TRƯỜNG ĐẠI HỌC
su' PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH - KTNN
DƯƠNG THỊ TRANG
ĐÁNH GIÁ MỐI TƯƠNG QUAN
GIỮA KHẢ NĂNG GHI NHỚ VÀ HỌC
Lực
CỦA HỌC SINH TRƯỜNG THPT
ĐINH TIÊN HOÀNG - NINH BÌNH
KHÓA LUẬN
TỐT NGHIỆP
ĐẠI
HỌC
•
•
•
•
Chuyên nghành: Sinh lý người và động v ật
Người hướng dẫn khoa học:
Th.s Ngô Thị Hải Yến
Hà Nội - 2015
KTNN
Dương Thị Trang
Khóa luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
LỜI CAM ĐOAN
Đe đảm bảo tính trung thực của đề tài, tôi xin cam đoan như sau:
1. Đề tài này tôi không hề sao chép từ bất cứ đề tài có sẵn nào.
2. Đề tài của tôi không trùng với đề tài nào khác.
3. Ket quả thu được là do nghiên cún thực tiễn, đảm bảo chính xác và trung
thực.
Neu sai tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm .
Hà nội, ngày.. .tháng 5 năm 2015
Sinh viên
Dưong Thị Trang
Khoa Sinh
-
KTNN
Dương Thị Trang
2.4.1. Thiết kế nghiên cứu...................................................................................... 12
2.4.2. Nghiên cứu khả năng ghi nhớ ngắn hạn..................................................... 13
2.4.2.1. Phương pháp nghiên cún khả năng ghi nhó' thị giác.............................. 13
2.4.2.2. Phương pháp nghiên cún khả năng ghi nhó' ngắn hạn thính giác......... 13
2.4.3. Phương pháp nghiên cứu về lực học...........................................................13
2.4.4. Xử lý số liệu..................................................................................................14
Khoa Sinh
-
KTNN
Dương Thị Trang
Khóa luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN c ứ u ................................................................15
3.1. Trí nhớ ngắn hạn của học sinh......................................................................... 15
3.1.1. Trí nhớ ngắn hạn thính giác...........................................................................15
3.1.1.1. Trí nhớ ngắn hạn thính giác theo lứa tuối................................................. 15
3.1.1.2. Trí nhớ ngắn hạn thính giác theo lứa tuổi và giới tính............................. 16
3.1.1.3. Trí nhớ ngắn hạn thính giác theo lứa tuổi và phân ban............................17
3.1.2. Trí nhớ ngắn hạn thị giác............................................................................ 19
3.1.2.1. Trí nhớ ngắn hạn thị giác theolứa tuối.......................................................19
3.1.2.2. Trí nhớ ngắn hạn thị giác theo lứa tuối và giới tính.................................20
3.1.2.3. Trí nhớ ngắn hạn thị giác theo lứa tuổi và phân ban................................ 21
thính giác theo lứa tuổi............................... 15
Bảng 3.2. Trí nhớ ngắn
hạn
thính giác theo lứa tuổi và giới tính.......... 16
Bảng 3.3. Trí nhớ ngắn
thính giác theo lứa tuôi và phân ban......................18
Bảng 3.4. Trí nhớ ngắn hạn thị giác theo lứa tuổi...................................................19
Bảng 3.5. Trí nhớ ngắn hạn thị giác theo lứa tuổi và giới tính............................. 20
Bảng 3.6. Trí nhớ ngắn thị giác theo lứa tuồi và phân ban................................... 22
Bảng 3.7. Sự phân bố học sinh theo học lực cuối học kì I năm học...................23
2014-2015.............................................................................................................. 23
Bảng 3.8. Mối tương quan giữa học lực và trí nhớ ngắn hạn thính g iác............. 28
Bảng 3.9. Mối tương quan giữa học lực và trí nhớ ngắn hạn thị g iá c ................ 30
Khoa Sinh
-
KTNN
Dương Thị Trang
Khóa luận tốt nghiệp
-
KTNN
Dương Thị Trang
Khóa luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
MỜ ĐÀU
1. Lí do chọn đề tài
Bước sang thế kỉ mới - thế kỉ XXI hiện đại với trình độ phát triển vưọt bậc
của Khoa học - Kĩ thuật, công nghệ thông tin và nền phát triển của nền kinh tế
tri thức - khoa học đã trở thành một lực lượng sản xuất trực tiếp, trong đó tiềm
năng con người, đặc biệt là trình độ văn hóa dân cư, đóng một vai trò vô cùng
quan trọng trong việc quyết định năng suất - chất lượng và hiệu quả kinh tế của
toàn bộ quá trình sản xuất, cùng với quá trình hội nhập toàn cầu đã mở ra nhiều
cơ hội cũng như thách thức cho mỗi quốc gia, đòi hỏi cần có một đội ngũ các
chuyên gia vừa có tay nghề vừa có tri thức và đội ngũ này chính là lực lượng
thanh niên thế hệ trẻ tương lai của đất nước, đặc biệt là đội ngũ học sinh, sinh
viên.
Sự nghiệp giáo dục - đào tạo có vị trí quan trọng trong chiến lược con
người, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Muốn tiến hành công
nghiệp hoá, hiện đại hoá thắng lợi phải đấy mạnh phát triển giáo dục - đào tạo vì
giáo dục đào tạo có vai trò quan trọng trong lĩnh vực sản xuất vật chất xã hội
cũng như xây dựng nền văn hoá.Vì vậy, trước tình hình và nhu cầu đó nhiều
quốc gia coi “Giáo dục là quốc sách hàng đầu”. Đe thực hiện được chiến lược
học sinh.
3. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
- Kết quả nghiên cứu đạt được có thể làm cơ sở để góp phần tìm hiểu, đánh
giá khả năng ghi nhó’ của học sinh trường THPT Đinh Tiên Hoàng - Ninh Bình.
- Bước đầu xác định mối quan hệ giữa khả năng ghi nhó' và học lực của học
sinh, từ đó có phương pháp giáo dục, dạy học phù hợp để nâng cao chất lượng
học tập của học sinh.
Khoa Sinh - KTNN
2
Dương Thị Trang
Khóa luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
NỘI DUNG
Chương 1. TỎNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Những vấn đề chung về trí tuệ
1.1.1. Các quan niệm về trí tuệ
Có nhiều thuật ngữ khác nhau được các nhà khoa học dùng đế mô tả năng
lực trí tuệ như: Trí khôn, trí thông minh, trí lực... nhưng đều xuất phát từ tiếng
Anh là: Intelligence [15], [16].
Trí tuệ là một phấm chất quan trọng trong hoạt động của con người, nó có
liên quan tới thể chất lẫn tinh thần của họ [1]. Bởi vậy, việc nghiên cứu trí tuệ
được coi là vấn đề liên nghành, đòi hỏi sự kết hợp của các nhà tâm lí học, toán
học, và các nghành khoa học khác.
- Khuynh hướng thứ hai cho rằng: coi năng lực trí tuệ là năng lực tư duy
trừu tượng và chức năng của trí tuệ là việc sử dụng có hiệu quả các khái niệm và
biếu tượng. Đại diện cho khuynh hướng này là L.Terman (1937).
- Khuynh hướng thứ ba cho rằng: coi trí thông minh là năng lực thích
ứng. Sự thích ứng này mang tính chủ động tích cực, có hiệu quả nhằm cải tạo
môi trường cho phù họp với mục đích của con người chứ không phải là sự thích
ứng thụ động. Theo N.X.Rubinsein (1940) thì trí tuệ không phải là sự thích ứng
đơn giản mà là sự thích ứng có hiệu quả. Trong công trình nghiên cứu của J
.Piaget, trí tuệ bộc lộ trong mối liên hệ giữa cơ thể và môi trường. Theo ông sự
cảm nhận thế giới khách quan ở trẻ trước hết phải qua các phản xạ hành động.
Theo Nguyễn Ke Hào [2] cho rằng, trí thông minh là một phâm chất tông
họp của trí tuệ nói riêng và là một phấm chất của nhân cách nói chung, cốt lõi
của trí thông minh chính là phẩm chất tư duy tích cực, độc lập, linh hoạt, sáng
tạo trước những vấn đề thực tiễn và lý luận. Theo Phạm Hoàng Gia [4], bản chất
của trí thông minh là một phẩm chất cao của tư duy sáng tạo đưa đến sự giải
quyết vấn đề một cách mau lẹ và thích họp trong tình hình mới; cho nên không
chỉ thể hiện ở nhận thức mà biểu hiện cả trong hành động thực tiễn. Bằng những
hiểu biết đã có và được chứng minh là có căn cứ trên cơ sở thực nghiệm,
Nguyễn Công Khanh [5] đề nghị xem trí thông minh như là năng lực tống thế
hoặc một loạt các năng lực giúp cá nhân áp dụng các kỹ năng nhận thức, xúc
cảm và sự hiểu biết đế học, để giải quyết vấn đề và đế đạt các mục đích có giá trị
hoặc để sáng tạo ra các sản phâm có giá trị trong điều kiện văn hóa - lịch sử cụ
thể. Trí thông minh là một cấu trúc phức họp hòa nhập nhiều loại năng lượng, có
tính độc lập tương đối, ổn định nhưng không tĩnh mà lại phát triển nhờ sự trải
nghiệm của cá nhân qua sự tương tác giữa các tố chất sinh học và những cơ hội
do môi trường sống của cá nhân đó tạo ra.
Khoa Sinh - KTNN
4
hiện được hay không dường như phụ thuộc vào cách thức nhắc lại thông tin.
Neu như thông tin chỉ đơn thuần là được nhắc đi nhắc lại nhiều lần (ví dụ: ta vừa
nhẩm số điện thoại vừa chạy ra máy để gọi thì đó chỉ là quá trình ghi nhớ ngắn
hạn, bởi ngay sau khi gọi điện chúng ta có thể quên ngay số điện thoại đó). Neu
như thông tin trong trí nhớ ngắn hạn được nhắc lại nhiều lần theo tiến trình gọi
là diễn tập tỉ mỉ để ghi nhớ, thì thông tin ấy có khả năng được chuyến vào kí ức
Khoa Sinh - KTNN
5
Dương Thị Trang
Khóa luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
lâu dài. Tiến trình diễn tập tỉ mỉ để ghi nhớ diễn ra khi thông tin được tìm hiểu
và sắp xếp theo một cách thức nhất định (liên hệ với thông tin ghi nhớ khác,
chuyển hoá thành hình ảnh, đưa ra mối liên hệ giữa các yếu tố của thông tin...)
-Trí nhớ về tình tiết: Khi cần nhớ về một câu chuyện, một bộ phim, hay
trả lời các câu hỏi tôi ăn gì tối qua... Khi đó bạn đang vận dụng trí nhớ về tình
tiết. Hoạt động trí nhó' tình tiết cần có sự tham gia của thùy thái dương, đồi thị,
thùy trán.
-Trí nhớ ngữ nghĩa: là sự kiện hoặc kiến thức in sâu trong não, chúng ta
không phải cố gắng suy nghĩ khi nhớ về nó. Ví dụ như một năm có 12 tháng, sự
khác nhau giữa cái bút và quyển vở... Thùy thái dương dưới ngoài chịu trách
nhiệm chính cho trí nhớ này.
-Trí nhớ kỹ năng: là nhũng thông tin giúp bạn có thê làm việc mà không
cần vận dụng suy nghĩ như: lái xe, đánh răng, cầm bút... Trí nhớ kỹ năng giúp
đoạn chính: Thu nhận dữ kiện, ghi nhớ và gợinhớ. Khi mộttrong bagiai đoạn
này không làm việc một cách hoàn hảo, ta “quên” hoặc “không nhớ rõ”.
Giai đoạn I - Thu nhận: Những dữ kiện sau khi thu nhận, nếu con người
muốn nhớ, những dừ kiện này sẽ được sắp xếp và chuyển vào não bộ, những bộ
phận liên quan tới trí nhớ.
Giai đoạn II - Ghi nhớ: Tuy nhiên, não bộ không thể ghi nhớ tất cả mọi
điều thu nhận, vì thế ta lựa chọn, dù không cố ý, điều muốn nhớ theo ba loại:
- Trí nhớ ngắn hạn (immediaterecall): Não bộ ghi nhận các dữ kiện vừa thu
nhận trong khoảng vài giây. Thí dụ đang lái xe, nhìn bảng tên đường và biết nếu
đi qua con đường ấy qua quá khứ.
- Trí nhớ trung hạn (shot term memory): Não bộ ghi nhận khoảng bảy dữ
kiện trong 2 0 - 3 0 giây. Thí dụ số điện thoại mới ghi nhận.
- Trí nhớ dài hạn (long term memory): Dừ kiện được lặp lại nhiều lần trong
tâm trí sau khi thu nhận. Thí dụ số điện thoại kể trên nếu được sử dụng nhiều
Nói chung, dữ kiện càng gây cảm xúc mạnh mẽ thì trí nhớ càng chi tiết, rõ
rệt (nhớ nhiều) và càng nhớ lâu. Thí dụ lần đầu tiên thử ăn món mắm bò hóc,
mùi tanh hôi của cá chết lâu ngày tanh hôi lên men, vị mặn của miếng mắm và
vị cay của ớt trộn trong miếng thức ăn... sẽ gợi nhớ đến một bữa ăn tại Cam
Ranh, nơi sản xuất của món ăn khó nuốt trên.
Giai đoạn III - Gợi nhớ: Khi muốn, chủ động ta có thế nhớ lại bằng cách
tìm kiếm trong não bộ và đem về các dữ kiện. Thí dụ số điện thoại. Khả năng
nhớ không đồng nhất, mỗi người nhớ một dữ kiện khác nhau. Thí dụ khi bắt gặp
hình ảnh, hương vị, hoặc cảm giác cũ, thụ động, trí nhó’ sẽ giúp ta nhận biết ngay
cảm giác ấy liên quan đến ta ra sao.
*Co’ sở’ lý thuyết về trí nhó’
Khoa Sinh - KTNN
7
qua kết quả học tập về điểm số. Năng lực học tập chính là sự vận động cá nhân
nhằm đáp ứng nhu cầu của hoạt động học tập, giúp cho việc lĩnh hội một số cách
tương đối nhanh, dễ dàng, sâu sắc các kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, nó thể hiện
qua kết quả học tập.
Các nhà khoa học dã xác định rằng việc nắm vững tri thức trong quá trình
học tập có liên quan chặt chẽ tới sự phát triển trí tuệ. Cùng với sự biến đổi đó,
trong quá trình học tập năng lực trí tuệ của người học được phát triên. Học tập là
một trong những con đường cơ bản để giáo dục và phát triển trí tuệ một cách
Khoa Sinh - KTNN
8
Dương Thị Trang
Khóa luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
toàn diện. Năng lực học tập tạo ra các năng lực khác, ngược lại khi trí tuệ chậm
phát triển sẽ ảnh hưởng đến việc nắm vững tri thức. Nhờ quá trình phát triển trí
tuệ, người học đã nảy sinh ra khả năng mới giúp họ nắm kiến thức tốt hơn, đảm
bảo chất lượng cao của việc học tập. Năng lực học tập chính là cơ sở đế tạo ra
những năng lực khác; ngược lại, khi trí tuệ chậm hay kém phát triển thì việc nắm
vững tri thức cũng sẽ bị ảnh hưởng. Nhờ có quá trình phát triển trí tuệ mà người
học có thể suy nghĩ, tìm ra những cách thức, phương thức mới giúp cho họ có
thể tiếp thu kiến thức một cách nhanh chóng, dễ dàng và đạt được kết quả cao
trong học tập. Các nghiên cún cho thấy, những người học có năng lực trí tuệ (chỉ
số IỌ) cao thì lực học thường loại giỏi. Ngược lại, ở những người có lực học
trò hoạt động đối với trí nhớ. P.M.Xêtrênop (1952) nghiên cún về cơ chế sinh lý
của trí nhớ.
Việc nghiên cứu trí tuệ ở Việt Nam đã được tiến hành trong vài chục năm
gần đây. Đã có những công trình nghiên cứu về trí nhớ của học sinh từ những
năm 1960. Đen cuối nhũng năm 1990 đã có rất nhiều những công trình nghiên
cứu về trí tuệ của trẻ em như: Trịnh Văn Bảo (1994) nghiên cứu mối liên quan
giữa yếu tố di truyền và sự phát triển trí tuệ của học sinh. Ket quả nghiên cún
cho thấy, yếu tố di truyền là tiền đề cho sự phát triển trí tuệ của học sinh [1],
Tạ Thuỷ Lan, Trần Thị Loan (1996) [7] đã nghiên cứu đánh giá sự phát
triển trí tuệ của học sinh thành phố và học sinh nông thôn. Ket quả cho thấy,
không có sự khác biệt về năng lực trí tuệ giữa học sinh nam và nữ, học sinh
thành phố có mức trí tuệ cao hon học sinh nông thôn.
Trần Thị Loan [8], [9] nghiên cún trí nhớ của học sinh tù' 6 - 17 tuối quận
Cầu Giấy, Hà Nội. Ket quả cho thấy, trí nhớ của học sinh tăng dần theo tuối
nhưng tốc độ tăng không đều.
Các công trình nghiên cứu về trí tuệ nối bật là các công trình nghiên cứu
của sinh viên trường ĐHSP Hà Nội 2 dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Xuân
Thành như: Nguyễn Thị Hải Yen (2007) nghiên cún về khả năng ghi nhớ và học
lực của học sinh trường THPT Nguyễn Khuyến - Nam Định. Ket quả trí nhớ thị
giác và thính giác trung bình của lứa tuổi 17 cao hon lứa tuổi 18; trí nhớ ngắn
hạn thị giác và thính giác giữa học sinh nam và học sinh nữ có sự chênh lệch, trí
nhớ của học sinh nam cao hơn trí nhớ của học sinh nữ; khả năng ghi nhớ và học
lực của học sinh có mối tương quan thuận nhung không chặt chẽ [14].
Khoa Sinh - KTNN
10
Dương Thị Trang
của học sinh trường THPT Đinh Tiên Hoàng - Ninh Bình trong lứa tuổi từ
16,17, 18 tuổi.
Tất cả học sinh tham gia nghiên cún đều khỏe mạnh và phát triến bình
thường.
Sự phân bố học sinh tham gia nghiên cứu có thể thấy ở bảng sau:
Bảng 1.1. Phân bố học sinh tham gia nghiên cứu
m AV
Ar
Tông sô
rp
Khôi Cơ Bản
Khôi tự nhiên
X •
Nam
Nữ
Chung
Nam
Nữ
36
68
5
00
s
'
2.2. Thòi gian nghiên cứu
Từ tháng 09- 2014 đến tháng 05- 2015.
2.3. Địa điếm nghiên cứu
Trường THPT Đinh Tiên Hoàng - Ninh Bình.
2.4. Phưong pháp nghiên cứu
2.4.1. Thiết kế nghiên cứu
-
Nghiên cứu được tiến hành theo phương pháp cắt ngang (Cross
Sectionnai Design) có nghĩa là các nhóm đổi tượng thuộc các lứa tuối khác nhau
được nghiên cứu trong cùng một thời điếm.
Khoa Sinh - KTNN
12
Dương Thị Trang
Khóa luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
- Chọn các em học sinh lứa tuổi 16,17, 18 của trường THPT Đinh Tiên
Hoàng - Ninh Bình.
- Học lực của các em được lấy từ sô điểm chính ở cuối học kì 1 năm học
2014- 2015.
2.4.2. Nghiên cứu khả năng ghi nhó’ ngắn hạn
Trường ĐHSP Hà Nội 2
2.4.4. Xử lý số liệu
Ket quả nghiên cứu được phân tích và xử lý thống kê sinh học trên máy
tính. Các số liệu được xử lỷ theo chỉ số ghi trung bình ( X ), độ lệch chuẩn (SD).
So sánh kết quả test student.
Giá trị trung bình: (X) = - - 1—
Độ lệch chuẩn: SD = ——— ------ Với n > 30
SD = -— — ------ Với n< 30
n -1
Trong đó : X : là giá trị trung bình.
Xị : là đại lượng i của X.
SD: là độ lệch chuẩn,
n: là số cá thể nghiên cún
Ta có công thức tính hệ số tương quan giữa khả năng ghi nhớ ngắn hạn và
học lực như sau:
r=—
£r=i[(*ị-*)x(>Ti-ỹ)]
*)2xEf=1(yỉ - y)2
Trong đó : r :hệ số tương quan.
Xị yr
: là đại lượng i của X, Y.
n : là số cá thể nghiên cứu.
16(1)
75
17(11)
63
So sánh
±SD
XI
8.01 ± 1.62
-
X IT
P(I-II)
>0.05
(0 .5 1 )
18(111)
69
1.79) so với lứa tuổi 16 (8.01 + 1.62) và lứa tuổi 17 (7.5 + 2.36), nhung sự
chênh lệch này không có ỷ nghĩa thống kê (p>0.05). Điều này có thể giải thích là
do lên lớp cuối cấp thái độ học tập của của các em lứa tuổi 18 đã tốt hơn, đế
chuấn bị cho hai kì thi quan trọng là đại học và tốt nghiệp nên đòi hỏi sự tập
trung chú ý sẽ cao hon. Ket quả được thê hiện rõ ở hình 3.1.
Khoa Sinh - KTNN
15
Dương Thị Trang
Khóa luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Điếm trí nhó’
8.26
8.01
■ Trí nhớ thính giác trung
bình
1
. .
/.b
± SD
Xi- Xu
P(I-II)
16
56
8.5 ± 1.74
19
7.53 ± 1.39
0.97
>0.05
17
45
7.47 ± 2.67
18
8.18 + 1.18
Khóa luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
tuồi, học sinh nữ lứa tuổi 18 (8.3 + 1.52) có khả năng ghi nhớ thính giác cao
nhất, sau đó là lứa tuổi 17 (8.18 + 1.18) và thấp nhất là lứa tuổi 16 (7.53 + 1.39).
Trong cùng một lứa tuôi, có sự chênh lệch trí nhớ ngắn hạn thính giác của
học sinh nam và học sinh nữ. Cụ thể, ở lứa tuối 16 và 18, trí nhớ ngắn hạn thính
giác của học sinh nam cao hơn học sinh nữ; ở lứa tuổi 17 thì trí nhớ ngắn hạn
thính giác của học sinh nam lại thấp hơn học sinh nữ. Tuy nhiên sự chênh lệch
này không có ỷ nghĩa thống kê (p>0.05). Ket quả được thể hiện ở hình 3.2.
Điểm trí nhó'
Tuôi
16
Tuôi
17
Tuôi
18
Lứa tuổỉ
Hình 3.2. Biểu đồ thễ hiện trí nhó’ ngắn hạn thính giác theo lứa tuổi
và giói tính
3.1.1.3. Trí nhớ ngắn hạn thính giác theo lứa tuổi và phân ban
7 ± 1.78
2
0.05
31
8 ± 1.88
0.78
Hình 3.3. Biểu đồ thể hiện trí nhớ thính giác theo lứa tuổi và phân ban
Khoa S in h -K T N N
18
Dương Thị Trang