Trờng đại học vinh
Khoa NÔNG LÂM NGƯ
=== ===
TRN VN TRUNG
KHóA LUậN tốt nghiệp
Đề tài:
NH HNG CA MT CY TRNG N SINH
TRNG, PHT TRIN V NNG SUT CA GING
NGễ LAI N F1 MX10 V ễNG XUN 2011 2012
TRấN T CT PHA TI TRI THC NGHIM NễNG
HC KHOA NễNG LM NG I HC VINH
ngành: NễNG HC
Lớp: 49K Nụng hc
Ging viờn hng dn: ThS. Nguyn Th Bớch Thu
VINH - 2012
1
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan các số liệu và kết quả nghiên cứu trong khóa luận này là
hoàn toàn trung thực, có được qua các lần đo đếm, phân tích thí nghiệm do bản thân
tiến hành và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan các thí nghiệm để thu thập số liệu trong khóa luận đã được
chính bản thân tôi tiến hành tại phòng thí nghiệm tổ bộ môn cây trồng, khoa Nông
Lâm Ngư, trường Đại học Vinh với sự đồng ý và hướng dẫn của Th.s. Nguyễn Thị
Trần Văn Trung
3
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU................................................................................................................1
1. Tính cấp thiết của đề tài ...................................................................................1
2. Mục đích, yêu cầu của đề tài.............................................................................2
2.1. Mục đích..........................................................................................................2
2.2. Yêu cầu............................................................................................................ 2
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài.........................................................3
3.1. Ý nghĩa khoa học............................................................................................3
3.2. Ý nghĩa thực tiễn............................................................................................3
CHƯƠNG I............................................................................................................4
TỔNG QUAN TÀI LIỆU......................................................................................4
1.1 Cơ sở khoa học và cơ sở thực tiễn của đề tài.................................................4
1.1.1 Cơ sở khoa học..............................................................................................4
1.1.2 Cơ sở thực tiễn..............................................................................................4
1.2. Nguồn gốc và các giống ngô...........................................................................5
1.3. Tình hình sản xuất, tiêu thụ và nghiên cứu ngô trên thế giới và Việt nam.........6
1.3.1. Trên thế giới.................................................................................................7
1.2.2. Ở Việt Nam..................................................................................................
12
CHƯƠNG 2. VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.17
2.1. Đối tượng, vật liệu, địa điểm và thời gian nghiên cứu ................................17
2.2. Nội dung nghiên cứu .....................................................................................17
2.3. Phương pháp nghiên cứu...............................................................................17
2.3.1. Phương pháp bố trí thí nghiệm..................................................................17
2.3.2. Quy trình kỹ thuật trồng và chăm sóc cây ngô.........................................18
................................................................................................................................
4.1. Kết luận...........................................................................................................43
4.2. Kiến nghị.........................................................................................................43
TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................45
PHỤ LỤC...............................................................................................................46
DANH MỤC B ẢNG
Bảng 1.1. Tình hình sản xuất ngô thế giới giai đoạn 1990 – 2010.
5
Bảng 1.2. Diện tích, năng suất và sản lượng ngô trên thế giới.
Bảng 1.3. Một số nước đứng đầu về sản lượng ngô năm 2007
Bảng 1.4. Sản xuất, thương mại, tiêu thụ và dự trữ mặt hàng ngô
giai đoạn 2006-2011.
Bảng 1.5. Diện tích, năng suất, sản lượng ngô Việt Nam từ năm 1961-2009
Bảng 3.1. Ảnh hưởng của mật độ trồng đến thời gian sinh trưởng và
phát triển của giống ngô lai đơn F1 MX10 (ngày).
Bảng 3.2. Ảnh hưởng của mật độ trồng đến động thái tăng trưởng chiều cao
của giống ngô lai đơn F1 MX10.
Bảng 3.3. Ảnh hưởng của mật độ trồng đến động thái ra lá của giống ngô lai
đơn F1 MX10.
Bảng 3.5. Ảnh hưởng của mật độ đến các chỉ tiêu sinh trưởng cuối cùng của
giống ngô lai đơn F1 MX10.
Bảng 3.4. Ảnh hưởng của mật độ trồng đến diện tích lá (LA) và chỉ số diện tích
lá (LAI) của giống ngô lai đơn MX10.
Bảng 3.6. Ảnh hưởng của mật độ trồng đến tình hình sâu bệnh hại của giống
ngô lai đơn F1 MX10.
chung và chăn nuôi đại gia súc nói riêng ngày càng có những bước tiến đáng kể.
Đàn gia súc tăng nhanh cả về số lượng và chất lượng nên vấn đề về cung cấp thức
ăn và lương thực đang là vấn đề cấp thiết đặt ra hiện nay. Nhu cầu về ngô đang tăng
nhanh ở quy mô toàn cầu do ngô không chỉ được dùng làm thức ăn chăn nuôi và
lương thực cho người mà hiện nay ngô còn được dùng để chế biến nhiên liệu sinh
học đang ngày một nhiều.
Việt Nam với dân số hơn 86 triệu người và diện tích đất dành cho sản xuất
ngô chiếm 1/4 diện tích nông nghiệp. Do đó ngành sản xuất ngô nước ta thực sự có
những bước nhảy vọt, nhất là từ đầu năm 1990 đến nay. Trong suốt 20 năm qua
năng suất ngô nước ta tăng nhanh liên tục với tốc độ cao, năm 1990 năng suất ngô
nước ta chỉ bằng 42% so với trung bình thế giới (15,5/37 tạ/ha). Năm 2000 đã tăng
lên 60% (25/42 tạ/ha) và đến năm 2007 năng suất ngô đã đạt tới 81,0 % (39,6/49
tạ/ha); đến năm 2010 sản lượng đạt được 443,84 triệu tấn và năng suất đạt 40,8
tạ/ha [12]. Để đạt được tới ngưỡng đó ngoài việc không ngừng thay thế sản xuất
giống ngô lai cho những giống kém chất lượng ở địa phương mà còn luôn cải thiện
các biện pháp kỹ thuật, thâm canh nên năng suất ngày càng tăng lên.
Tuy nhiên, sản xuất ngô nước ta vẫn còn nhiều vấn đề đặt ra, năng suất vẫn
còn thấp so với trung bình của thế giới, giá thành sản xuất còn cao, sản lượng ngô
chưa đáp ứng đủ nhu cầu trong nước đang tăng nhanh. Những năm gần đây, nước ta
phải nhập từ 500 – 700 nghìn tấn ngô hạt để làm thức ăn chăn nuôi. Một trong
8
những nguyên nhân trên là diện tích trồng ngô ngày càng bị thu hẹp, do sự phát
triển mạnh mẽ của các ngành công nghiệp, các khu đô thị …trong khi đó nhu cầu
ngô làm lương thực, thực phẩm, thức ăn chăn nuôi và ngành công nghiệp chế biến
ngày càng tăng. Hơn nữa, mặc dù đã áp dụng các khoa học kĩ thuật vào sản xuất
ngô nhưng năng suất đạt được còn kém xa so với năng suất tiềm năng của nó.
Giống ngô mới F1 MX10 là cây bắp sinh trưởng mạnh và chống chịu tốt với
bệnh khô vằn, đốm lá, rỉ sắt… Đây là giống bắp sinh trưởng ngắn ngày, chỉ khoảng
- Đánh giá năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của giống ngô lai đơn
F1 MX10 ở các mật độ trồng khác nhau.
- Theoo dõi chỉ tiêu sâu bệnh hại trên giống ngô lai F1 MX10.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài.
3.1. Ý nghĩa khoa học.
- Đề tài nghiên cứu mật độ để tăng năng suất làm cơ sở xây dựng và hoàn
thiện quy trình trồng giống ngô lai F1 MX10 trên đất cát trong điều điều kiện khí
hậu ở ven biển tỉnh Nghệ An.
- Kết quả nghiên cứu đề tài là một tài liệu khoa học tham khảo sử dụng trong
học tập tại cơ sở đào tạo cũng như trong nghiên cứu thuộc lĩnh vực nông nghiệp.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn.
- Từ kết quả nghiên cứu xác định được mật độ trồng thích hợp nhằm tăng
năng suất trên một đơn vị diện tích.
- Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần từng bước xây dựng quy trình kĩ thuật
thâm canh giống ngô đông cho vùng đất cát ven biển.
10
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học và cơ sở thực tiễn của đề tài.
1.1.1 Cơ sở khoa học.
Xuất phát từ quan điểm muốn tăng năng suất bất cứ một cây trồng nào, đều
phải đi bằng hai con đường: tạo giống mới và trồng chúng theo mật độ hợp lý.
Nhưng đối với cây ngô, chưa mấy ai chú ý đến vấn đề mật độ, vì vậy trồng ngô
đang chứa đựng những bất hợp lý, không phù hợp với đặc tính thực vật của loài
ngô. Mật độ và khoảng cách gieo trồng cần phải bố trí hợp lý để đảm bảo cấu trúc
quần thể ruộng ngô thích hợp khi đó mới phát huy hết khả năng cho năng suất của
giống. Đồng thời với mật độ trồng thích hợp tạo điều kiện cho cây ngô sinh trưởng
canh, mùa vụ nào ở từng vùng sinh thái và từng vụ để đưa lại năng suất cao nhất.
Hiện nay với các giống ngô lại trong nước và nhập khẩu đang được nghiên cứu và
đã đưa ra trồng thử với năng suất cao khả năng chống chịu sâu bệnh tốt.
Giống ngô lai F1 MX10 được trồng nhiều ở các vùng ven biển tỉnh Nghệ an.
Đây là những vùng không chủ động được nước tưới nên việc đưa cây ngô vào là rất
hợp lí. Với khả năng sinh trưởng mạnh, xoè tán nhanh, tăng độ che phủ cho vùng
đất cát nên hạn chế nhiều khả năng bốc hơi nước trong đất, đặc biệt là vào mùa hè.
Hơn nữa, xét về hiệu quả kinh tế đây là vùng du lịch nên ngô nếp tươi luôn có thị
trường khách hàng liên tục, không đủ cung cấp; người dân khái thác đất canh tác
liên tục để trồng ngô nếp vậy mà vẫn không đủ cho nhu cầu thị trường bởi gặp
nhiều về vấn đề kỹ thuật sản xuất. Mật độ cây không đồng đều, gây nên hiện tượng
đổ ngã, sâu bệnh hay quá thưa làm lãng phí đất. Chính vì thế, với đề tài nghiên cứu
về mật độ mong muốn giúp cho người dân có kỹ thuật trồng hợp lý, giúp tăng năng
suất và chất lượng cho giống ngô nếp F1 MX10, cũng là tăng hiệu quả kinh tế cho
người trồng ngô.
1.2. Nguồn gốc và các giống ngô.
Việc trồng ngô được bắt nguồn ở Trung Mỹ, đặc biệt là Mêhicô. Từ đó ngô
được truyền bá lên phía bắc tới Canada và xuống phía tới Achentyna. Ngô cổ nhất
khoảng 7000 năm, được các nhà khảo cổ tìm thấy Teotihuncan, một thung lũng gần
Puebla ở Mêhicô [5]. Nguồn gốc này ảnh hưởng tới một số đặc điểm sinh trưởng,
phát triển của cây ngô, ảnh hưởng tới một số yêu cầu của cây ngô đối với các điều
kiện ngoại cảnh và những điều kiện cần được chú ý đến trong quá trình tác động các
yếu tố kĩ thuật tăng năng suất ngô [1].
12
Vào cuối thể kỉ XV, sau sự kham phá lục địa châu mỹ của Chritopher
Columbus, ngô được nhập vào Châu Âu qua Tây Ban Nha. Sau đó ngô được truyền
bá qua các vùng khí hậu ấm áp của Địa Trung hải và lên Bắc Âu. Ngô cũng được
trồng ở những nơi thấp hơn vùng nước biển ở vùng đồng bằng caspia và ở độ cao
1.3.1. Trên thế giới.
Nghiên cứu và áp dụng ưu thế lai cho cây ngô được tiến hành sớm nhất ở
Mỹ, các nhà di truyền cải tiến giống đã sớm thành công trong việc chọn lọc và lai
tạo giống ngô. Theo E.Rinke (1979), việc sử dụng giống ngô lai ở mỹ bắt đầu từ
năm 1930, đến năm 1957 chủ yếu sử dụng giống lai ba và lai khép sau đó giống lai
đơn cải tiến và lai đơn được tạo ra và sử dụng chiếm 80 – 85% tổng số giống lai,
trong đó hơn 90% lai đơn [15]. Ở Châu Âu việc nghiên cứu tạo giống ngô lai bắt
đầu muộn hơn Mỹ 20 năm và đạt được thành tựu rực rỡ. Tỷ lệ sử dụng giống ngô
lai rất lớn đã góp phần tạo nên năng suất cao ở nhiều nước như Mỹ, Achentina,
Braxin, Mêhicô, Pháp, Italia,….(theo FAO 2008) [16]. Trung Quốc là nước có diện
tích ngô đứng thứ 2 thế giới và là nước sản xuất ngô lai số 1 Châu Á, với diện tích
năm 2007 là 26,8 triệu ha trong đó hơn 90% diện tích trồng ngô lai. Năng suất ngô
bình quân của Trung Quốc đã tăng từ 1,5 tấn/ha, năm 1950 lên 5,18 tấn/ha. Ở khu
vưc Đông Nam Á không thể không nhắc tới Thái lan là một trong những nước đầu
tư đáng kể cho chương trình sản xuất ngô khá sớm, song gần đây cũng đã chững lại.
Theo phương pháp truyền thống thì việc ứng dụng công nghệ sinh học trong
chọn tạo giống cây trồng cũng được triển khai và đạt những kết quả quan trọng như:
Tạo giống chịu hạn, chuyển gen chống chịu vào các dòng thuần có khả năng kết
hợp cao…Đó là cơ sở tạo ra các giống tốt góp phần tăng nhanh năng suất ngô trên
thế giới. Việc ứng dụng công nghệ gen được phát triển mạnh từ đầu những năm 90
và hiện nay vẫn đang tăng mạnh.
Các công tác nghiên cứu lai tạo giống ngô hiện nay đang có bước chuyển
biến mới, và có những thành tựu chọn tạo giống ngô và cải thiện các kỹ thuật canh
tác như: tăng mật độ, làm đất tối thiểu, bón phân hợp lý…, chính vì vậy nghành sản
xuất ngô thế giới tăng liên tục từ đầu thế kỷ 20 đến nay nhất là trong gần 20 năm trở
lại đây, ngô là cây trồng có tốc độ tăng trưởng về năng suất cao nhất trong các cây
lương thực chủ yếu. Vào năm 1990, năng suất ngô trung bình của thế giới trung
bình 36,8 tạ/ha, năm 2004 đã 49,9 tạ/ha. Năm 2007, diện tích ngô đã vượt qua lúa
nước, với 157 triệu ha, năng suất 4,9 tấn/ha và sản lượng đạt kỷ lục vơi 766,2 triệu
tấn. và theo dự báo đầu tiên của bộ nông nghiệp Mỹ, tổng sản lượng ngô thế giới
2008/09
2009/10
131,3
138,2
148,6
157,0
152,4
156,3
483,3
592,3
704,2
766,2
777,4
808,6
36,81
(tấn/ha)
Sản lượng
1000 tấn
1961
104,8
2,0
204,2
2000
138,2
4,3
592,3
2004/05
145,0
4,9
714,8
2005/06
Achentina…Trong đó Mỹ là nước chiếm vị trí hàng đầu cả về diện tích và sản
lượng ngô, đồng thời cũng là một trong những nước có năng suất ngô cao nhất thế
giới. Năm 1999 diện tích ngô của Mỹ là 29,1 triệu ha, năng suất trung bình đạt 8,3
tấn/ha. Năm 2007, tương tự ở Mỹ đạt 90,5 triệu ha, tăng 12,1 triệu ha so với năm
2006 và đạt sản lượng 332 triệu [6].
Bảng 1.3. Một số nước đứng đầu về sản lượng ngô năm 2007
Nước
Sản lượng
Mỹ
332,0
Trung Quốc
151,8
Braxin
56,1
Mêhicô
22,5
Achentina
21,8
Indonexia
12,4
Canada
10,6
Pháp
13,1
Ấn Độ
16,8
Nam phi
7,3
(Nguồn: FAOSTAT, 2008)
16
loại chất làm ngọt có chứa hàm lượng calorie cao, được sử dụng trong các thực
phẩm chế biến sẵn.
Theo ước tính của USDA, 36% lượng ngô của Mỹ trong niên vụ 2010/11 sẽ
được dùng để sản xuất ethanol. Cục Bảo vệ môi trường Mỹ (EPA) cho biết doanh
số bán hàng của ethanol tại Mỹ năm 2011 dự kiến sẽ tăng đến 14 tỷ gallon (tương
đương 54,3 tỷ lít) so với mức 13 tỷ gallon năm 2010.
Bảng 1.4. Sản xuất, thương mại, tiêu thụ và dự trữ mặt hàng ngô
giai đoạn 2006-2011.
2006/07
2007/08
2008/09
2009/10
2010/11
(dự báo)
Sản lượng
710
795
799
813
811
155
153
119
(Nguồn: Ủy ban ngũ cốc quốc tế, 2011)
Việc nâng sản lượng ngô Thế Giới từ 396,6 triệu tấn vào năm 1980 lên 705,3
triệu tấn vào năm 2004 chủ yếu là nhờ vào việc tăng năng suất. Nếu như năm 1980
năng suất ngô trung bình toàn thế giới là 31,5 tạ/ha thì năm 2004 đã đạt đến 48,6
tạ/ha. Riêng ở Mỹ, năm 2004, trên diện tích 29,7 triệu ha đã cho năng suất trung
bình 100,5 tạ/ha và sản lượng đạt 298,2 triệu tấn. Còn ở Việt Nam, năm 1980 diện
tích trồng ngô chỉ có 389600 ha, năng suất trung bình 11 tạ/ha và sản lượng là
428.800 tấn thì năm 2004 đã đạt sản lượng 3,453 triệu tấn với năng suất 34,9 tạ/ha
trên diện tích 964.600ha. Kết quả trên có được, trước hết là do việc ứng dụng hiện
tượng ưu thế lai trong sinh vật vào việc tạo giống ngô lai có năng suất và chất lượng
cao, có khả năng chống chịu, đặc biệt là khả năng chịu hạn, chống đổ, kháng với
một số sâu bệnh chính, trồng được ở mật độ cao hơn, đồng thời đó cũng là kết quả
của những tiến bộ trong kỹ thuật canh tác cây ngô, trong đó có những nghiên cứu về
mật độ và khoảng cách trồng [12].
18
Vấn đề mật độ và khoảng cách giữa các hàng là một trong những vấn đề
được nghiên cứu nhiều và sâu nhất trong các biện pháp kỹ thuật canh tác cây ngô.
Người ta đã nghiên cứu trồng ngô với mật độ từ 3 vạn đến trên 10 vạn cây/ha và
khoảng cách giữa các hàng từ 30cm cho đến trên 100cm. Về mật độ tối ưu nói
chung trong điều kiện đủ ẩm và thâm canh cao thì mật độ cao hơn trong điều kiện
hạn và thâm canh thấp. Hàng trăm công trình về vấn đề trên đã được công bố trong
các công trình từ những năm 1970. Trong một công bố của mình năm 1970, Brown
suất ngô lên gần 1,5 tấn/ha. Ngành sản xuất ngô nước ta thực sự có những bước tiến
nhảy vọt từ đầu những năm 1990 đến nay, do việc tạo được các giống ngô lai và mở
rộng diện tích trồng ngô lai trong sản xuất, kết hợp áp dụng các biện pháp kỹ thuật
canh tác theo nhu cầu của giống mới. Năm 1991, diện tích trồng giống lai chưa đến
1% trên 430 nghìn hecta trồng ngô; năm 2006, giống lai đã chiếm khoảng 90% diện
tích trong hơn 1 triệu hecta ngô cả nước, trong đó giống do các cơ quan nghiên cứu
trong nước chọn tạo và sản xuất chiếm từ 58-60% thị phần trong nước, số còn lại là
của các công ty liên doanh với nước ngoài. Trong đó, giống ngô lai do Viện nghiên
cứu ngô (Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam) [15] tạo ra chiếm tới 90% lượng
giống lai của Việt Nam. Một số giống khá nổi bật như: LVN10, LVN99, LVN4,
LVN9, VN8960, LVN885, LVN66… Các giống ngô này có năng suất và chất
lượng tương đương các giống ngô của các công ty liên doanh với nước ngoài nhưng
giá bán chỉ bằng 65-70%, góp phần tiết kiệm chi phí cho người trồng 80-90 tỷ
đồng/năm. Nhờ vậy, người trồng cũng đã chủ động được hạt giống cho sản xuất,
không lệ thuộc vào giống nhập khẩu của nước ngoài như những năm trước [11].
Bảng 1.5. Diện tích, năng suất, sản lượng ngô Việt Nam từ năm 1961-2009
Năm
1961
1980
1990
1995
2000
2003
2004
2005
2006
2007
2008
2009
4,30
20
Sản lượng
(1000 tấn)
300,0
400,0
671,0
1.177,0
2.005,9
3.136,3
3.430,9
3.787,1
3.854,5
4.107,5
4.531,.2
5.031,0
Từ năm 2006, năng suất và sản lượng ngô của Việt Nam đã có những bước
tiến nhảy vọt cao nhất từ trước đến nay. Tốc độ tăng trưởng diện tích, năng suất và
sản lượng ngô của Việt Nam cao hơn nhiều lần của thế giới, lợi nhuận trồng ngô lai
cao hơn hẳn các loại cây trồng khác. Năm 2008, diện tích trồng ngô của cả nước
(trong đó 90% diện tích là ngô lai) đạt 1.126.000 ha, tổng sản lượng trên 4.531.200
tấn. Năm 2009, diện tích đạt 1.170.900 ha, tổng sản lượng lên tới trên 5.031000 tấn,
cao nhất từ trước tới nay. Các giống ngô lai của Việt Nam bước đầu cũng đã xuất
bán sang các nước Bangladesh, Cam-pu-chia, Lào, Quảng Tây - Trung Quốc,
Pakistan, Indonesia, Ấn Độ…[14].
Hình 1. Diện tích, năng suất, sản lượng ngô Việt Nam 1961 – 2009
Do Việt Nam nằm trong khí hậu nhiệt đới, Mật độ trồng ngô phụ thuộc vào
vùng sinh thái, mùa vụ, thời gian sinh trưởng của giống và điều kiện thâm canh.
Nguyên tắc chung là càng đi xa theo hướng từ Bắc vào Nam thì mật độ trồng tăng
dần. Có điều kiện thâm canh tốt thì tăng mật độ… Để đảm bảo năng suất ngô cao và
ổn định, xuất phát từ những kết quả thí nghiệm đạt được và rút ra từ kinh nghiệm
của các địa phương, Viện nghiên cứu ngô khuyến cáo nên áp dụng những công thức
mật độ trồng ngô sau:
- Đối với giống dài ngày trồng với khoảng cách 75 cm x 25 cm, tương ứng
với mật độ 53.300 cây/ha (trồng 1 cây/1 hốc).
- Đối với giống ngắn ngày, thấp cây nên trồng dày với khoảng cách 70 cm x
25 cm (1cây/1hốc) ứng với mật độ 57.000 cây/ha.Chú ý: Vụ đông xuân và thu đông
nên trồng dày hơn vụ hè thu.
22
Các nghiên cứu của Phạm Sỹ Tân, Trịnh Quang Khuông (viện lúa đồng
bằng sông cửu long), Phạm Mỹ Hoa, Đặng Duy Minh (trường đại học cần thơ),
trong vụ đông xuân 2005 – 2006 tại An Giang và Trà Vinh, đã rút ra kết luận: Khi
tăng mật độ từ 6,7 vạn cây/ha lên 7,4 vạn cây/ha hì năng suất ngô tăng khoảng 0,4
tấn/ha. Ở cùng mạt độ 6,7 vạn cây/ha và khoảng cách 50 x 30cm cho năng suất cao
hơn rõ rệt so với khoảng cách 75 x 20cm [6].
Mật độ cũng khuyến cáo dựa vào thời gian sinh trưởng, đặc điểm hình thái
như chiều cao cây, bộ lá (dài ngày, cao cây, lá rậm…thì trồng thưa: ngắn ngày, thấp
cây, lá thoáng hoặc đứng thì trồng dày) theo mùa vụ [4].
Năm 2005, tại viện ngô Đã tiến hành thó nghiệm trên 3 giống: LVN10 dài
ngày, cao cây; LVN4 trung ngày, cao cây trung bình; LVN184 thấp cây, ngắn ngày,
lá đứng với mật độ trồng là 5,7; 6,2 và 8,3 vạn cây/ha. Kết quả cho thấy cả 3 giống
đều cho năng suất cao nhất ở mật độ 8,3 vạn cây/ha [7].
Theo TS. Phan Xuân Hào, phó Viện trưởng Viện nghiên cứu ngô về việc
khuyến cáo tăng mật độ để nâng cao năng suất ngô như sau: "Để thuận lợi cho canh
VI
III
IV
Dải
bảo
III
VI
IV
V
II
I
bảo
vệ
II
IV
Đạm urê
Kali
Lượng bón (kg/ha)
8.000 - 10.000
450 – 500
250 – 270
120 – 140
Lượng bón ( kg/sào)
300 – 400
15 – 18
8 – 10
4–6
Bón phân chia làm 4 lấn:
+ Bón lót toàn bộ phân chuồng và phân lần lúc làm đất.
+ Bón thúc lần 1: 10 ngày sau gieo bón 20-30% Urê, 20% Kali
25