Thủ tục phá sản các tổ chức tín dụng theo pháp luật Việt Nam - Pdf 31

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP. HỒ CHÍ MINH

DƢƠNG KIM THẾ NGUYÊN

THỦ TỤC PHÁ SẢN
CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: LUẬT KINH TẾ Mã số 62.38.50.01
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS TS PHẠM DUY NGHĨA

TP. HỒ CHÍ MINH, NĂM 2015


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết
quả nghiên cứu nêu trong Luận án là trung thực và tôi xin chịu trách nhiệm về tất
cả những số liệu và kết quả nghiên cứu đó. Luận án này chƣa từng đƣợc công bố
trong bất kỳ công trình nào khác.

Ngày 08 tháng 10 năm 2015

Dƣơng Kim Thế Nguyên


GIẢI THÍCH CHỮ VIẾT TẮT
ACB

Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần Á Châu


Tổ chức tín dụng

TNHH

Trách nhiệm hữu hạn

UBND

Ủy ban nhân dân

TMCP

Thƣơng mại Cổ phần

VAMC

Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên quản lý tài sản
của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VIETNAM ASSET
MANAGEMENT COMPANY)


MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU .........................................................................................................1
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu.................................................................1
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ...................................................................4
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu ....................................................................5
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của Luận án .....................................................7
5. Tính mới của Luận án.......................................................................................7
6. Kết cấu của Luận án .........................................................................................8

2.3.3 Thủ tục phá sản các TCTD theo pháp luật Liên bang Nga .......................77
2.3.4 Một số nhận xét về thủ tục phá sản các TCTD tại Hoa Kỳ, Anh và Nga .82
Kết luận Chƣơng 2 ....................................................................................................83
Chƣơng 3 THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ THỦ
TỤC PHÁ SẢN TỔ CHỨC TÍN DỤNG ..................................................................86
3.1 KIỂM SOÁT ĐẶC BIỆT VỚI TÍNH CHẤT L THỦ TỤC PHỤC HỒI ĐỐI
VỚI TỔ CHỨC TÍN DỤNG MẤT KHẢ NĂNG THANH TOÁN, MẤT KHẢ
NĂNG CHI TRẢ ...................................................................................................87
3.1.1 Thủ tục kiểm soát đặc biệt đối với TCTD có nguy cơ mất khả năng thanh
toán, mất khả năng chi trả ..................................................................................89
3.1.2 Các biện pháp phục hồi tổ chức tín dụng khả năng thanh toán, mất khả
năng chi trả khác .................................................................................................99
3.2 CÁC QUY ĐỊNH ĐẶC THÙ TRONG THỦ TỤC PHÁ SẢN TỔ CHỨC TÍN
DỤNG TẠI TÒA ÁN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY .............................................107
3.2.1 Quy định đặc thù về nộp đơn và thụ lý đơn yêu cầu giải quyết phá sản các
TCTD tại tòa án. ...............................................................................................110
3.2.2 Quy định đặc thù về một số loại chủ thể có quyền và nghĩa vụ nộp đơn
yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với TCTD ......................................................118
3.2.3 Quy định đặc thù về thủ tục rút gọn cho phá sản TCTD .........................123
3.2.4 Quy định đặc thù về quản lý tài sản phá sản, bảo toàn tài sản và thứ tự
thanh toán tài sản của TCTD ............................................................................127
Kết luận Chƣơng 3 ..................................................................................................132


Chƣơng 4 HO N THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ THỦ TỤC PHÁ SẢN TỔ
CHỨC TÍN DỤNG .................................................................................................134
4.1. NHỮNG YÊU CẦU CỦA VIỆC HO N THIỆN PHÁP LUẬT VỀ THỦ
TỤC PHÁ SẢN TỔ CHỨC TÍN DỤNG TẠI VIỆT NAM ................................134
4.1.1 Pháp luật về thủ tục phá sản TCTD phải thể hiện chủ trƣơng, đƣờng lối
của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển thị trƣờng tiền tệ .........................134

1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong điều kiện của nền kinh tế thị trƣờng, dƣới tác động của cạnh tranh, phá
sản doanh nghiệp xảy ra nhƣ một hiện tƣợng tất yếu. Qua các thời kỳ lịch sử khác
nhau, thái độ ứng xử của công chúng lẫn Nhà nƣớc đối với hiện tƣợng phá sản các
doanh nghiệp có nhiều sự khác biệt1: từ việc đứng về bảo vệ quyền lợi cho chủ nợ,
xem thủ tục phá sản chỉ đơn thuần là một thủ tục thanh toán nợ đặc biệt kèm với
việc trừng phạt chủ doanh nghiệp bị phá sản đến việc bảo vệ quyền lợi cho nhiều
chủ thể khác nhau trong vụ việc phá sản, xem phá sản nhƣ là một thủ tục giải quyết
tình trạng mất khả năng thanh toán và tìm những giải pháp phục hồi doanh nghiệp
trƣớc khi quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp. Ngày nay, ngƣời ta coi phá sản
nhƣ là một hiện tƣợng cần đƣợc đối xử phù hợp hơn thay vì quay lƣng với nó 2.
Trong nền kinh tế thị trƣờng, các TCTD, với tƣ cách là các định chế tài chính
trung gian, hoạt động nhƣ những doanh nghiệp cung cấp các dịch vụ đặc biệt. Là
doanh nghiệp kinh doanh, các TCTD tất yếu cũng đối mặt với cạnh tranh, rủi ro,
phá sản nhƣ bất kỳ doanh nghiệp nào khác. Tuy nhiên, những đặc thù trong ngành
nghề kinh doanh tạo cho các TCTD không chỉ là các doanh nghiệp nhằm tìm kiếm
lợi nhuận nhƣ doanh nghiệp thông thƣờng mà hơn thế, nó còn đảm nhận những vai
trò đặc biệt cho nền kinh tế. TCTD là định chế tài chính trung gian, nhận tiền gửi để
cho vay và cung cấp các dịch vụ thanh toán nên TCTD đƣợc biết đến nhƣ là những
trung tâm trung chuyển vốn quan trọng bậc nhất cho nền kinh tế, thậm chí, nó đƣợc
ví nhƣ những mạch máu giúp cho cơ thể - nền kinh tế vận hành một cách hiệu quả.
Một TCTD có trục trặc có thể ảnh hƣởng tiêu cực đến hoạt động bình thƣờng của
từng thành tố của nền kinh tế, từ doanh nghiệp lớn, nhỏ cho đến những ngƣời dân
và tổ chức khác trong xã hội. Đồng thời, sự cộng hƣởng và lan truyền từ TCTD có
trục trặc này đến các TCTD khác có thể tác động đến an ninh tài chính quốc gia và
toàn bộ nền kinh tế. Thực tế ở nhiều nƣớc cho thấy khi TCTD mất khả năng thanh
toán, Nhà nƣớc thƣờng sử dụng các biện pháp nhằm phục hồi, tái cơ cấu, hỗ trợ tài
chính để khắc phục tình trạng mất khả năng thanh toán để ƣu tiên áp dụng trong giai
đoạn tiền phá sản và vì thế thanh lý và đóng cửa TCTD, có thể là những tuyên bố
công khai hay ngầm định tại nhiều nƣớc, là điều không thể hoặc rất hiếm xảy ra.

nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trƣờng, Luật Phá sản doanh
nghiệp 1993 có thể đƣợc xem là văn bản pháp luật đầu tiên về phá sản đƣợc ban
hành sau khi Việt Nam thực hiện chính sách “đổi mới”. Sau hơn 10 năm thi hành,
Luật Phá sản doanh nghiệp 1993 đã đƣợc thay thế bằng Luật Phá sản 2004. Điều
thống nhất là cả hai văn bản này đều xem TCTD là doanh nghiệp đặc biệt. Điều này
cũng thể hiện đƣợc nhận thức của các nhà lập pháp là cần những quy định đặc thù
khi áp dụng Luật Phá sản cho các TCTD. Vì vậy, cả hai đạo luật này đều quy định
Chính phủ có thẩm quyền quy định riêng về phá sản các doanh nghiệp đặc biệt –
trong đó có TCTD. Tuy nhiên, cho đến năm 2010, một Nghị định nhƣ thế mới đƣợc
ban hành – Nghị định số 05/2010/NĐ-CP ngày 18/01/2010 của Chính phủ về áp
dụng luật phá sản đối với các TCTD. Tuy vậy, trên thực tế chƣa có một vụ việc nào
liên quan đến giải quyết phá sản TCTD theo cả hai đạo luật này.

3

Phạm Duy Nghĩa (2004), Chuyên khảo Luật kinh tế, NXB Đại học quốc gia Hà Nội, trang 701-705.
Phạm Duy Nghĩa (2003), Đi tìm triết lý của Luật Phá sản, Nghiên cứu Lập pháp số 11 (34), tháng 11 năm
2003, tr. 35 – 46
4


3

Năm 2014, Quốc hội đã thông qua một văn bản pháp luật mới thay thế cho
Luật Phá sản 2004. Đặc biệt, với Luật Phá sản 2014, vấn đề phá sản TCTD đã đƣợc
đƣa thành một chƣơng riêng. Mặc dù chỉ với 8 điều nhƣng các quy định của Luật
Phá sản 2014 đã thể hiện quan điểm khá rõ về việc coi vấn đề phá sản các TCTD
với tƣ cách là một doanh nghiệp đặc biệt cần có các quy định có tính cách đặc thù
để xử lý phá sản đối với TCTD.
Trong khi đó, dƣới tác động của khủng hoảng kinh tế thế giới, hoạt động trong


sự khác biệt thì những hệ thống pháp luật khác nhau đó dựa trên những cơ sở lý
luận gì để xây dựng các quy định về xử lý phá sản TCTD?
3. Pháp luật về giải quyết tình trạng mất khả năng thanh toán các TCTD ở Việt
Nam hiện nhƣ thế nào, có hạn chế, bất cập gì? đáp ứng đƣợc nhu cầu phát triển ổn
định, lành mạnh và bền vững của hệ thống các TCTD? Cần có những thay đổi gì để
đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế ở Việt Nam? Sự thay đổi đó dựa trên cơ sở lý
luận và thực tiễn nào?
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của Luận án là làm rõ cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của tính đặc
thù về thủ tục phá sản áp dụng đối với TCTD; hệ thống hóa và phân tích, đánh giá
các quy định của pháp luật Việt Nam về thủ tục phá sản đối với các TCTD; từ đó đề
xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về thủ tục phá sản các TCTD ở Việt Nam.
Luận án sẽ nghiên cứu các lý thuyết pháp luật áp dụng để xác định điều kiện
TCTD lâm vào tình trạng mất khả năng thanh thanh toán, các thủ tục đặc thù và các
biện pháp can thiệp đặc biệt để xử lý tình trạng mất khả năng thanh toán của các
TCTD.
Luận án khái quát hóa cơ sở lý luận và thực tiễn quy định của pháp luật Việt
Nam về thủ tục phá sản đối với các TCTD, đánh giá và phân tích, từ đó chỉ ra các
hạn chế để hoàn thiện cơ sở lý luận làm định hƣớng cho việc hoàn thiện pháp luật
về thủ tục phá sản các TCTD ở Việt Nam.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện đƣợc mục tiêu nói trên, Luận án có các nhiệm vụ cụ thể sau đây:
- Làm rõ cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của các quy định có tính đặc thù
trong thủ tục giải quyết tình trạng mất khả năng thanh toán (thủ tục phá sản) các
TCTD so với với thủ tục phá sản các doanh nghiệp kinh doanh thông thƣờng.
- Làm rõ kinh nghiệm của một số nƣớc có nền kinh tế thị trƣờng phát triển
(Hoa Kỳ, Anh), nƣớc có nền kinh tế chuyển đổi (Nga) đã xây dựng và hoàn thiện
pháp luật về thủ tục giải quyết tình trạng mất khả năng thanh toán áp dụng cho các

phá sản đƣợc nhìn nhận là một lĩnh vực pháp luật hình thức. Vì lẽ đó, thủ tục phá
sản chỉ đƣợc xem là bắt đầu từ khi các chủ thể có quyền và nghĩa vụ nộp đơn yêu
5

Việc Luận án lựa chọn kinh nghiệm xây dựng và thực thi pháp luật tại ba quốc gia nêu trên vì những lý do
sau đây:
- Theo quan sát của tác giả, ở các nƣớc có nền kinh tế thị trƣờng phát triển, đa số các nƣớc xây dựng pháp
luật về xử lý phá sản theo mô hình của Hoa Kỳ hoặc mô hình Châu Âu. Trong đó, Anh là quốc gia phản ảnh
những tính chất khá điển hình của mô hình xử lý phá sản theo kiểu Châu Âu với việc hầu nhƣ giao việc phá
sản cho tòa án giải quyết chứ không bằng con đƣờng hành chính. Mặc khác, những xu hƣớng phát triển gần
đây trong pháp luật về xử lý phá sản tại hai quốc gia này đã ngày càng giảm dần sự cách biệt. Điều này thể
hiện sự ảnh hƣởng qua lại và những nỗ lực tìm kiếm các điểm chung trong xử lý phá sản các TCTD ở các
nƣớc nhằm đáp ứng nhu cầu quốc tế hóa hệ thống các ngân hàng và vấn đề xử lý các ngân hàng có tính cất
xuyên biên giới, các ngân hàng đa quốc gia.
-Nga là quốc gia có nền kinh tế chuyển đổi. Chính vì vậy, bối cảnh lập pháp của các quốc gia này có những
điểm tƣơng đối tƣơng đồng với Việt Nam. Việc nghiên cứu các kinh nghiệm thành công lẫn thất bại của các
quốc gia này có ý nghĩa quan trọng trọng việc xây dựng và kiểm định các lý luận khoa học và thực tiễn thực
hiện xử lý phá sản theo pháp luật Việt Nam.


6

cầu tòa án mở thủ tục phá sản. Tuy nhiên, Luận án này tiếp cận phá sản dưới góc độ
là một quá trình giải quyết tình trạng mất khả năng thanh toán và việc giải quyết
bắt đầu từ khi đối tƣợng là TCTD bị mất khả năng thanh toán. Hệ quả của quá trình
giải quyết này không phải chỉ có một kết cục là tuyên bố phá sản mà có thể có nhiều
hệ quả khác nhau, bao gồm cả phục hồi, tái cơ cấu doanh nghiệp. Xuất phát từ
những đặc thù của TCTD mà việc mất khả năng thanh toán của TCTD có thể phải
đƣợc xử lý bằng các biện pháp can thiệp đặc biệt ngoài tòa án. Do vậy phạm vi
nghiên cứu Luận án là các quy định nhằm can thiệp, xử lý khi TCTD có dấu hiệu


tranh lớn hơn và dựa trên nền tảng công nghệ, quản trị ngân hàng tiên tiến, phù hợp
với thông lệ, chuẩn mực quốc tế về hoạt động ngân hàng…”. Phù hợp với mục tiêu
của đề án này, Tác giả xác định rằng khi đề xuất các định hƣớng và giải pháp cho
việc hoàn thiện pháp luật Việt Nam, Luận án đề xuất các giải pháp với tầm nhìn dự
kiến cho đến năm 2020.
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của Luận án
Về phƣơng diện khoa học, nghiên cứu Luận án có ý nghĩa thiết thực trong việc
góp phần nghiên cứu hoàn thiện cơ sở lý luận khẳng định nhu cầu xây dựng các quy
định riêng về phá sản các TCTD và cơ sở lý luận cho việc hoàn thiện thủ tục phá
sản các TCTD ở Việt Nam. Từ những kết quả nghiên cứu này sẽ tạo cơ sở lý luận
cho cơ quan lập pháp, các nhà hoạch định chính sách, các cơ quan quản lý Nhà
nƣớc liên quan trong việc xây dựng, thực hiện và áp dụng pháp luật về xử lý phá
sản đối với các TCTD.
Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu của Luận án chỉ ra những hạn chế trong
thủ tục phá sản các TCTD ở Việt Nam, từ đó kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn
đề này.
Kết quả nghiên cứu Luận án là nguồn tham khảo hữu ích cho việc nghiên cứu
và giảng dạy pháp luật về phá sản nói chung và pháp luật về phá sản ngân hàng nói
riêng tại các cơ sở đào tạo Luật và kinh tế.
5. Tính mới của Luận án
Cho đến thời điểm hoàn thành Luận án thì đây là đề tài nghiên cứu khoa học
đầu tiên ở trình độ tiến sĩ về thủ tục phá sản các TCTD tại Việt Nam. Luận án đóng
góp cho khoa học pháp lý những điểm mới sau đây:
Thứ nhất: Luận án đã xây dựng và bổ sung vào hệ thống lý luận của khoa học
luật phá sản và phá sản TCTD bao gồm: (1) khái niệm thủ tục phá sản, khái niệm
phá sản TCTD, (2) phân tích và chứng minh dƣới khía cạnh khoa học tính chất đặc
thù của các TCTD và sự cần thiết phải thiết lập các quy định đặc thù về phá sản
TCTD.
Thứ hai: Bằng việc phân tích kinh nghiệm xây dựng và hoàn thiện pháp luật ở

Chƣơng 3: Các quy định của pháp luật Việt Nam về giải quyết phá sản các
TCTD
Chƣơng 4: Hoàn thiện pháp luật Việt Nam về thủ tục phá sản các TCTD.


9

CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ NHỮNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU CỦA
LUẬN ÁN
1.1. TỔNG QUAN T NH H NH NGHIÊN CỨU
1.1.1. T nh h nh nghiên cứu ở nƣớc ngoài
Ở các nƣớc có nền kinh tế thị trƣờng phát triển, hoạt động ngân hàng chịu
nhiều áp lực của cạnh tranh. Vì thế, vấn đề phá sản các ngân hàng đã đƣợc đặt ra
khá sớm. Thực tế cho thấy các cuộc khủng hoảng tài chính thƣờng khởi phát bởi sự
sụp đổ của một hoặc một số các tổ chức tài chính. Vì vậy, để hạn chế việc lan
truyền và suy sụp kinh tế, một cách ngầm định hay biểu lộ công khai bằng các chính
sách, chính phủ các nƣớc thƣờng can thiệp giúp các các ngân hàng có nguy cơ sụp
đổ để hỗ trợ các ngân hàng này tránh bị phá sản.
Trong điều kiện của nền kinh tế thị trƣờng, ngân hàng thƣơng mại và các
TCTD khác cũng là các doanh nghiệp nhƣng tại sao chúng lại thƣờng nhận đƣợc sự
can thiệp để hạn chế xảy ra phá sản? Hơn 30 năm trƣớc, với bài viết "Are banks
special?" (Các ngân hàng là đặc biệt?) vào năm 1983, Gerald Corrigan đã đƣợc xem
nhƣ là một trong những ngƣời đầu tiên đƣa ra giải thích khá đầy đủ và hoàn chỉnh
về sự cần thiết của các chính sách can thiệp, hỗ trợ của Nhà nƣớc đối với các ngân
hàng thƣơng mại. Trong bài viết này, ông xác định ba đặc điểm khiến các ngân
hàng đặc biệt và việc Fed (Cục dự trữ liên bang Hoa Kỳ - Federal Reserve System)
phải quản lý các ngân hàng là điều hợp lý. Ông cho rằng các ngân hàng là đặc biệt
bởi vì: (1) ngân hàng cung cấp các giao dịch qua tài khoản, (2) chúng là những
nguồn dự phòng thanh khoản cho tất cả các tổ chức tài chính và phi tài chính khác;

lý do để tin rằng ở tất cả các quốc gia thì sụp đổ ngân hàng gây ra tổn hại nhiều hơn
sụp đổ của các tổ chức kinh doanh khác có cùng quy mô. Sự sụp đổ ngân hàng có
thể gây nhiều thiệt hại cho khách hàng và các chủ nợ khác, phá vỡ mối quan hệ lâu
dài giữa khách hàng và ngân hàng, gián đoạn hệ thống thanh toán, và gây ra hiệu
ứng domino với các ngân hàng khác, các tổ chức và thị trƣờng tài chính, và thậm
chí ngay cả nền kinh tế vĩ mô.7
Ở một khía cạnh khác, các ngân hàng thƣờng là các tổ chức tài chính lớn và có
mức độ phổ quát trong công chúng, vì thế đƣợc coi nhƣ là các tổ chức quá lớn
không thể đổ vỡ (too big to fail). Trong một cuốn sách có nhan đề “The myth of too
big to fail” (Huyền thoại về quá lớn để sụp đổ) của Imad A. Mosa do Nhà xuất bản
Palgrave Macmillan xuất bản ở Australia năm 2010, Tác giả này đã cho rằng quan
niệm các tổ chức tài chính quá lớn để có thể đổ vỡ (too big to fail) hoặc quá phổ
quát, quá mang tính đại chúng để khó mà đổ vỡ (too public to fail) chỉ là những
quan niệm có tính chất chủ quan của nhà quản lý (Nhà nƣớc) mà không dựa trên
những luận cứ có tính chất khoa học rõ ràng nào8. Trong xuyên suốt mƣời chƣơng
của cuốn sách sách này, tác giả đã đi từ khái niệm, sự hình hành học thuyết, sự vận
dụng của học thuyết để giải quyết các vụ phá sản các tổ chức lớn, chỉ ra các trƣờng
hợp tiêu cực, đến các lập luận chống lại học thuyết ấy. Các lập luận mà tác giả này
đƣa ra chống lại học thuyết quá lớn không thể sụp đổ trong đó có: (1) khó xác định
tổ chức nào là lớn để sử dụng chính sách này, (2) chi phí cứu trợ tốn kém (các chi
phí này nên dành cho những hoạt động có ý nghĩa hơn cho nền kinh tế nhƣ tạo việc
làm), (3) khuyến khích đầu tƣ vào lĩnh vực tài chính, một lĩnh vực tìm kiếm lợi
nhuận bằng cho vay mà không tạo ra hàng hóa, (4) tạo ra “rủi ro đạo đức – moral
harzard”9, (5) Thế hệ tƣơng lai phải gánh nợ hoặc siêu lạm phát. Theo lập luận của
7

George G. Kaufman (1996), “Bank failure, systemic risk, and bank regulation”, Carto Journal,
Spring/Summer, trang 17-45,
8
Imad A. Moosa (2010)- The myth of too big to fail - Palgrave Macmillan.

Bài viết “Insolvency – why a special regime for banks?”10 (Mất khả năng
thanh toán – tại sao cần một chế độ đặc biệt cho các ngân hàng) của Eva Hüpkes đã
lý giải về sự cần thiết phải có một cơ chế đặc biệt cho việc giải quyết phá sản ngân
hàng. Tác giả cũng thể hiện quan điểm về việc cần thiết phải có cơ chế đặc biệt cho
việc thoát khỏi thị trƣờng của các ngân hàng sao cho bảo đảm cân bằng và hài hòa
lợi ích của chủ nợ, cổ đông ngân hàng, công chúng và ổn định tài chính.
Bài viết “The economic perspective of bank bankruptcy” (khía cạnh kinh tế
của phá sản ngân hàng) của Matej Marinic và Razvan Vlahu11 đề cập vấn đề lý luận
và thực tiễn về giải quyết phá sản đối với các ngân hàng thƣơng mại tại các nƣớc
phát triển dƣới góc nhìn của kinh tế học pháp luật. Trong công trình nghiên cứu
này, các tác giả đã chứng minh rằng luật phá sản áp dụng cho các doanh nghiệp
thông thƣờng không thể áp dụng đƣợc cho các ngân hàng thƣơng mại, từ đó đề xuất
một khuôn khổ pháp lý riêng cho giải quyết phá sản ngân hàng. Các tác giả cũng đã
tiến hành nghiên cứu luật phá sản áp dụng cho các ngân hàng tại ba nƣớc Hoa Kỳ,
Anh và Đức, đồng thời phân tích hai trƣờng hợp giải quyết phá sản điển hình từ
cuộc khủng hoảng tài chính 2007-2009 là sự phá sản của ngân hàng Lehman
Brother của Hoa Kỳ và tập đoàn tài chính Fortis của Bỉ và Hà Lan. Từ những khảo
sát này tác giả đã khẳng định một cơ chế riêng biệt về phá sản ngân hàng cần nhấn
10

Hüpkes E, (2003), “Insolvency – why a special regime for banks”, Current Development in Monetary and
Financial Law, vol 3, Washington D.C., International Monetary Fund.
11
Matej Marincˇ and Razvan Vlahu (2011), The Economic Perspective of Bank Bankruptcy Law, De
Nederlandsche Bank NV, Working Paper No. 310, August 2011.


12

mạnh đến việc thiết lập một khuôn khổ hiệu quả cho việc tái cấu trúc và thanh lý tài

Reluation, Economic Perspective, FRB of Chicago Working Paper.
13
Richard M. Hynes and Steven D. Walt, Why Banks are Not Allowed in Bankruptcy, 67 Wash. & Lee L.
Rev. 985 (2010).
14
Lý do thứ nhất là FDIC giúp cho việc kiểm soát tài sản và khả năng thanh toán của ngân hàng, từ đó duy trì
niềm tin của ngƣời gửi tiền vào ngân hàng. Lý do thứ hai là FDIC đóng vai trò là chủ nợ lớn nhất, từ đó sẽ cố
gắng hành động nhằm thúc đẩy tối đa hóa khả năng thu hồi nợ cho các chủ nợ.
15
Kern Alexander (April 2009), resolution regimes: balancing prudential regulation and shareholder rights,
Journal of Corporate Law Studies vol 9, part I, p62-93.


13

cổ đông) của tác giả Kern Alexander đề cập đến những lƣu ý cơ bản trong mối quan
hệ giữa chủ nợ và quyền cổ đông ngân hàng khi xây dựng các quy định cơ chế giải
quyết phá sản ngân hàng.
Ngoài những bài viết tiêu biểu trên đây mà qua những nỗ lực cao nhất tác giả
có thể sƣu tầm và lựa chọn đƣợc, một số công trình nghiên cứu khác cũng đã đề cập
đến luật phá sản ngân hàng tại một số quốc gia cụ thể. Bài viết “The UK Special
Resolution Regime for failing banks in an international context” (Chế độ giải quyết
đặc biệt cho các ngân hàng vỡ nợ ở Vƣơng quốc Anh trong một bối cảnh quốc tế)
của tác giả Peter Brierley16 đăng trên tạp chí Financial Stability Paper No. 5 – July
2009 trình bày về cơ chế giải quyết vỡ nợ ngân hàng theo Luật Ngân hàng của Anh
đƣợc ban hành năm 2009; bài “Effects of the Bankruptcy Laws Reform on Banks:
The examination of recent Japanese experience” (Ảnh hƣởng của sự cải cách Luật
phá sản đến ngân hàng: nghiên cứu kinh nghiệm của Nhật Bản) của Sumio Hirose
đăng trên tạp chí Public Policy Review, Vo l.5, No.2, November 2009 đề cập đến
những thay đổi trong xử lý phá sản và những ảnh hƣởng đến ngân hàng ở Nhật

doanh thông thƣờng. Tính đặc biệt của các TCTD đòi hỏi cần thiết kế một cơ chế
giải quyết tình trạng mất khả năng thanh toán của các TCTD một cách cẩn trọng,
nhanh chóng, hiệu quả để hạn chế tối đa các tác động tiêu cực do việc sụp đổ các
TCTD gây ra.
Ngoài những nội dung tƣơng đối thống nhất nhƣ trên, dƣới khía cạnh khoa học
pháp lý, nhiều vấn đề còn đƣợc bỏ ngỏ, cần đƣợc tiếp tục nghiên cứu, cụ thể là
những vấn đề sau:
Thứ nhất, cần làm rõ các tiêu chí để sớm nhận diện một TCTD bị lâm vào tình
trạng mất khả năng thanh toán. Các điều kiện xác định một TCTD bị lâm vào tình
trạng mất khả năng có những khác biệt gì so với các công ty thƣơng mại thông
thƣờng hay không?
Thứ hai, cần làm rõ những thủ tục xử lý đặc biệt nhằm hạn chế phá sản các
TCTD khi tổ chức này có dấu hiệu mất khả năng thanh toán, mất khả năng chi trả.
Các biện pháp nào có thể đƣợc sử dụng trong thủ tục xử lý đặc biệt trƣớc thủ tục
phá sản? Thủ tục xử lý đặc biệt này nên bắt đầu từ khi nào và kết thúc khi nào? Tính
chất của thủ tục xử lý đặc biệt này có nhất thiết chỉ có thể là thủ tục tƣ pháp hay nên
là thủ tục hành chính? Chủ thể nào là phù hợp nhất để chủ trì thực hiện thủ tục xử lý
đặc biệt?
Thứ ba, cần làm rõ những điểm riêng biệt trong quá trình xử lý phá sản các
TCTD tại cơ quan tƣ pháp (tòa án) so với thủ tục phá sản các doanh nghiệp kinh
doanh thông thƣờng từ quyền nộp đơn, thụ lý đơn, thủ tục có tính đặc thù khi giải
quyết yêu cầu tuyên bố phá sản các TCTD, cơ chế đại diện cho các chủ nợ, đặc biệt
chủ nợ là ngƣời gửi tiền trong thủ tục phá sản.
Thứ tư, cần làm rõ quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong thủ tục phá sản các
TCTD để bảo đảm dung hòa các lợi ích khác biệt của các chủ thể này trong tƣơng
quan với trong toàn bộ nền kinh tế và hệ thống ngân hàng cũng nhƣ ổn định nền
kinh tế vĩ mô, các lợi ích của chủ nợ, đặc biệt là ngƣời gửi tiền của các TCTD, các
cổ đông và ngƣời quản lý các TCTD.



Cho đến nay công trình nghiên cứu có thể đƣợc coi nhƣ khá toàn diện về vấn
đề phá sản các TCTD là đề tài luận văn thạc sĩ: “Những quy định đặc thù trong việc
giải quyết phá sản TCTD” của tác giả Cao Đăng Vinh17. Luận văn đã phân tích
những khía cạnh lý luận và pháp lý về giải quyết phá sản các TCTD ở Việt Nam.
17

Cao Đăng Vinh (2009), Những quy định đặc thù trong việc giải quyết phá sản TCTD, Luận văn thạc sĩ luật
học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội.


16

Tuy nhiên, đây cũng là luận văn đƣợc thực hiện trƣớc khi có các quy định về áp
dụng Luật Phá sản để giải quyết phá sản các TCTD tại tòa án. Hơn thế nữa, khuôn
khổ của một luận văn thạc sĩ không cho phép tác giả giải quyết thấu đáo các khía
cạnh lý thuyết, thực tiễn, kinh nghiệm quốc tế cũng nhƣ đƣa ra kiến nghị lập pháp
đáng tin cậy trong xây dựng và thực thi pháp luật phá sản TCTD.
Gần đây nhất, trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 2+3 năm 2014, tác giả Lê
Thị Thu Thủy đã công bố bài viết “Hoàn thiện pháp luật về giải quyết phá sản ngân
hàng thƣơng mại và công ty chứng khoán”18. Bài viết đã phân tích những điểm bất
cập và đề xuất hƣớng sửa đổi của các quy định về phá sản ngân hàng thƣơng mại và
công ty chứng khoán ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu của bài viết cũng đã gợi mở
cho Tác giả Luận án những kiến nghị toàn diện và sâu sắc hơn trong kết quả nghiên
cứu của mình.
Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nƣớc, có thể nhận thấy chƣa có công
trình chuyên khảo ở cấp độ tiến sĩ nào chuyên sâu về chủ đề phá sản các TCTD.
Các nền tảng lý thuyết, các căn cứ để Nhà nƣớc can thiệp nhằm điều tiết về pháp lý
khi một TCTD lâm vào tình trạng phá sản chƣa đƣợc giải quyết một cách toàn diện
trong bất kỳ một công trình khoa học nào đã đƣợc công bố. Ngƣợc lại, mới chỉ xuất
hiện đơn lẻ một số bài báo bàn luận mang tính dự báo về một số khía cạnh chƣa thật

pháp xử lý có hiệu quả việc mất khả năng thanh toán, mất khả năng chi trả của các
TCTD, dung hòa các nhóm lợi ích có phần khác biệt?
1.1.3. Đánh giá tổng quan t nh h nh nghiên cứu
Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu trong và ngoài nƣớc đã nêu trên, có thể đƣa
ra một số nhận xét sơ bộ về tình hình nghiên cứu nhƣ sau:
Thứ nhất, ở các nƣớc khác nhau, việc nghiên cứu cơ chế đặc biệt để giải quyết
phá sản các TCTD khác biệt với cơ chế giải quyết phá sản các doanh nghiệp thông
thƣờng đã đƣợc đặt ra từ rất sớm. Các học giả dƣờng nhƣ đều có sự thống nhất
trong việc cần thiết phải xây dựng thủ tục xử lý phá sản các TCTD với cơ chế đặc
thù so với thủ tục xử lý phá sản các công ty thƣơng mại thông thƣờng. Điều này có
thể thấy trong hầu hết các kết quả nghiên cứu của các học giả.
Thứ hai, mặc dù các công trình nghiên cứu đều thống nhất là nên có cơ chế
giải quyết đặc biệt trong thủ tục xử lý phá sản các TCTD nhƣng các học giả vẫn
chƣa thống nhất đƣợc liệu cơ chế giải quyết riêng biệt cho các TCTD nhƣ thế nào là
tốt nhất. Từ thực tế lập pháp hiện hành đang áp dụng tại các quốc gia là mô hình
hành chính hay mô hình tƣ pháp khi áp dụng thủ tục phá sản các TCTD20, mỗi học
giả đều có những phê phán nhất định đối với từng khuynh hƣớng này.
19

Những lợi ích có liên quan là lợi ích của ngƣời gửi tiền, lợi ích các chủ nợ, lợi ích của chính TCTD bị phá
sản, lợi ích của cổ đông, lợi ích của Nhà nƣớc và nhu cầu bảo vệ sự ổn định của hệ thống các TCTD, ổn định
nền tài chính và ổn định nền kinh tế.
20
Có hai mô hình giải quyết phá sản các TCTD là mô hình hành chính và mô hình tƣ pháp. Phá sản các
TCTD theo kiểu Châu Âu là mô hình tƣ pháp, theo đó việc phá sản TCTD tuân thủ theo luật phá sản các
TCTD nhƣ là một luật chuyên ngành bên cạnh các quy định phá sản các doanh nghiệp thông thƣờng đƣợc áp
dụng nhƣ là luật chung. Khi đó, Luật phá sản doanh nghiệp nói chung cũng có thể đƣợc áp dụng cho việc giải
quyết phá sản các TCTD trong trƣờng hợp không có quy định riêng áp dụng cho TCTD. Trong mô hình này,
tòa án có vai trò quan trọng, tham gia vào việc giải quyết phá sản đối với các TCTD. Mô hình thứ hai, hiện
đang đƣợc áp dụng tại Mỹ và Canada là Luật phá sản áp dụng cho các doanh nghiệp không áp dụng cho việc


thuyết

1.2.1.1. C u h i nghiên cứu
Đề tài “Thủ tục phá sản các TCTD theo pháp luật Việt Nam” đƣợc tiến hành
để trả lời cho câu hỏi: “Những quy định về giải quyết phá sản đối với TCTD hiện
hành tại Việt Nam có những hạn chế, bất cập gì, có phù hợp với nhu cầu giải quyết
tình trạng mất khả năng thanh toán của các TCTD hay không?”. Để trả lời cho câu
hỏi này. Luận án xác định cần làm rõ câu trả lời cho các câu hỏi nhỏ sau đây:

của các cơ quan giám sát ngân hàng, các cơ quan quản lý ngân hàng khác, tổ chức bảo hiểm tiền gửi tham gia
xử lý phá sản TCTD.


19

Thứ nhất: TCTD có những đặc điểm gì khác biệt so với các doanh nghiệp
thông thƣờng? Phải chăng do xuất phát từ những điểm khác biệt này mà việc giải
quyết phá sản các TCTD cần thiết đƣợc tiến hành theo một thủ tục đặc biệt?
Thứ hai: Nếu thủ tục phá sản các TCTD thực sự cần tiến hành theo một cách
thức riêng biệt thì thủ tục đó cần phải đƣợc tiến hành nhƣ thế nào? Do cơ quan nào
tiến hành? Bắt đầu từ khi nào? Diễn tiến ra sao và kết thúc nhƣ thế nào?
Thứ ba: Làm thế nào để thủ tục phá sản các TCTD có thể tiến hành mà bảo
đảm dung hòa các lợi ích của các chủ thể (đặc biệt là lợi ích ngƣời gửi tiền tại
TCTD), bảo đảm an toàn hệ thống ngân hàng, ổn định tài chính và ổn định nền kinh
tế vĩ mô.
1.2.1.2. L thu t nghiên cứu
Đề tài luận án “Thủ tục phá sản các TCTD theo pháp luật Việt Nam đƣợc
nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác – Lê Nin về Nhà nƣớc và
pháp luật, các tri thức khoa học thuộc các ngành kinh tế tài chính, ngân hàng…


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status