PHÂN TÍCH các yếu tố ẢNH HƯỞNG đến THU NHẬP và CHI TIÊU DÙNG của NGƯỜI dân VÙNG NÔNG THÔN ở ĐỒNG BẰNG SÔNG cửu LONG - Pdf 31

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KINH TẾ - QTKD

LÊ QUANG BẢO KHÁNH

PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN
THU NHẬP VÀ CHI TIÊU DÙNG CỦA NGƯỜI
DÂN VÙNG NÔNG THÔN Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG
CỬU LONG

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH: Kinh tế nông nghiệp
Mã số ngành: 52620115

Tháng 10 - Năm 2014


CHƯƠNG 1
GIỚI THIỆU
1.1 SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Nông nghiệp đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế của Việt Nam, Đồng
Bằng Sông Cửu Long có vai trò, vị trí chiến lược trong việc phát triển nền nông
nghiệp ở Việt Nam. Theo Viện Quy Hoạch Thủy Lợi Miền Nam năm 2012, Đồng
Bằng Sông Cửu Long có tổng diện tích là 3,96 triệu ha, trong đó có 2,6 triệu ha đất
phục vụ cho mục đích canh tác nông nghiệp. Bên cạnh đó, ĐBSCL còn có lợi thế
về nguồn nước. Lượng nước bình quân của sông Mê Kông chảy qua ĐBSCL hơn
460 tỷ m3 và vận chuyển khoảng 150 - 200 triệu tấn phù sa mỗi năm. Chính lượng
nước và khối lượng phù sa đó trong quá trình bồi đắp lâu dài đã tạo nên đồng bằng
ngày nay.
Với những thế mạnh về địa lý, ĐBSCL đã đóng góp một phần đáng kể vào GDP
của cả nước. Theo Báo cáo tổng kết ngành nông nghiệp và phát triển nông nghiệp

Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập và chi tiêu của người dân vùng
nông thôn ở ĐBSCL, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm cải thiện mức sống cho người
dân.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể:
- Mục tiêu 1: Đánh giá thực trạng chung về tình hình thu nhập và chi tiêu trên địa
bàn khảo sát.
- Mục tiêu 2: Phân tích các yếu tố tác động đến thu nhập và chi tiêu của hộ ở Đồng
Bằng Sông Cửu Long.
- Mục tiêu 3: Đề xuất các giải pháp nhằm đáp ứng kịp thời việc cần thiết cải thiện
đời sống của người dân.
1.3. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.3.1 Phạm vi về không gian
Đề tài được thực hiện dựa trên số liệu đã được thu thập ở ĐBSCL.
1.3.2 Phạm vi thời gian:
Đề tài sử dụng số liệu từ bộ số liệu điều tra mức sống của hộ dân (VHLSS) năm
2012. Số liệu thứ cấp được lấy từ tổng cục thống kê, các trang báo và tạp chí.
1.3.3 Phạm vi nội dung:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những hộ dân sinh sống ở vùng nông thôn ở
ĐBSCL. Nội dung nghiên cứu gồm:
-

Đưa ra các lý luận làm cơ sở cho việc thực hiện đề tài.

-

Giới thiệu tổng quát về địa bàn nghiên cứu.

-

Khái quát thực trạng về thu nhập và chi tiêu của hộ trên địa bàn khảo sát.

nay, hộ nông dân vẫn là chủ thể kinh tế chủ yếu trong nông nghiệp Việt Nam và đa
phần là ở vùng nông thôn. Ông cũng đã nêu lên được các đặc điểm chính cũng như
vai trò của hộ.
-

Về đặc trưng của hộ nông dân:

+ Hộ nông dân có sự gắn bó của các thành viên về huyết thống nên các thành
viên trong hộ gắn bó với nhau trên các mặt quan hệ sở hữu, quan hệ quản lý và
phân phối. Trong mỗi nông hộ, bố mẹ vừa là chủ hộ, vừa là người tổ chức hoạt
động sản xuất.
+ Hộ nông dân còn là đơn vị tái tạo nguồn lao động. Việc tái tạo thông qua các
hoạt động sinh con, nuôi dưỡng và giáo dục con. Công việc giáo dục bao gồm
truyền nghề, đào tạo nghề cho con.
-

Về vai trò của hộ nông dân:

+ Hộ nông dân có vai trò quan trọng trong việc khai thác các nguồn lực, trước
hết là nguồn nhân lực của hộ và ruộng đất. So với quy mô trang trại, hiệu quả sử
dụng nguồn lực của hộ kém hơn, tuy nhiên các hộ nông dân vẫn đang chiếm một
vai trò chính trong việc khai thác các nguồn lực để sản xuất nông sản.
+ Với tư cách là những đơn vị kinh tế tự chủ, hộ nông dân đang thích nghi với
cơ chế thị trường, đưa vào sản xuất những tiến bộ về khoa học và kỹ thuật, thực
hiên mô hình liên doanh, liên kết. Vì thế hộ nông dân có vai trò quan trọng trong
tiến trình chuyển đổi nền nông nghiệp lạc hậu sang nền nông nghiệp theo xu
hướng hiện đại hóa, công nghiệp hóa.

4


Tiêu dùng khác: được xem như là việc hộ sử dụng một phần thu nhập của
mình vào những việc khác ngoài chi lương thực và nông nghiệp như chi trả các
khoản phí sinh hoạt hay các khoản phí phát sinh của các thành viên trong gia đình.

5


2.1.2 Kinh tế hộ
Theo Phan Đình Nguyên (2011) kinh tế hộ được xem là nguồn tài chính của
gia đình, là khả năng tài chính của mỗi gia đình, được tạo ra từ thu nhập của hộ. Một
hộ có nguồn lực tài chính dồi dào được xem là hộ có kinh tế mạnh và ngược lại, có
nhiều cách khác nhau để tạo ra kinh tế hộ nhưng nhìn chung những nguồn lực được
xem là chủ chốt trong việc tạo ra nguồn lực tài chính bao gồm thu nhập, tiền lương
của mỗi thành viên trong độ tuổi lao động của gia đình. Trong mỗi hộ gia đình, chủ
hộ có vai trò điều hành, quản lý và giữ vị trí quan trọng nhất, quyết định các công
việc của thành viên trong gia đình.
2.1.3 Mối quan hệ giữa thu nhập và chi tiêu
2.1.3.1 Mối quan hệ tổng quát của thu nhập và chi tiêu
Khi nghiên cứu về mối quan hệ giữa thu nhập và tiêu dùng thì Leon và Nestor
(2004) ghi nhận rằng nông hộ thường điều chỉnh giữa mức thu nhập và chi tiêu một
cách hợp lý trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế và lạm phát.
Karl và Ray (1989) đã lập luận mối quan hệ giữa thu nhập và tiêu dùng trong
quyển “Principles of economics”. Khi thu nhập càng cao thì người dân có xu hướng
tiêu dùng càng nhiều, giả thuyết về mối quan hệ giữa thu nhập và tiêu dùng của hộ
gia đình được thể hiện qua hình 2.1. Đường cong C(Y) được gọi là hàm tiêu dùng
C theo thu nhập y. Đường cong này có độ dốc dương. Hay nói cách khác, khi mà
thu nhập càng tăng lên thì tiêu dùng cũng vậy.

Tiêu dùng (C)



Thu nhập là yếu tố cơ bản quyết định tiêu dùng.

Qua các suy đoán trên, ông xây dựng một hàm tiêu dùng để thỏa mãn ba yếu
tố trên, hàm tiêu dùng do ông tạo ra có dạng:
__

C = C + MPC.Y
Trong đó:
C: Tiêu dùng hộ gia đình
__

C : “tiêu dùng tự định” không đổi

Y: Thu nhập sau thuế
MPC: Tiêu dùng biên, nhận giá trị 0
biến động chủ yếu do thu nhập thường xuyên thay đổi nên tỷ lệ tiêu dùng bình quân
ít thay đổi. Các hộ dân có thu nhập cao dễ có được những khoảng thu tạm thời cao
hơn và tỉ lệ tiêu dùng bình quân có xu hướng ít hơn những hộ có mức thu nhập thấp
và trung bình. Ngoài ra, thu nhập thường xuyên của hộ còn dựa vào mức độ mong
đợi về thu nhập của họ trong tương lai. Tiêu dùng của hộ sẽ thay đổi khi kỳ vọng về
thu nhập của hộ thay đổi (Campbell và Mankiw, 1987).
2.1.4 Lý thuyết về khung sinh kế của hộ
2.1.4.1 Định nghĩa
Chambers và Conway (1992) định nghĩa khung sinh kế bao gồm con người,
năng lực và kế sinh nhai, gồm có lương thực, thu nhập và tài sản của họ. Ba khía
cạnh tài sản là tài nguyên, dự trữ, và tài sản vô hình như dư nợ và cơ hội. Sinh kế
bền vững khi nó bao gồm hoặc mở rộng tài sản địa phương và toàn cầu mà chúng
phụ thuộc vào và lợi ích ròng tác động đến sinh kế khác. Sinh kế bền vững về mặt
xã hội khi nó có thể chống chịu hoặc tái tạo từ những thay đổi lớn và có thể cung
cấp cho thế hệ tương lai.
Rakodi và Lloyd (2002) cho rằng khung sinh kế là một công cụ giúp xác định
phạm vi và cung cấp những cơ sở phân tích để áp dụng vào phân tích sinh kế, bằng
cách xác định các yếu tố chính ảnh hưởng đến sinh kế và mối quan hệ giữa chúng;
và giúp những người quan tâm đến việc hỗ trợ sinh kế của người nghèo có thể hiểu
và quản lý được. Bên cạnh đó khung sinh kế còn dùng để làm nền tảng cho những
phân tích về các vấn đề liên quan đến hỗ trợ sinh kế. Ngoài ra còn cung cấp nền tảng
cho việc xác định mục tiêu thích hợp cho việc hỗ trợ sinh kế. Trọng tâm của khung
sinh kế là những loại tài sản mà các hộ hoặc cá nhân dùng để xây dựng sinh kế của
họ.

9


2.1.4.2 Các tài sản chính trong khung sinh kế
Bảng 2.1 Các tài sản chính trong khung sinh kế


+ Nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực được mô tả như các kỹ năng, kiến thức và khả năng làm việc
của con người có thể theo đuổi được các chiến lược về kế sinh nhai của họ. Các
thang đo và phân tích về nguồn nhân lực đòi hỏi cần phải có thông tin về sức khỏe,
học vấn và các kỹ năng đã đạt được. Thông tin ở địa phương cũng được xem là một
nguồn nhân lực và nó có ảnh hưởng rất lớn đến nguồn nhân lực trong việc phát triển
sinh kế bền vững, cụ thể là việc kết hợp nguồn thông tin chính thức và các nguồn
lực bên ngoài. Ví dụ, đối với các doanh nghiệp ở quy mô nhỏ, thành công của họ
thường dựa vào việc kết hợp giữa các thông tin ở địa phương và các kỹ năng sản
xuất truyền thống của họ với các yếu tố đầu vào khác (Chapman và cộng sự, 2001).
+ Nguồn lực tự nhiên
Nguồn lực tự nhiên được hiểu như các nhập lượng nguồn lực đầu vào tự nhiên
cần thiết cho hộ. Trong một vài trường hợp, việc dễ bị tổn thương của người nghèo
sẽ phụ thuộc vào hiện trạng về nguồn lực tự nhiên của họ (ví dụ như khả năng tiếp
cận đất canh tác, điều kiện khí hậu, chất lượng nguồn nước và các loại tài nguyên
10


thiên nhiên khác). Nguồn lực tự nhiên còn cung cấp nguồn lực đầu vào cho các hộ
sản xuất nông nghiệp ở quy mô nhỏ. Hệ thống thông tin đang có vai trò ngày càng
quan trọng trong việc điều chỉnh các khoản về tài sản tự nhiên. Hệ thống thông tin
còn cung cấp các thông tin cần thiết để đánh giá các tác động của nông nghiệp lên
môi trường và sinh kế bền vững (Chapman và Slaymaker, 2002).
+ Nguồn lực vật chất
Albu và Scott (2001) cho rằng nguồn lực vật chất cũng có thể được xem như là
công nghệ. Nguồn vật lực mô tả về công trình công nghệ cơ bản và các loại công cụ
có thể sử dụng được dùng cho việc cung cấp năng lượng, nước, vận chuyển, nơi ở
và liên lạc. Bên cạnh đó nó còn được hiểu như là các công nghệ cần có để thực hiện
quy trình sản xuất. Công nghệ là một cơ chế mà qua đó con người nhận ra được giá

dụng bởi các tổ chức phi chính phủ sử dụng phương pháp tiếp cận sinh kế để đưa ra
khung kế hoạch chung về việc cải thiện đời sống người dân. Khung sinh kế CARE
sử dụng định nghĩa của Chambers và Conway (1992) về khung sinh kế, CARE chỉ
ra 3 thuộc tính của sinh kế bao gồm sự sở hữu khả năng con người, sự tiếp cận đến
tài sản hữu hình và vô hình, sự tồn tại của các hoạt động kinh tế.
Hướng tiếp cận của khung sinh kế CARE nhấn mạnh mối quan hệ giữa các loại
tài sản khác nhau trong khung sinh kế. Tuy nhiên, cách tiếp cận này mang tính phân
biệt các loại tài sản, khả năng và các hoạt động hơn là xem xét phương pháp để tiếp
cận các nguồn lực này. Khung sinh kế CARE không xác định rõ quy trình chuyển
đổi cơ cấu và ít nhấn mạnh hơn ở tính tương tác giữa vi mô và vĩ mô với khung sinh
kế mặc dù có một số vấn đề quan trọng ở khía cạnh này, ngược lại, nhấn mạnh việc
sử dụng một khung khái niệm và bao gồm các cách tiếp cận khác.
Trong hình 2.3, hộ gia đình được xem là trung tâm của khung sinh kế với bối
cảnh về nguồn lực tài nguyên và cơ sở vật chất hay nguồn lực về vật chất có sẵn tại
nơi mà hộ đang sinh sống. Các hộ dân tiến hành 2 hoạt động song song đó là tạo ra
thu nhập và sử dụng lượng thu nhập đã tạo ra. Hai hoạt động này được thực hiện
liên kết với nhau bằng một hoạt động thứ 3 đó là xử lý và trao đổi. Trong hoạt động
này thì người dân sẽ tiến hành canh tác hoặc sản xuất kinh doanh hàng hóa hay của
cải của mình và trao đổi chúng trên thị trường để thu về tiền mặt và tiêu dùng lượng
thu nhập vừa tạo ra. Các chiến lược về sinh kế được tập trung vào hoạt động thứ ba
này để tối đa hóa lượng thu nhập của người dân nhằm giúp người dân có một cuộc
sống tốt hơn. Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh thì ngoài nguồn lực tự
nhiên, vật chất, con người cần 3 nguồn lực chính khác đó là nguồn nhân lực bao
gồm trình độ văn hóa, hiểu biết, kỹ năng và sức khỏe.

12


Các loại tài sản



Nguồn lực
tự nhiên

+ Thực phẩm
+ Dinh dưỡng
+ Sức khỏe
+ Nước uống
+ Nơi ở
+ Giáo dục
Giao tiếp xã hội
An toàn cá
nhân

Bối cảnh

Kết quả mong đợi

Nguồn: Drinkwater và Rusinow, 1999

Hình 2.3 Khung sinh kế CARE
Nguồn lực xã hội bao gồm các tổ chức của chính phủ và phi chính phủ cung cấp các
chính sách hỗ trợ người dân hay những nhóm người dân cùng sản xuất kinh doanh
một mặt hàng nào đó. Cuối cùng là nguồn lực về kinh tế hay nguồn lực về tài chính
bao gồm việc tiết kiệm, tín dụng và thương mại. Mục đích cuối cùng của việc thực
hiện các chiến lược về sinh kế được mong đợi bao gồm có sự đảm bảo về an toàn
cá nhân, sự khẳng định về địa vị xã hội và sự đảm bảo về các vấn đề thiết yếu đáp
ứng cho sự tồn tại của con người.
13


giả cũng cho rằng các yếu tố ảnh hưởng đến nguồn thu nhập chính của hộ bao gồm
tổng diện tích đất của nông hộ, vay vốn, kiểm dịch, thu nhập từ chăn nuôi gia cầm,
thu nhập từ chăn nuôi khác và thu nhập từ phi nông nghiệp.
Khi nghiên cứu về vấn đề chi tiêu dùng ở Việt Nam thì Võ Đặng Phương
Duy (2013) sử dụng bộ số liệu điều tra mức sống VHLSS năm 2010 do tổng cục
14


thống kê tiến hành và sử dụng mô hình kinh tế lượng để phân tích các nhân tố chính
có ảnh hưởng đến tiêu dùng. Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự khác biệt về lượng
tiêu dùng của người dân ở ba miền khác nhau, các đặc điểm có ảnh hưởng đến chi
tiêu dùng của hộ bao gồm lĩnh vực kinh doanh, quy mô hộ, đặc điểm của chủ hộ,
dân tộc cũng có ảnh hưởng đáng kể đến lượng tiêu dùng của hộ.
2.2.2 Các nghiên cứu nước ngoài
Mishra và Chang (2009) cho thấy rằng khi nông hộ xu hướng đối mặt với rủi
ro càng cao (như rủi ro về giá cả, thời tiết) thì họ sẽ tiết kiệm và tích lũy nhiều hơn.
Nghiên cứu của họ cũng chỉ ra rằng các đặc trưng của nhân khẩu học có tác động
đến khuynh hướng tiết kiệm của người nông dân. Khi nghiên cứu về vấn đề tiết
kiệm trong nông hộ thì Bime và Mbanasor (2011) đã kết luận rằng thu nhập chịu
ảnh hưởng bởi tiết kiệm, trình độ học vấn, việc chi trả lãi suất, và kích cỡ hộ. Bên
cạnh đó, nghiên cứu này còn cho rằng những người nông dân nên được khuyến
khích và cung cấp đầy đủ hiểu biết về tầm quan trọng của việc tiết kiệm. Hơn nữa,
những nông dân nên được khuyến khích để hợp tác thành lập các tổ chức tài chính.
Ông cho rằng để cải thiện tiết kiệm của người dân thì cần phải quan tâm nhiều đến
việc chi tiêu cũng như đưa ra các chính sách cải thiện thu nhập cho nông hộ.
Theo Safa (2005) thì việc hỗ trợ đầu vào nông nghiệp như phân bón, các
công trình thủy lợi và tập huấn có thể góp phần làm tăng thu nhập của nông hộ một
cách gián tiếp thông qua việc nâng cao năng suất đầu ra. Bên cạnh đó, ông còn cho
rằng nên có một chương trình tập trung vào các kỹ năng về kỹ thuật hiện đại cũng
như là khả năng nâng cao năng lực của nông hộ. Nông dân cần thiết về mặt hỗ trợ

vùng nông thôn ở Ma-rốc. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng không có mối
liên hệ giữa tiết kiệm và việc sở hữu tài sản. Ngoài ra, tuổi chủ hộ cũng không ảnh
hưởng đến hành vi tiết kiệm. Bên cạnh đó, Wodon (2000) cho thấy rằng hộ gia đình
có chủ hộ là nữ có mức chi tiêu dùng thấp hơn chủ hộ là nam hoặc không có ai là
chủ hộ. Nếu chủ hộ có trình độ trung học cơ sở trở lên sẽ có mức chi tiêu dự kiến
tăng nhiều hơn gấp đôi so với một chủ hộ mù chữ hoặc không ai là chủ hộ. Kết quả
nghiên cứu cũng cho thấy rằng hộ gia đình ở khu vực thành thị và phi nông nghiệp
tiêu dùng nhiều hơn hộ ở vùng nông thôn ở Bangladesh.
Gounder (2012) cho rằng khi trình độ học vấn càng cao, thì việc hỗ trợ phát
triển các chính sách hỗ trợ nông nghiệp và phân phối lực lượng lao động càng hiệu
quả hơn trong việc giảm nghèo ở mức độ nông hộ, nghiên cứu của ông cũng cho
thấy trình độ học vấn có tác động tương đối lớn đối với chi tiêu.
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu
Đề tài nghiên cứu sử dụng số liệu thứ cấp, dựa trên bộ số liệu điều tra mức
của hộ gia đình ở Việt Nam (VHLSS) được thực hiện bởi Tổng cục thống kê (GSO)
vào năm 2012. Ngoài ra bài viết còn sử dụng số liệu thứ cấp ở các trang như: Tổng
cục thống kê, và các báo cáo khoa học đã được công bố.

16


2.3.1.1 Mô tả bộ dữ liệu VHLSS 2012
Đây là cuộc điều tra lớn được thực hiện nhằm tìm hiểu về tình hình thu nhập,
chi tiêu, việc làm của hộ gia đình ở Việt Nam ở nông thôn và thành thị. Các cuộc
khảo sát thu thập thông tin được thực hiện theo 4 kỳ, mỗi kỳ một quý từ quý 1 đến
quý 4 trong năm, bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp. Điều tra viên đến gặp chủ
hộ và những thành viên trong hộ có liên quan để phỏng vấn và ghi thông tin vào
phiếu phỏng vấn hộ.
Khảo sát mức sống dân cư là cuộc điều tra chọn mẫu trong chương trình điều

tiếp tạo ra thu nhập.
- Số lao động trong gia đình: Là số lượng người tham gia vào hoạt động tạo
thu nhập trong hộ, được xem như là lực lượng tạo thu nhập trong nguồn nhân lực
của khung sinh kế. Tuy nhiên, nếu hộ gia đình có thành viên là người phụ thuộc, thì
sẽ làm cho nguồn thu nhập của hộ bị hạn chế. Người phụ thuộc được hiểu như là
những người chưa đủ tuổi vị thành niên hay những người dưới 15 tuổi, những người
không có khả năng lao động và những người già, trên 65 tuổi. Một kết quả nghiên
cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của người dân tộc thiểu số ở ĐBSCL của
Nguyễn Quốc Nghi và Bùi Văn Trịnh (2011) chỉ ra rằng các yếu tố ảnh hưởng đến
thu nhập của họ bao gồm các biến về mặt xã hội học như trình độ học vấn, số lao
động, số hoạt động. Trong đó, nghiên cứu này còn chỉ ra rằng các biến số lao động
tác động tích cực và độ tuổi lao động tác động tiêu cực đến thu nhập bình quân của
hộ. Bên cạnh đó nghiên cứu của Parvin và Akteruzzaman (2013) cũng có kết quả
tương tự như nghiên cứu của Nguyễn Quốc Nghi và Bùi Văn Trịnh (2011) rằng yếu
tố lao động có tác động cùng chiều với thu nhập của nông hộ.
- Diện tích canh tác: được hiểu như là diện tích đất sử dụng cho mục đích
nông nghiệp bao gồm diện tích đất dùng để nuôi trồng thủy sản, chăn nuôi gia súc,
gia cầm hay trồng cây ăn trái hoặc cây lương thực. Đây được xem như là một nguồn
lực tự nhiên trong khung sinh kế có tác động đến việc lựa chọn chiến lược sinh kế
của hộ vùng nông thôn. Diện tích canh tác gián tiếp tác động đến thu nhập của hộ
vì khi diện tích canh tác càng cao thì năng suất đầu ra càng lớn, mang lại nhiều lợi
nhuận hơn cho nông dân (Ghafoor và cộng sự, 2010). Nghiên cứu của ông cũng đã
đưa vào biến diện tích canh tác để xem xét tác động của nó đến thu nhập, kết quả
nghiên cứu cho thấy diện tích canh tác có tác động tích cực đến thu nhập chung của
hộ. Safa (2005) khi nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ ở
Yemen ông cũng đưa vào xem xét yếu tố diện tích đất canh tác. Ông đặt ra giả thuyết
cho rằng khi diện tích đất canh tác càng lớn thì năng suất sẽ cao hơn từ đó cho nhiều
lợi nhuận và làm tăng thu nhập của hộ dân. Trong kết quả nghiên cứu của ông, diện
tích canh tác có tác động tích cực đến thu nhập trong khi số nhân khẩu và tuổi tác
lại tác động nghịch chiều. Bên cạnh đó, Ibekwe (2010) cũng chỉ ra sự tương đồng

chức nhà nước.

19


Bảng 2.2 Diễn giải các biến có ảnh hưởng đến thu nhập
Tên biến

Diễn giải

Đơn vị
Nghìn đồng/năm

Kỳ
vọng
+

TIETKIEM

Lượng tiết kiệm

DIEN

Biến giả, giá trị 1 nếu hộ sử
dụng điện lưới

+

NUOC


Số lao động trên 15 tuổi và
dưới 65 tuổi theo luật trong
gia đình

Người

+

DTCANHTAC

Diện tích tiến hành hoạt động
sản xuất

1000 m2

+

DTNHA

Diện tích nhà ở

m2

+

GIATRINHA

Giá trị của căn nhà hộ đang
sở hữu


đảm bảo được lượng lương thực đủ dùng và có thể trở thành diện nghèo thường xảy
ra với nhưng nông hộ có số nhân khẩu lớn.
- Trình độ học vấn: Biến số này được đưa vào vì nó đại diện cho khả năng
tiếp thu kiến thức của người dân, trình độ càng cao thì khả năng đưa ra quyết định
chi tiêu dùng hợp lý càng nhiều (Cao Thị Thúy Hằng, 2002).
- Số nhân khẩu trong hộ: Tương tự như tác động của biến số này đến thu
nhập, số nhân khẩu trong gia đình càng nhiều thì mức chi tiêu của hộ càng tăng. Đây
là một thước đo trong nguồn nhân lực của khung sinh kế.
- Tình trạng hôn nhân: Là một biến số đo lường chất lượng nguồn nhân lực
của khung sinh kế, tình trạng hôn nhân khác nhau thì có những mức chi tiêu khác
nhau do nhu cầu của cặp vợ chồng hoặc những người độc thân là khác nhau.
- Số trẻ em: Các hộ gia đình ở Việt Nam nói chung thường có xu hướng sống
chung với con cái của họ cho nên người dân phải tốn thêm một khoản chi cho những
thành viên này trong gia đình, hơn nữa trẻ em là những người chưa đến độ tuổi lao
động nên không tạo ra nguồn thu nhập cho hộ gia đình vì vậy những người lao động
chính trong gia đình phải chịu các khoản chi tiêu của trẻ em trong hộ.

21


Bảng 2.3 Diễn giải các biến có ảnh hưởng đến chi tiêu của hộ
Tên biến

Diễn giải
Thu nhập hàng
năm của hộ

Đơn vị

Kỳ vọng


+

NHANKHAU

Số người trong
gia đình của hộ

Người

+

TTHN

Tình trạng hôn
nhân của chủ hộ,
nhận giá trị 1 nếu
đã kết hôn và
ngược lại

THUNHAP

+/-

2.3.2.4 Mô hình dùng sử dụng trong bài nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu này được tác giả lựa chọn mô hình hồi qui 2 bước (2SLS)
để giải quyết vấn đề, ta thấy rằng mối quan hệ của chi tiêu và thu nhập có sự nội
sinh, nghĩa là 2 biến này có sự tương quan về phần dư nên nếu sử dụng mô hình hồi
quy tuyến tính OLS sẽ làm kết quả ước lượng bị chệch, do đó mô hình hồi qui 2
bước được đề xuất để giải quyết vấn đề. Phương pháp hồi quy 2 bước là ước lượng


Hình 3.1 Bản đồ Đồng Bằng Sông Cửu Long
Vùng ĐBSCL có lợi thế về tài nguyên đất đai, sông ngòi, biển và thềm lục
địa cũng như điều kiện khí hậu thuận lợi. Khí hậu ổn định, nhiệt độ trung bình là
280C, chế độ nắng cao, số giờ nắng trung bình cả năm từ 2.226 đến 2.790 giờ, hơn
nữa ĐBSCL ít xảy ra thiên tai do khí hậu gây ra. Nguồn nước được lấy từ 2 nguồn
chính là từ sông Mê Kông và nước mưa. Sông Mê Kông đem lại lượng nước bình
quân hàng năm khoảng 460 tỷ m3 và vận chuyển khoảng 150 – 200 triệu tấn phù sa.
Một mặt, lũ làm hạn chế lớn đối với canh tác, trồng trọt và gây nhiều khó khăn cho
23


đời sống của dân cư, nhưng mặt khác nó cũng tạo nên những điều kiện thuận lợi cho
việc đánh bắt, nuôi trồng thủy sản và bổ sung độ phì nhiêu cho đất nông nghiệp. Từ
vị trí địa lý này và sự ưu đãi của thiên nhiên, nên vùng ĐBSCL đã trở thành vùng
kinh tế nông nghiệp trọng điểm của Việt Nam.
3.2 KHÁI QUÁT VỀ ĐẶC ĐIỂM CỦA HỘ DÂN Ở ĐBSCL
3.2.1 Quy mô của hộ gia đình
4,8

4,6

4,6

4,47
4,32

Người/hộ

4,4

Qua cuộc điều tra của tổng cục thống kê, số nhân khẩu bình quân trong hộ
gia đình ở ĐBSCL vào năm 2012 là 3,93 người/hộ, khi so sánh với quy mô của số
nhân khẩu với các năm trước đó thì ta thấy được số nhân khẩu trong hộ có xu hướng
giảm dần theo thời gian và giữ ổn định ở giai đoạn 2010 và 2012. Điều đó cho thấy
rằng các chính sách về kế hoạch hóa gia đình ở Việt Nam đang phát huy khả năng
của nó và những người dân ở ĐBSCL đã thực hiện tốt chính sách này. Với quy mô
gần 5 người trong một hộ vào năm 2002, những người dân ở ĐBSCL nói riêng và
cả nước nói chung khó có thể vượt qua được cảnh nghèo đói, số nhân khẩu trong hộ
càng cao thì khoản chi tiêu mà gia đình trang trải cho các thành viên trong hộ càng
tăng. Với xu hướng giảm số nhân khẩu trong gia đình tuy ở mức còn khá cao (xấp
xỉ 4 người/ hộ vào năm 2012) thì việc cải thiện đời sống người dân là điều cần thiết.
3.2.2 Việc làm của hộ gia đình
Nhìn chung, trong năm 2012 số người hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp
là chiếm đa số. Điều này phù hợp với đặc điểm tự nhiên và địa lý của vùng ĐBSCL.
Người dân hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp chiếm đến 49,9% trong đó người
dân tự tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh nông, lâm, thủy sản đạt ngưỡng gần
40%. Đa phần đây là những hộ nông dân đã gắn bó lâu dài với nghề nông nghiệp
24


Trích đoạn Đặc điểm của hộ Nguồn nhân lực Nguồn lực xã hộ Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tiêu dùng của hộ dân
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status