Phát triển sản phẩm rượu vang của Công ty CPSP thiên nhiên Vinacom - Pdf 31

LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây, nền kinh tế Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn do quá
trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đem lại.Việt Nam từ một nước nông nghiệp lạc hậu đang có
những bước chuyển mạnh mẽ để theo kịp sự xu thế phát triển chung của toàn thế giới hiện nay.
Điều đó được thể hiện ở tỷ lệ tăng trưởng của Việt Nam trong những năm gần đây khá cao và rất
ổn định, đời sống nhân dân được cải thiên rõ rệt, tỷ lệ người nghèo giảm xuống rõ rệt…Để đạt
được những thành tựu to lớn này có sự đóng góp không nhỏ của hệ thống doanh nghiệp Việt Nam,
lực lượng chủ chốt của quá trình CNH – HĐH đất nước.
Giai đoạn năm 2001 – 2005 đánh dấu sự thay đổi khá mạnh mẽ của các doanh nghiệp Việt
Nam. Với những quyết định đầu tư hợp lý cộng với sự hỗ trợ rất tích cực của Nhà nước, doanh
nghiệp Việt Nam trong giai đoạn này đã có sự thay đổi căn bản cả về chất và lượng. Bên cạnh đó
vẫn còn những điểm yếu cố hữu chưa thể khắc phục được do những hậu quả của quá khứ để lại, do
sự thiếu hiểu biết hay hiểu biết còn lờ mờ.Chính vì vậy việc nghiên cứu và hỗ trợ các doanh nghiệp
để giúp họ có sự định hướng đúng đắn trong hoạt động đầu tư, đặc biệt là đầu tư phát triển giữ vai
trò sống còn với bảnthân các doanh nghiệp nói riêng, nền kinh tế nước nhà nói chung.
Giữ vai trò chủ đạo trong hệ thống doanh nghiệp Việt Nam hiên nay là hệ thống doanh nghiệp
nhà nước.Trong 20 năm đổi mới do Đảng ta đã đề xướng và lãnh đạo, DNNN là đối tượng được
Đảng đặc biệt chú trọng tìm giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh. Đảng ta đã
đề ra cả Nghị quyết riêng về đổi mới DNNN (Theo NQ TW3 khoá 9).Kết quả của quả trình sắp
xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả DNNN ở Việt Nam đã có những chuyển biến cụ thể, rất tích cực
với những sự đầu tư hợp lý đem lại hiệu quả cao. Song vẫn còn nhiều chuyện phải bàn về DNNN,
nhất là trong giai đoạn mới - thời kỳ Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Tổ chức
Thương mại thế giới (WTO).
Nhận thấy tầm quan trọng của việc tìm hiểu về hoạt động đầu tư phát triển trong doanh
nghiệp, đặc biệt là trong DNNN Việt Nam hiện nay, nhóm chúng em đã nghiên cứu đề tài : “ Nội
dung cơ bản của hoạt động đầu tư phát triển trong doanh nghiệp và thực trạng đầu tư phát
triển trong DNNN hiện nay.”
Chúng em xin chân thành cảm ơn thầy Từ Quang Phương đã giúp đỡ chúng em rất nhiều
trong quá trình hoàn thiện bản đề án này.

1

2
hoạt động sản xuất kinh doanh như đầu tư cho giáo dục,y tế,hoạt động xoá đói giảm nghèo…
nhưng lại rất quan trọng để nâng cao chất lượng cuộc sống vì mục tiêu phát triển,do đó,cũng được
xem là hoạt động đầu tư phát triển.
Mục đích của đầu tư phát triển là vì sự phát triển bền vững,vì lợi ích quốc gia, cộng đồng và
nhà đầu tư.Trong đó, đầu tư nhà nước nhằm mục đích thúc đẩy tưng trưởng kinh tế,tăng thu nhập
quốc dân,góp phần giải quyết việc làm và nâng cao đời sống của thành viên trong xã hội. Đầu tư
của doanh nghiệp nhằm tối thiểu chi phí,tối đa lợi nhuận,nâng cao khả năng cạnh tranh và chất
lượng nguồn nhân lực…
Đầu tư phát triển thương được thực hiện bởi một chủ đầu tư nhất định.Xác định rõ chủ đầu tư
có ý nghĩa quan trọng trong quá trình quản lý đầu tư nói chung và vốn đầu tư nói riêng.Chủ đầu tư
là ngời sở hữu vốn hoặc được giao quản lý,sử dụng vốn đầu tư.Theo nghĩa đầy đủ,chủ đầu tư là
người sở hữu vốn,ra quyết định đầu tư,quản lý quá trình thực hiên và vận hành kết quả đầu tư và là
người hưởng lợi thành quả đầu tư đó.Chù đầu tư chịu trách nhiệm kiểm tra giám sát đầu tư,chịu
trách nhiệm toàn diện về những sai phạm và hậu quả do ảnh hưởng của đầu tư đến môi trường môi
sinh và do đó có ảnh hưởng quan trọng đến việc nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư.Thực tế quản
lý còn có những nhận thức sai lầm về quan điểm chủ đầu tư.
Hoạt động đầu tư phát triển là một quá trình,diễn ra trong thời kì dài và tồn tại vấn đề “độ trễ
thời gian”. Độ trễ thời gian là sự không trùng hợp giữa thời gian đầu tư với thời gian vân hành kết
quả đầu tư. Đầu tư hiện tại nhưng kết quả đầu tư thường thu được trong tương lai. Đặc điểm này
của đầu tư cần được quán triệt khi đánh giá kết quả,chí phí và hiệu quả hoạt động đầu tư phát triển.
Nội dung đầu tư phát triển ở phạm vi doanh nghiệp và phạm vi nền kinh tế có thể khác nhau.Trên
góc độ nền kinh tế, đầu tư phát triển phải làm gia tăng tài sản cho nền kinh tế chứ không phải
chuyển giao tài sản giữa các đơn vị.
Đầu tư phát triển khác về bản chất với đầu tư tài chính. Đầu tư tài chính là loại đầu tư trong
đó người có tiền bỏ tiền ra cho vay hoặc mua các chứng chỉ có giá trên thị trường tiền tệ,thị trường
vốn để hưởng lãi suất định trước(gửi tiết kiệm,mua trái phiếu Chính phủ) hoặc lợi nhuận phụ thuộc
vào hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty phát hành(mua cổ phiếu…).Đầu tư tài sản tài chính
là loại đầu tư không trực tiếp làm tăng tài sản thực(tài sản vật chất) cho nền kinh tế(nếu không xét
đến quan hệ quốc tế trong lĩnh vực này) mà chỉ làm tăng giá trị tài sản chính cho chủ đầu tư.Mua

mặt,cả tích cực và tiêu cực,của nhiều yếu tố tự nhiên,chính trị,kinh tế xã hội…Để thích ứng với
đặc điểm này,công tác quản lý hoạt động đầu tư cần chú ý một số nội dung sau:
4
Thứ nhất,cần xây dựng cơ chế và phương pháp dự báo khoa học cả ở cấp vĩ mô và vi mô về
nhu cầu thị trường với sản phẩm đầu tư tương lai,dự kiến khả năng cung từng năm và toàn bộ vòng
đời dự án.
Thứ hai,quản lý tốt quá trình vận hành,nhanh chóng đưa các thành quả đầu tư vào sử
dụng,hoạt động tối đa công suất đẻ nhanh chóngthu hồi vốn,tránh hao mòn vô hình.
Thứ ba,chú ý đúng mức tới yếu tố độ trễ thời gian trong đầu tư. Đầu tư trong năm nhưng
thành quả đầu tư chưa chắc đã phát huy tác dụng ngay trong năm đó mà từ những năm sau và kéo
dài trong nhiều năm. Đây là đặc điểm rất riêng của lĩnh vực đầu tư, ảnh hưởng lớn tới công tác
quản lý hoạt động đầu tư
-Các thành quả hoạt động đầu tư phát triển là các công trình xây dựng thường phát huy tác
dụng ngay tại nơi nó được tạo dựng nên,do đó,quá trình thực hiện đầu tư cũng như thời kỳ vận
hành các kết quả đầu tư chịu ảnh hưởng lớn của các nhân tố về tự nhiên,kinh tế,xã hội
vùng.Không thể dễ dàng dịch chuyển các công trình đã đầu tư từ nơi này sang nơi khác,nên công
tác quản lý hoạt động đầu tư phát triển cần quán triệt đặc điểm này trên một số nội dung sau:
Trước tiên,cần phải có chủ trương đầu tư và quyết định đầu tư đúng. Đầu tư cái gì,công suất
bao nhiêu là hợp lý…cần phải được nghiên cứu kỹ lưỡng,dựa trên các nghiên cứu khoa học.
Lựa chọn địa điểm đầu tư hợp lý. Để lựa chọn địa điểm thực hiện đầu tư đúng phải dựa trên
những căn cứ khoa học,dựa vào hệ thống các chỉ tiêu kinh tế,chính trị,xã hội,môi trường,văn hoá…
Cần xây dựng một bộ tiêu chí khác nhau và nhiề phương án so sánh để lựa chọn vùng lãnh thổ và
địa điểm đầu tư cụ thể hợp lý nhất,sao cho khai thác được tối đa lợi thế vùng và không gian đầu tư
cụ thể,tạo điều kiện nâng cao hiệu quả vốn đầu tư.
-Đầu tư phát triển có độ rủi ro cao.Do quy mô vốn đầu tư lớn,thời kỳ đầu tư kéo dài và thời
gian vận hành các kết quả đầu tư cũng kéo dài…nên mức độ rủi ro hoạt động đầu tư phát triển
thường cao.Rủi ro đầu tư do nhiều nguyên nhân,trong đó,có nguyên nhân chủ quan từ phía các nhà
đầu tư quản lý kém,chất lượng sản phẩm không đạt yêu cầu…có nguyên nhân khách quan như giá
nguyên vật liệu tăng,giá bán sản phẩm giảm…Như vậy, để quản lý hoạt động đầu tư phát triển hiệu
quả,cần phải thực hiện các biện pháp quản lý rủi ro bao gồm:

Vốn đầu tư phát triển là bộ phận cơ bản của vốn nói chung.Trên phương diện kinh tế,vốn đầu
tư phát triển là biểu hiện bằng tiền toàn bộ những chi phí đã chi ra để tạo ra năng lực sản xuất (tăng
thêm tài sản cố định và tài sản lưu động) và các khoản đầu tư phát triển khác.Về cơ bản vốn đầu tư
phát triển mang những đặc trung của vốn như:(1) vốn đại diện cho một lượng giá trị tài sản;(2) vốn
6


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status