nay, Trung tâm TTDĐ KV II đang cung cấp cho thò trường thông tin di
động các loại sản phẩm sau :
• Thuê bao trả sau tên dòch vụ là thuê bao MobiFone
• Thuê bao trả trước bao gồm 3 loại dòch vụ : thuê bao MobiCard, thuê bao
Mobi4U và thuê bao MobiPlay
• Thẻ cào là loại thẻ dùng để lưu giữ mã nạp tiền nạp tiền vào tài khoản
cho các thuê bao trả trước MobiCard, Mobi4U và MobiPlay
2.2.2.1. Thuê bao trả sau :
Thuê bao trả sau là loại hình thuê bao thanh toán cước hàng tháng, tên dòch
vụ của thuê bao trả sau là thuê bao MobiFone.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
25
Để sử dụng một thuê bao MobiFone bạn phải đóng một khoản tiền ban đầu
gọi là cước hòa mạng. Giá quy đònh của Tổng công ty Bưu chính viễn thông là :
Cước hoà mạng = 363.636 đồng
VAT (10%) = 36.364 đồng
Tổng cộng = 400.000 đồng/lần
Cước thuê bao tháng : là phần cước phí bạn phải trả hàng tháng để duy trì
đường dây thuê bao :
Cước thuê bao = 109.091 đồng
VAT (10%) = 10.909 đồng
Tổng cộng = 120.000 đồng/tháng
Cước cuộc gọi : là khoản phí phải trả mỗi khi bạn thực hiện một cuộc gọi ra,
số tiền này được tính chung vào hoá đơn hằng tháng. Theo quy đònh của Tổng
công ty Bưu chính viễn thông và phân vùng phủ sóng của VMS - MobiFone,
cước cuộc gọi được chia làm 2 loại ( giá này đã bao gồm 10% thuế V.A.T ) :
• Cước nội vùng : 1.800 đồng/phút
• Cước liên vùng : 2.700 đồng/phút