Ảnh hưởng của mật độ trồng đến sinh trưởng, phát triển và năng suất giống bí ngồi Hàn Quốc F1 TN 220 vụ đông xuân năm 2011 trên đất cát ven biển tại Nghi Phong Nghi Lộc Nghệ An - Pdf 31

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
KHOA NÔNG LÂM NGƯ
======

PHAN THỊ HẢI YẾN

ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ TRỒNG ĐẾN SINH
TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT GIỐNG BÍ
NGỒI HÀN QUỐC F1 TN 220 VỤ ĐÔNG XUÂN NĂM
2011 TRÊN ĐẤT CÁT VEN BIỂN TẠI NGHI PHONG_
NGHI LỘC_NGHỆ AN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
NGHÀNH NÔNG HỌC

VINH - 5/ 2012


TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
KHOA NÔNG LÂM NGƯ
======

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KĨ SƯ NGHÀNH: NÔNG HỌC

ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ TRỒNG ĐẾN SINH
TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT GIỐNG BÍ
NGỒI HÀN QUỐC F1 TN 220 VỤ ĐÔNG XUÂN NĂM
2011 TRÊN ĐẤT CÁT VEN BIỂN TẠI NGHI PHONG
_ NGHI LỘC_NGHỆ AN


cũng như những lời góp ý chân thành để tôi hoàn thành tốt đề tài của mình.
Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn tới các chú, anh trong tổ bảo vệ đã nhiệt tình và có
trách nhiệm bảo vệ khu thí nghiệm của tôi trong thời gian tôi làm đề tài.
Qua đó tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới gia đình và bạn bè đã tạo điều kiện,
giúp đỡ cũng như là động viên tôi để hoàn thành tốt đề tài của mình.
Trong quá trình thực hiện đề tài tuy có nhiều cố gắng, nhưng tôi không thể
tránh khỏi những sai sót. Rất mong được sự góp ý của các thầy cô và các bạn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Vinh, tháng 5 năm 2011
Sinh viên
Phan Thị Hải Yến


MỤC LỤC

.

MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Ở VN việc “phát triển nông nghiệp bền vững” đang là một cụm từ mang tính
chất khái niệm. Trên thực tế chúng ta đang phải đối mặt với nhiều vấn đề như: thiếu
lương thực, thực phẩm, bệnh tật do dư lượng thuốc BVTV trong rau quá nhiều…
Bí ngồi (Cucubita pepo L.) được xem như là một loại rau sạch có giá trị dinh
dưỡng cao và không có dư lượng thuốc BVTV đang mới dần được gia nhập vào VN
trong mấy năm gần đây. Là giống bí nhập nội, có nguồn gốc từ Đan Mạch được
tổng công ty Rau quả Việt Nam đưa vào sản xuất thử tại Trung tâm khảo nghiệm
giống cây trồng tỉnh Hải Dương[8].


Bí ngồi là loại cây thuộc họ bầu bí nhưng thân cây thẳng, lá xẻ thùy, cuống lá

vào thành mạch. Do có chứa hàm lượng cao nước và chất xơ nên ăn bí ngồi sẽ thoát
khỏi tình trạng “ngồi... bí” [17].
Ở nước ta bí ngồi đang là một loại giống mới được vào thử nghiệm trồng và
đã mang lại năng suất cao hơn hẳn những loại cây trồng thuộc họ bầu bí, tuy nhiên
do thiếu kinh nghiệm sản xuất nên năng suất vẫn chưa đạt được tối ưu.
Cũng như những cây trồng khác bí chịu ảnh hưởng của các điều kiện ngoại
cảnh như: nhiệt độ, ánh sáng, thời vụ… và kỹ thuật canh tác như bón phân, tưới
tiêu, đặc biệt là yếu tố mật độ cây khi trồng.
Trong sản xuất nông nghiệp ngoài việc cung cấp đầy đủ nước và chất dinh
dưỡng cho cây thì việc trồng đúng mật độ đóng vai trò rất lớn để có năng suất cao.
Bí ngồi là cây có tán vươn rộng, nếu trồng mật độ quá dày cây sẽ lấy ít dinh dưỡng
và ánh sáng cho năng suất thấp, ngược lại nếu trồng với mật độ quá thưa thì hiệu
quá kinh tế không cao.
Trong những năm gần đây bí ngồi đang dần được mở rộng quy mô sản xuất
nhưng năng suất trung bình chỉ đạt 40-50% so với năng suất trung bình của thế giới.
Để đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu ngoài việc cần phải đẩy mạnh sản xuất
thông qua việc mở rộng diện tích canh tác, cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng,
nước… thì việc trồng đúng mật độ cũng có ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng, phát
triển của bí ngồi.
Nông dân ta thường có thói quen trồng cây quá dày nên dẫn đến tình trạng
lãng phí phân bón, giống, khả năng tiếp nhận dinh dưỡng kém. Do đó không những
cho năng suất thấp mà còn tăng cường sâu bệnh.
Từ những yêu câu thực tiễn trên, chúng tôi thực hiện đề tài: “Ảnh hưởng
của mật độ trồng đến sinh trưởng, phát triển và năng suất giống bí ngồi Hàn
Quốc F1 TN 220 vụ đông xuân năm 2011 trên đất cát ven biển tại Nghi Phong,
Nghi Lộc, Nghệ An ”
2. Mục đích và yêu cầu của đề tài
2.1. Mục đích



chú trọng đến việc cung cấp dinh dưỡng như phân bón cho cây mà bỏ quên một yếu
tố quan trọng ảnh hưởng lớn đến năng suất của cây trồng.
Mỗi giống cây trồng ở điều kiện điều kiện cụ thể có khả năng thích nghi
khác nhau và việc xác định mật độ cho cây trồng là dựa trên cơ sở đặc điểm của đất
đai, đặc điểm của cây trồng để tính số lượng cây cần trồng trên một đơn vị diện tích
và khoảng cách phù hợp giữa các cây.
Bí ngồi là cây dễ trồng, ở mức mật độ khác nhau thì năng suất thay đổi với
mức độ đáng kể, phẩm chất quả cũng thay đổi. Tuy vậy những nghiên cứu về ảnh
hưởng của mật độ đến cây bí ngồi không nhiều, vì vậy cần có những công trình
nghiên về mật độ cho các giống bí để tìm được mật độ phù hợp nhất nhằm đạt
được năng suất và phẩm chất cao nhất cho cây trồng.
.

Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp dẫn liệu khoa học về ảnh hưởng của các mật

độ khác nhau đến sinh trưởng, phát triển, năng suất giống bí ngồi Hàn Quốc F1 TN
220 và đưa ra các luận cứ về ảnh hưởng của mật độ đến các chỉ tiêu về sinh trưởng,
phát triển và năng suất của giống bí ngồi Hàn Quốc F1 TN 220.
Từ đó đưa ra phổ biến cho người dân trồng với mật độ thích hợp nhằm đạt
được hiệu quả kinh tế mức tối đa. Nghiên cứu về mật độ góp phần từng bước xây
dựng quy trình kỹ thuật thâm canh bí ngồi hàn quốc F1 TN 220


3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Người Nghệ An thường ít chú ý đến canh tác trong trồng trọt và đầu tư chăm
sóc cây bí nên hiệu quả mang lại còn thấp so với tiềm năng của nó.Vì vậy việc
nghiên cứu đề tài sẽ bổ sung vào canh tác bí ngồi phù hợp với điều kiện đất đai, khí
hậu của từng vùng.
Trong những năm gần đây nhu cầu về việc tiêu thụ rau sạch ngày càng tăng,
khi nền nông nghiệp đang được thương mại hoá, việc sử dụng thuốc BVTV trở nên

bề mặt cây từ gốc đến ngọn, sẽ tạo điều kiện để cây sinh trưởng tốt, phân cành
nhiều, cây hút được nhiều dinh dưỡng, hoa quả dưới thấp có điều kiện phát triển, số
quả trên cây lớn, diện tích lá trên cây cao, đó chính là tiền đề cho năng suất cá thể
cao. Nhưng nếu trồng với mật độ quá thưa , cây sinh trưởng mạnh , diện tích lá trên
cây lớn, tán phát triển quá rộng , hiệu quả sử dụng dinh dưỡng thấp gây lãng phí các
nguồn lực nông nghiệp. Mật độ thưa có thể năng suất cá thể cao nhưng năng suất
quần thể thấp nên hiệu quả sản xuất lại thấp.


Nếu trồng với mật độ dày, các cây cạnh tranh dinh dưỡng và ánh sáng nhiều,
đường kính thân nhỏ, phân cành ít, diện tích lá trên cây thấp nhưng chỉ số diện tích
lá cao nên các lá phía dưới không nhận được mà chỉ tiêu tốn dinh dưỡng hô hấp vô
hiệu.
Thời kỳ ra hoa kết quả lá rụng nhiều, khả năng quang hợp giảm ảnh hưởng
tới sự tích luỹ chất dinh dưỡng cho quả và hạt, do vậy trồng dày số quả trên cây ít,
nhỏ năng suất từng cây thấp, nên năng suất chung kém lại tốn công, tốn giống.
Trường Đại học Nông nghiệp I (1972) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa năng
suất kinh tế, năng suất sinh học và diện tích lá. Thí ngiệm đã cho môi tương quan
giữa năng suất kinh tế, năng suất sinh học và diện tích lá, mối tương quan giữa ba
yếu tố đó được thể hiện ở ở bảng sau:
Chỉ số diện tích lá

NS Sinh vật học (tạ/ha)

NS kinh tế (tạ/ha)

2,0 - 25
40,4 – 50,8
2,5 – 3,0
50,6 – 50,8

Mỗi vùng có kỹ thuật canh tác khác nhau tuỳ thuộc vào điều kiện đất đai, mùa
vụ, địa hình… mà mỗi giống có mật độ thích hợp nhằm đạt được năng suất cao.
Ngô trồng dày thì mức độ bị bệnh đốm lá lớn càng cao, bệnh khô vàng thân
càng mạnh [6].
b. Mật độ là yếu tố quan trọng quyết định năng suất của cây bí ngồi
Năng suất của cây bí ngồi được quyết định bởi tổng số cây thực tế trên một
đơn vị diện tích, trọng lượng bình quân của quả
Năng suất = Mật độ x Năng suất cá thể
Mục tiêu chính của thâm canh là làm sao đạt được tích số trên lớn nhất.
Phân tích công thức trên cho thấy: Trong cùng một giống trọng lượng quả ít thay
đổi, hai yếu tố cây và số quả trên cây thì biến động nhiều và nghịch chiều nhau.
Nghĩa là số cây tăng nhiều thì số quả trên cây giảm và ngược lại. Hai yếu tố đó
phát triển hài hoà đến một giới hạn nhất định thì cho năng suất cao nhất, quá giới
hạn thì năng suất giảm. Do vậy mật độ hợp lý có quan hệ rất lớn đến năng suất.
Trên thực tế sản xuất mật độ không phải cố định khắp mọi nơi mà thay đổi
tuỳ theo chất đất, độ ẩm, giống, phân bón và kỹ thuật thâm canh, sâu bệnh… trồng
hợp lý mật độ sẽ tận dụng ánh sáng mặt trời tốt , khai thác các tiềm năng của đất,
cây sinh trưởng phát triển thuận lợi và có khả năng phát huy hết tiềm năng của
giống, đem lại hiệu quả cao cho người sản xuất.
1.1.2. Cơ sở thực tiễn
Bí ngồi được xem là loại thực phẩm có giá trị kinh tế và giá trị dinh dưỡng
cao. Những năm gần đây tại Việt Nam bí ngồi được người tiêu dùng ưa chuộng trên
thị trường rau sạch.
Hiện nay, trong công tác chuyển đổi cơ cấu cây trồng, người trồng rau đã
quan tâm tới cây bí nhiều hơn. Vì bí là cây rau có thời gian sinh trưởng ngắn, dễ


trồng và mang lại hiệu quả kinh tế cao, thu nhập lớn.
Nhìn chung năng suất bí khá cao, tuy nhiên một số khó khăn thường gặp như
thời tiết không thuận lợi, khi cây bí ra hoa gặp nhiệt độ, độ ẩm thấp làm cản trở việc

Bí đỏ

Bí ngồi

Dưa

Dưa

Hấu
leo
Nước %
95,10
95,50
96,60
92
96,20
93,60
Năng lượng( cal)
14
12
27
16
11
15
Chất đạm
0,60
0,30
0,30
1,90
0,80

12
16
8
5
4
7
B1(mg)
0,02
0,01
0,06
0,03
0,04
0,04
Caroten(mg)
0,01
0,01
0,02
0,03
0,26
0,20
Nguồn: http: // www. Argiviet.com/ News.detail 680 - C23 - 50 - p6 - nong hoc
-Flower --SEED.htnl - 65K [18].
Từ những giá trị dinh dưỡng và y học mà bí mang lại chúng ta nên đẩy mạnh
thâm canh bí trên diện rộng và từng bước hoàn thành quy trình sản xuất bí trong đó
nên chú trọng trồng bí đúng mật độ.
1.3. Tình hình sản xuất bí trên thế giới và trong nước
1.3.1. Tình hình nghiên cứu về mật độ và sản xuất bí trên thế giới
Trên thế giới những nghiên cứu về mật độ trồng bí còn ít và còn mang tính
chất mới mẻ, tuy nhiên đã có nhiều nghiên cứu thành công về mật độ trên nhiều cây
trồng khác nhau.



Bảng 1.2. Tình hình sản xuất bí ngồi trên thế giới
Chỉ tiêu

Năm

Châu

Châu

Châu

Châu Đại

Mỹ
202,97

Âu
124,2

Dương
176.35

Châu Á

Diện tích

2008


7,33
1,77

12,65
2,53

23,85
2,96

17,87
0,31

14,06
13,39

( triệu tấn)

2009

1,86

2,50

3,04
0,28
13,49
(Nguồn :www.FAO.org.stat) [21]

936,54



5,08

730,38

330,21

11.30

2009
2007

5,77
18,00

5,49
21,62

666,44
6,30

353,21
19,22

11.50
23,05

2008

17,89


0,42

0,11

6,35

0,29

2009

0,10

0,41
0,12
6,50
0,11
(Nguồn :www.FAO.org.stat) [21].

Khoảng 80% diện tích trồng bí trên thế giới tập trung chủ yếu ở lục địa Á
Phi, ở Châu Á (62,2%) và Châu Phi (15,8%).
Theo thống kê của FAO( 2007) diện tích trồng bí trên thế giới là 1503.336 ha,
năng suất đạt 13,50 tấn/ ha, sản lượng đạt 20 .296.443 tấn, trong đó 2 nước trồng bí
nhiều nhất là Ấn Độ đạt 360.000 ha, Trung Quốc đạt 328.000 ha.
1.3.2. Tình hình sản xuất bí ở Việt Nam
Giống bí ngồi Hàn Quốc du nhập vào Việt Nam chừng vài năm nay. Theo
các tài liệu, đó là loài cây chỉ thích nghi với vùng đất có khí hậu mát và ẩm, nhiệt
độ trung bình từ 25-30 C.



Cây bí ngồi đang còn lạ lẫm với người dân xứ Nghệ. Tuy giá trị dinh dưỡng
cao và mang lại nhiều lợi ích thiết thực nhưng ít được người dân đem vào sản xuất
do bi ngồi chưa được phổ biến rộng rãi. Hiện nay, ở Nghệ An bí ngồi xem như là
một loại rau sạch có giá trị, được các siêu thị thu mua với mức giá 10 – 12 nghìn
đồng/ 1kg, với mức giá đó người nông dân thu được lợi nhuận khá cao từ việc thâm
canh bí ngồi.
Tuy nhiên một số khó khăn khăn thường gặp khi trồng bí ngồi là thời tiết
không thuận lợi, khi cây ra hoa đậu quả thường gặp mưa gió, ẩm ướt dẫn đến hiện
tượng thối quả. Mặt khác kỹ thật canh tác chưa phù hợp dẫn đến năng suất thấp.
So với ở các tỉnh miền Bắc thì bí trồng ở Nghệ An thường phát triển kém
hơn chủ yếu là do điều kiện tự nhiên ở miền Bắc thuận lợi hơn.
Trong những năm gần đây cây bí được trồng khắp các huyện trong tỉnh
Nghệ An như: Nghi Lộc, Nam Đàn, Diễn Châu, Quỳnh Lưu, Anh Sơn…
Ở xã Tây Sơn, huyện Quỳnh Lưu, Tỉnh Nghệ An với cơ cấu trên diện tích
màu chỉ trồng một vụ bí xuân sau đó trồng rau hè thu rồi đến cây vụ đông trên diện
tích 1 sào có thể thu hoạch 2 – 2,5 tấn quả. Kinh nghiệm trồng của người dân cho
thấy muốn bí có năng suất cao thì ngoài đầu tư bón phân, chọn giống người trồng bí
phải điều tiết thân lá bí thật chuẩn không để cho bí phát triển thân lá tự do [22].
Trên địa bàn huyện Yên Thành, trạm khuyến nông đã xây dựng thành công
mô hình thâm canh cây bí, điển hình như mô hình bí xanh vụ đông năm 2005 tại xã
Phú Thành đặt hiệu quả kinh tế cao 78 triệu đồng/ha/năm. Năm 2006 xây dựng mô
hình tại Long Thành, Lăng Thành đều có kết quả từ 50 – 70 triệu đồng/ha/vụ. Năm
2007 xây dựng mô hình cánh đồng thu nhập cao 2 vụ lúa, 1 vụ bí thu nhập 50 triệu
đồng/ha/năm tại xã Phúc Thành. Năm 2008 triển khai trồng bí tại thị trấn năng suất
đạt 30 tấn/ha [23].


Bảng 1.4. Tình hình sản xuất bí ở Nghệ An
Năm


11188

Diện tích (ha)
Năng suất (tạ /ha)
Sản lượng (tấn)

(Nguồn: Tổng cục thống kê Nghệ An, 2008) [1].
Qua bảng ta thấy năm 2005 diện tích trồng bí vẫn còn ít chỉ có 235 ha toàn
tỉnh, từ năm 2005 - 2008 do hiểu rõ tầm quan trọng của bí mà bí được trồng trên
diện rộng, diện tích tăng từ 235 đến 733 tạ/ha. Năng suất của bí từ năm 2005 – 2008
tăng từ 146,81 đến 152,63 và sản lương tăng từ 3450 đến 11188 tấn.
Tuy diện tích canh tác bí ngồi ngày càng được mở rộng nhưng diện tích và
năng suất vẫn chưa cao so với các tỉnh khác. Người dân vẫn chưa chú trọng đến
việc thâm canh cây bí ngồi để làm thương phẩm.
1.4. Một vài đặc điểm về điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội ở Nghệ An
1.4.1. Điều kiện tự nhiên
Nghệ An là một tỉnh thuộc vùng Bắc Trung Bộ, có toạ độ địa lý từ 18 035’ –
19030’ Vĩ độ bắc và 103052’ – 105042’ kinh độ đông, với tổng diện tích 1637068
ha( bằng 1/20 diện tích lãnh thổ Việt Nam)
Vị trí địa lý có ý nghĩa quan trọng về tự nhiên, kinh tê xã hội tỉnh Nghệ An.
Đặc điểm chung của lãnh thổ Nghệ An là một tổng thể tự nhiên nhiệt đới ẩm, điển
hình. Tổng thể này lại thay đổi theo mùa và mang đặc tính khắc nghiệt của miền
Trung.
Khí hậu Nghệ An mang đặc tính gió mùa với đặc điểm cơ bản là nóng ẩm và
mưa nhiều theo mùa. Hàng năm, đất Nghệ An nhận được trung bình từ 120 – 140
kcal/cm2 bức xạ mặt trời. Số giờ thường đạt trên 160 giờ/năm ,nhiệt độ trung bình
từ 23 – 240C. Tổng nhiệt độ trên 90000C, mỗi năm có trên 30 ngày nhiệt độ dưới


100C và 20 – 25 ngày nhiệt độ trên 300C. Ẩm độ không khí là 85%, lượng mưa

15,4
15,3
15,6

Giờ nắng

Lượng mưa

(giờ)
(mm)
(°C)
(°C)
23,3
26,2
2,3
11,09
17,1
19,2
0,3
1,66
94
18,1
0,3
1,91
93
19,4
23,1
1,02
(Nguồn: Đài khí tượng thuỷ văn Bắc Trung Bộ. 2011)




Chương 2. VẬT LIỆU NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ trồng đến quá trình sinh trưởng, phát
triển, mức độ nhiễm sâu bệnh của bí ngồi.
- Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ trồng đến các yếu tố cấu thành năng suất
và năng suất của bí ngồi
2.2. Vật liệu, địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.2.1. Vật liệu nghiên cứu
Giống bí ngồi Hàn Quốc F1 TN 220: Là giống nhập nội từ Hàn Quốc được
viện KHKTNN Việt Nam bồi dưỡng và chọn lọc từ năm 1995, Được được vào sản
xuất tại Nghệ An từ vụ xuân năm 2000.
* Giống có đặc điểm
- Giống không đẻ nhánh, thân đứng thẳng, sinh trưởng mạnh và kháng sâu
bệnh tốt, trồng được ở chân đất khô, đất cát pha chủ động tưới tiêu, thích nghi với
độ ẩm cao, trồng được quanh năm. Tỷ lệ đậu quả từ 5-7 quả, trọng lượng mỗi quả từ
2-3 kg.
- Thời gian sinh trưởng của giống từ 60-70 ngày, giống được gieo trồng
1000m2 là 160-170g. Giống có thể được gieo trồng quanh năm, mức độ chịu rét cao,
thích ứng rộng. Thâm canh tốt, đầu tư cân đối cho năng suất 20-25 tấn/ha
Dụng cụ thí nghiệm: Thước đo bằng dây, cân, quốc, xẻng
2.2.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Thí nghiệm được tiến hành trong vụ đông xuân 2011 tại trại thực nghiệm
Nông học - Xã Nghi Phong - Huyện Nghi Lộc - Nghệ An
Đất đai: Thí nghiệm được tiến hành trên đất cát pha
Một số chỉ tiêu sinh trưởng, các yếu tố cấu thành năng suất được tiến hành
trong phòng thí nghiệm B môn Khoa học cây trồng - Khoa Nông Lâm Ngư - Đại
học Vinh
Thời gian tiến hành thí nghiệm. Từ 11/2011 đến 02/2012

CT2

CT3

CT2

CT1

CT5

CT4

Dải bảo vệ

2.4. Quy trình kỹ thuật áp dụng
2.4.1. Thời vụ gieo
Vụ đông xuân, gieo ngày 29 tháng 11 năm 2011
2.4.2. Chuẩn bị trước khi gieo
Giống là khâu quan trọng, có ảnh hưởng trực tiếp tới năng suất cây trồng. Vì
vậy chúng ta phải chuẩn bị hạt giống cận thận trước khi gieo bao gồm các khâu sau:
- Phơi hạt giống
- Chọn hạt giống: Chọn giống khoẻ mạnh, sạch sâu bệnh, năng suất cao
Ruộng thí nghiệm được làm trên chân đất cát pha, đất trồng cần làm đất sâu,
cày bừa hoặc quốc lật, phơi cho cỏ chết sau đó nhặt sạch cỏ.Cày đất nhỏ rắc vôi bột
để tiêu diệt tàn dư nấm và sâu bệnh.


Lên luống: Sau khi làm đất xong thì tiến hành lên luống, chia khu vực thí
nghiệm thành các ô theo công thức, lên luống cao 20 – 25cm nhằm thoát nước khi
có mưa lớn, Luống rộng: 1 m, Luống dài: 10m

8

Tiến hành dặm cây lúc bí còn 2-3 lá thật (khoảng 10 ngày sau mọc)
2.4.6. Kỹ thuật bón phân
Lượng phân bón cho 1 sào Bắc bộ:
- Đạm Urê: 5-6kg
- Phân chuồng: 300kg
- Kali lorua (loại 60%): 4kg
- Supe lân lâm thao: 20kg
Bón phân được chia làm 4 đợt


Trích đoạn Ảnh hưởng của mật độ đến các chỉ tiêu phát triển Ảnh hưởng của mật độ đến yếu tố cấu thành năng suất của bí ngồi. Ảnh hưởng của mật độ đến năng suất của bí ngồ Ảnh hưởng của mật độ trồng đến một số đặc điểm hính thái quả bí ngồi Sản phẩm chính của bí ngồi là quả, quả bí ngồi rất giàu dinh dưỡng, có thể KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 1 Kết luận
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status