TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
KHOA NÔNG LÂM NGƯ
-----------------
PHẠM THỊ SINH
ẢNH HƯỞNG CỦA LIỀU LƯỢNG PHÂN ĐẠM ĐẾN SINH
TRƯỞNG
PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT CỦA GIỐNG NGÔ NẾP LAI
MX10 TRONG VỤ ĐÔNG XUÂN 2011-2012 TẠI XÃ NGHI
PHONG - NGHI LỘC - NGHỆ AN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KỸ SƯ NGÀNH NÔNG HỌC
2
VINH - 5.2012
Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi.
Các số liệu, kết quả trong luận văn là trung thực và chưa được ai công bố trong bất
kỳ công trình nghiên cứu nào. Mọi trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ
nguồn gốc.
Vinh, ngày 10 tháng 5 năm 2012.
Tác giả
Phạm Thị Sinh
3
MX10…...29
Bảng 3.2. Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến chiều cao cây qua các giai đoạn...31
Bảng 3.3. Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến tốc độ ra lá của cây qua các giai
đoạn………………………………………………………………………………35
Bảng 3.4. Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến chỉ tiêu thân lá……......................38
Bảng 3.5. Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến hình thái bắp…………………….43
Bảng 3.6. Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến sâu bệnh hại …………………….46
Bảng 3.7. Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến khả năng chống đổ………………50
Bảng 3.8. Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến các yếu tố cấu thành năng suất và
năng suất……………………………………………………………………….....51
Bảng 3.9. Hiệu quả kinh tế giữa các công thức thí nghiệm………………………56
5
DANH MỤC ĐỒ THỊ VÀ BIỂU ĐỒ
Trang
Đồ thị 3.1. Biểu diễn tăng trưởng chiều cao cây qua các giai đoạn……………...32
Đồ thị 3.2. Biểu diễn tốc độ ra lá của cây qua các giai đoạn……………………..36
Đồ thị 3.3. Biểu đồ biểu diễn năng suất lý thuyết và năng suất thực thu của giống
qua`các công thức………………………………………
……………………….52
DANH MỤC VIẾT TẮT
1. LAI: Chỉ số diện tích lá
2. P1000 hạt: Khối lượng 1000 hạt
3. NSLT: Năng suất lý thuyết
4. NSTT: Năng suất thực thu
5. CCCCC : Chiều cao cây cuối cùng
6. CCĐB: Chiều cao đóng bắp
7. DTLĐB: diện tích lá đóng bắp
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .............. ……………… 19
2.1. Nội dung nghiên cứu ........................................................................ …….....19
2.1.1. Đối tượng……………………………………………………….……….....19
2.1.1.1.Giống ngô………………………………………………………………...19
2.1.1.2. Phân bón..………………………………………………………………..19
7
2.1.2. Điều kiện thí nghiệm ……………………………………….……………....20
2.1.2.1.Thời gian tiến hành thí nghiệm……………………………………….......20
2.1.2.2. Diễn biến thời tiết trong vụ Đông- Xuân 2011- 2012………………..…..20
2.1.3. Phương pháp bố trí thí nghiệm……………………….…………………....22
2.1.3.1. Công thức thí nghiệm.………………………………….………………..22
2.1.3.2. Sơ đồ thí nghiệm…....…………………………………………………....23
2.1.4. Quy trình kỹ thuật…....……………………………………………………23
2.1.4.1. Chuẩn bị hạt giống …....…………………………………………………23
2.1.4.2. Kỹ thuật làm đất…....……………………………………………….…....23
2.1.4.3. Kỹ thuật gieo, khoảng cách, mật độ…....………………………….……..24
2.1.4.4. Kỹ thuật bón phân....…………………………………….……………....24
2.1.4.5. Chăm sóc…....……………………………………………………………24
2.1.4.6. Thu hoạch…....…………………………………………...……………...24
2.2. Phương pháp thu thập số liệu………………………………………...….....25
2.2.1. Về cây trồng…………………………………………………......................25
2.2.2.1. Chỉ tiêu về thời gian sinh trưởng của giống……………………………...25
2.2.2.2. Chỉ tiêu về sinh trưởng, phát triền và đặc tính hình thái của cây……......25
2.2.2.3. Đánh giá mức độ nhiễm sâu bệnh………………………………………..26
2.2.2.4. Các chỉ tiêu về năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất…………….27
2.3. Hình thức thí nghiệm và phương pháp xử lý số liệu………………...………28
Chương 3 ..............................................................................................................29
Việt Nam ngày nay đang bước vào một thời kỳ mới- thời kỳ hội nhập phát
triển đa ngành với mục tiêu công nghiệp hóa – hiện đại hóa. Trong đó lịch sử về
phát triển ngành nông nghiệp đã có những chuyển biến thăng trầm với nhiều thành
công về khoa học công nghệ trong tạo giống. Cùng với nhịp phát triển kinh tế ngành
nông nghiệp giữ một vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân.
Việc phát triển cây lương thực để cung cấp nguồn lương thực trong nước cũng
như nước ngoài là một vấn đề cấp thiết đặt ra cho xã hội ngày nay.
Ngô (Zea mays L.) thuộc họ hòa thảo Poace và tộc Tripraceas là một trong 3 cây
lương thực chủ yếu trên thế giới (Lúa mỳ, Lúa nước, Ngô). Trong lịch sử tiến hóa
khoảng 1000 loại cây trồng phổ biến nhất hiện nay thì chưa có loại cây trồng nào
phát triển nhanh chóng về quy mô, hiệu quả sử dụng ưu thế lai, có nhiều công dụng
như cây ngô. Đặc biệt là các nước Châu Phi ngô là nguồn lương thực không thể
thiếu trong khẩu phần ăn hàng ngày, ngô còn làm thức ăn gia súc, cung cấp nguyên
liệu cho ngành chế biến thực phẩm, y học vv…
Ở Việt Nam với tầm quan trọng đó, ngô được trồng phổ biến mọi vùng trong cả
nước trong đó Nghệ An là một tỉnh thuộc khu vực Miền Trung có khí hậu khắc
nghiệt nhưng Nghệ An có tiềm năng về phát triển thâm canh giống ngô, trong đó có
giống ngô nếp. Khu vực xung quanh thành phố Vinh ngô nếp chiếm diện tích khá
lớn nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người dân thành phố, ngô nếp luộc,
nấu chè, đổ xôi là những món ăn được mọi người ưa chuộng và là mặt hàng cung
cấp cho khách du lịch trong vùng.
Vì vậy người dân ở đây đã mở rộng trồng ngô nếp với đa dạng các loại giống,
có giống nếp Nghi Lộc, nếp Diễn Châu,…nhưng dần bị thoái hóa và được thay thế
bằng giống ngô nếp lai năng suất cao, phẩm chất tốt như giống MX4, HN88,…Đặc
biệt giống ngô nếp lai MX10 đã được đưa vào khảo nghiệm ở một số huyện và địa
phương của Nghệ An như: Nghi Lộc, Diễn Châu cho thấy giống có khả năng thích
nghi tốt trên vùng đất cát ven biển, cho năng suất cao và chất lượng tốt. Là giống
ngô chủ yếu được sử dụng để ăn tươi nên chất lượng và mẩu mã bắp có ảnh hưởng
11
Cây trồng sinh trưởng phát triển và cho năng suất cao điều đó không chỉ do
giống, điều kiện tự nhiên cho phép mà một phần quan trọng là do trình độ thâm
canh trong đó có khâu kĩ thuật bón phân cho cây trồng.
Đối với ngô là cây phàm ăn nên cần lượng phân bón nhiều nhưng phải bón
hợp lý thì mới đem lại hiệu quả cao. Đặc biệt với các giống ngô nếp lai cần lượng
đạm nhiều và có phản ứng rõ với phân đạm.[10]
Trong quá trình nghiên cứu có nhiều nhà khoa học đã chứng minh về khả
năng phản ứng của ngô với liều lượng đạm khác nhau thì sự sinh trưởng, phát triển
và năng suất cũng khác nhau. Vì vậy nghiên cứu các chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển
của ngô ở các liều lượng phân đạm khác nhau để đánh giá tính thích ứng cũng như
tiềm năng năng suất của giông trong điều kiện nhất định. Từ đó nhằm cung cấp dữ
liệu khoa học cho biện pháp tăng năng suất ngô.
4.2. Ý nghĩa thực tiễn của đê tài
Do giống MX10 mới được đưa vào sản xuất nên người dân chủ yếu bón phân
theo kinh nghiệm. Vì vậy, việc bón phân chưa đảm bảo nhu cầu của cây, chưa phát
huy được tiềm năng năng suất và chất lượng của giống. Kết quả là gây lãng phí
phân bón, phát sinh nhiều sâu bệnh, từ đó ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của người
sản xuất.
Trên cơ sở tìm hiểu về tình hình địa phương và hiểu rõ về tầm quan trọng
của việc bón phân của cây ngô chúng tôi thực hiện đề tài này để xác định lượng
đạm hợp lý trên nền đất cát pha vùng Nghi Lộc – Nghệ An. Từ đó phổ biến vào sản
xuất cho vùng nghiên cứu.
Chương 1
TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Ngô răng ngựa (Zea mays L. subsp. indentata sturt) có dạng hạt khá dài dẹt,
đỉnh hạt lỏm, nhăn tạo hình răng ngựa.Cũng như ngô đá, ngô răng ngựa có màu hạt
và màu mày rất đa dạng tạo nên các thứ khác nhau.
13
Ngô nếp (Zea mays L. subsp. subroceratina) với màu hạt tím, mày trắng
hoặc tím. Ngô nếp có tính dẽo và thơm tiềm năng năng suất thấp.
Ngô đường (Zea mays L. subsp. saccharata sturt) có dạng hạt dẹt nhăn đỉnh
hạt lỏm có màu hạt đa dạng từ trắng đến tím, màu mày trắng và tím đỏ.
Ngô nổ (Zea mays L. subsp. everta sturt) có dạng hạt nhỏ tròn hoặc nhọn
đầu, có màu hạt trắng , vàng, tím, đỏ và màu mày trắng .
Ngô bột (Zea mays L. subsp. amilacea sturt) có dạng hạt to, dẹt, màu trắng
đục, vàng nhạt có mày trắng . Ngô bột được gieo trồng chủ yếu ở vùng nhiệt đới
Trung Mỹ. Hiện tại không có ngô bột ở Việt nam.
Ngô Bọc (Zea mays L. subsp. tunecata sturt) có hạt bọc bởi mày phát triển
như lá bi. Ngô bọc không có ý nghĩa về mặt kinh tế chỉ có ý nghĩa về mặt tiến hóa
và di truyền [5]
1.2. Tình hình sản xuất ngô trên Thế Giới, ở Việt Nam và Nghệ An
1.2.1. Tình hình sản xuất ngô trên Thế Giới
Cây ngô được coi là một trong 3 cây lương thực quan trọng nhất Thế giới. Về
mặt diện tích trồng và tổng sản lượng ngô đứng vị trí thứ ba sau lúa mỳ và lúa nước.
Cây ngô được trồng thành công ở các vùng nhiệt đới và tại hầu hết các quốc gia
trên Thế giới. Trong những năm gần đây, diện tích trồng ngô không tăng mạnh như
những năm trước đây, vì diện tích đất canh tác thu hẹp để sử dụng cho công nghiệp
và các mục đích khác. Tuy nhiên sản lượng ngô vẫn tăng là do năng suất ngô ngày
càng cao nhờ sử dụng các giống ngô lai [9].
Mức tăng trưởng bình quân hàng năm của cây ngô trên thế giới về diện tích là
0,7%. năng suất là 2.4% và sản lượng 3,1%. [6] .
2,00
204,2
145,0
4,90
714,8
145,6
4,80
696,3
148,6
4,70
704,2
157,85
4,97
784,65
161,01
2007/08
2008/09
2009/10
Sản lượng
710
795
799
813
Tiêu thụ
87
101
84
86
Dự trữ
725
775
781
815
Thương mại 117
137
155
153
Nguồn: Ủy ban ngũ cốc quốc tế, số liệu thống kê cập nhật
2010/11
(dự báo)
(CIMMYT), nhiều giống ngô cải tiến đã được đưa vào trồng góp phần nâng năng
suất ngô lên gần 1,5 tấn/ha. Ngành sản xuất ngô nước ta thực sự có những bước tiến
nhảy vọt từ đầu những năm 1990 đến nay, do việc tạo được các giống ngô lai và mở
rộng diện tích trồng ngô lai trong sản xuất, kết hợp áp dụng các biện pháp kỹ thuật
canh tác theo nhu cầu của giống mới. Năm 1991, diện tích trồng giống lai chưa đến
1% trên 430 nghìn hecta trồng ngô; năm 2006, giống lai đã chiếm khoảng 90% diện
tích trong hơn 1 triệu hecta ngô cả nước, trong đó giống do các cơ quan nghiên cứu
trong nước chọn tạo và sản xuất chiếm từ 58-60% thị phần trong nước, số còn lại là
của các công ty liên doanh với nước ngoài. Trong đó, giống ngô lai do Viện nghiên
cứu ngô (Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam) tạo ra chiếm tới 90% lượng giống
lai của Việt Nam. Một số giống khá nổi bật như: LVN10, LVN99, LVN4, LVN9,
VN8960, LVN885, LVN66… Các giống ngô này có năng suất và chất lượng tương
đương các giống ngô của các công ty liên doanh với nước ngoài nhưng giá bán chỉ
bằng 65-70%, góp phần tiết kiệm chi phí cho người trồng 80-90 tỷ đồng/năm. Nhờ
vậy, người trồng cũng đã chủ động được hạt giống cho sản xuất, không lệ thuộc vào
giống nhập khẩu của nước ngoài như những năm trước.
Từ năm 2006, năng suất và sản lượng ngô của Việt Nam đã có những bước tiến
nhảy vọt cao nhất từ trước đến nay. Tốc độ tăng trưởng diện tích, năng suất và sản
lượng ngô của Việt Nam cao hơn nhiều lần của thế giới, lợi nhuận trồng ngô lai cao
hơn hẳn các loại cây trồng khác. Năm 2008, diện tích trồng ngô của cả nước (trong
đó 90% diện tích là ngô lai) đạt 1.126.000 ha, tổng sản lượng trên 4.531.200 tấn.
Năm 2009, diện tích đạt 1.170.900 ha, tổng sản lượng lên tới trên 5.031000 tấn, cao
nhất từ trước tới nay. Các giống ngô lai của Việt Nam bước đầu cũng đã xuất bán
sang các nước Bangladesh, Cam-pu-chia, Lào, Quảng Tây -Trung Quốc, Pakistan,
Indonesia, Ấn Độ…(Theo Viện nghiên cứu ngô).
Ở Việt Nam, những năm gần đây cây ngô chuyển gen cũng đã được quan tâm và
nghiên cứu, chủ yếu tập trung vào gen kháng sâu đục thân và kháng thuốc trừ cỏ.
17
300,0
360,0
432,0
557,0
730,2
912,7
991,1
1052,6
1033,1
1067,9
1.126,0
1.170,9
1,00
1,10
1,55
2,11
2,75
3,44
3,46
3,60
3,73
3,85
4,02
4,30
300,0
400,0
671,0
1177,0
2000 đạt trên 20,99 tạ/ha, đến năm 2007 đạt 34,73 tạ/ha (tăng 165,47%). Nhờ diện
tích và năng suất ngô không ngừng nâng lên qua các năm nên sản lượng ngô trong
giai đoạn này tăng mạnh. Cụ thể năm 2000 sản lượng mới đạt 78,672 tấn, đến 2007
đã đạt tới 206,960 tấn (tăng 263,1%).
Hiện nay Nghệ An sản xuất ngô tăng cơ bản về diện tích. Năng suất ngô hằng năng
có tăng nhưng hiện còn rất thấp so với tiềm năng vì vậy trong giai đoạn này Nghệ
An cần phấn đấu đẩy mạnh áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất ngô.
1.3. Tình hình nghiên cứu ảnh hưởng phân đạm đối với cây ngô trên Thế Giới
và ở Việt Nam
1.3.1. Tình hình nghiên cứu trên Thế giới
Trong các yếu tố dinh dưỡng thì đạm được xem là yếu tố có vai trò quan trọng
rất lớn đến sự sinh trưởng và phát triển cây ngô. Những nghiên cứu cho thấy rằng
tầm quan trọng của phân đạm đối với cây ngô đã được thể hiện ở các kết quả sau.
Theo Smith (1973) trong trường hợp không bón đạm năng suất ngô chỉ đạt
1.192 kg/ha, có bón đạm năng suất ngô tăng lên 7.338 kg/ha.
Theo Velly (1973) nghiên cứu bón đạm cho cây ngô cho kết quả:
Bón đạm 40 kg N /ha năng suất đạt 12,11 tạ/ha. Bón đạm 80kg N/ha năng suất
đạt 15,61 tạ/ha. Bón đạm 120kg N /ha năng suất đạt 32,12 tạ/ha. Bón đạm 160kg
N/ha năng suất đạt 41,47 tạ/ha. Bón đạm 200kg N /ha năng suất đạt 52,18 tạ/ha [13]
1.3.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
19
Nước ta đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu ảnh hưởng của phân đạm đến sinh
trưởng, phát triển và năng suất cây ngô, song đề tài này còn là một công trình
nghiên cứu lâu dài trong những điều kiện đất đai và khí hậu nhất định.
Theo Tạ Minh Sơn (1995) nghiên cứu ở đồng bằng Sông Hồng cho thấy để tạo
ra một tấn ngô hạt cây ngô lấy đi khỏi đất trung bình một lượng N, P, K là (22,38.2kg N).
Kết quả nghiên cứu bón đạm cho ngô của Đào Thế Tuấn cho thấy ở đồng bằng
Bón phân NPK cân đối kết hợp với phân hữu cơ là biện pháp hữu hiệu làm tăng
năng suất và phẩm chất ngô, giúp cải tạo đất góp phần chống xói mòn và bảo vệ
môi trường sinh thái. Theo Fao (1993) sau hơn 30 năm nghiên cứu và thực nghiệm
nếu chỉ sử dụng phân chuồng và tàn dư thực vật để trả lại cho đất trồng mà không
sử dụng phân hóa học (NPK) thì năng suất cây trồng giảm đi ít nhất 30%, cân bằng
bị phá vở, đất bị bạc màu và nạn đói đe dọa sẽ gây hậu quả nghiêm trọng về môi
trường sinh thái.
Theo Tạ Minh Sơn (1995) nghiên cứu ở đồng bằng Sông Hồng cho thấy để tạo
ra một tấn ngô hạt, cây ngô đã lấy đi khỏi đất trung bình một lượng N, P, K là 22,3
kg N; 8,2 kg P2O5; 12,2 kg K2O. Lượng phân N P K tiêu tốn để sản xuất ra một tấn
ngô hạt 33,9 kg N; 14,5 kg P2O5; 17,2 kg K2O. Hiệu suất 1kg N : (4.5-9.2) kg ngô
hạt; 1kg P2O5; 4.5-7.2 kg ngô hạt; 1kg K2O: 2.5-5.2 kg ngô hạt. Tỷ lệ nhu cầu
N:P:K =1:0,35:0,45. [15].
Bón phân vô cơ kết hợp phân hữu cơ cho ngô đã làm tăng năng suất ngô và giúp
cải thiện độ phì trong đất, theo Bùi Đình Dinh (1988,1994) để đảm bảo cho cây
trồng có năng suất cao, ổn định, phân bón hữu cơ chiếm 25% tổng số dinh dưỡng
còn 75% bón phân hóa học [17].
1.5. Hiệu lực phương pháp bón phân
Ngô là cây trồng có tiềm năng năng suất cao, đồng thời cũng có nhu cầu dinh
dưỡng rất lớn. Hiện tại trên thế giới năng suất kỷ lục của ngô là 212 tạ/ha với năng
suất này thì nhu cầu dinh dưỡng là rất lớn.
Bón cân đối đạm - kaly cho ngô có hiệu lực cao hơn nhiều so với lúa. Bội thu do
bón cân đối ( trung bình của nhiều liều lượng đạm) có thể đạt 33 tạ/ha trên đất phù
21
sa Sông Hồng, 37,7 tạ/ha trên đất bạc màu, 11,7 tạ/ha trên đất xám và 3,9 tạ/ha trên
đất đỏ vàng.
Bón từng loại phân riêng rẽ hiệu lực không cao, bón kết hợp thì hiệu lực tăng lên
bắp và trổ cờ, tung phấn thụ tinh của cây ngô. Tạo cho thân lá phát triển tối đa, giữ
bộ lá xanh lâu để quang hợp nuôi hạt. [9]
1.6. Nhu cầu dinh dưỡng của cây ngô
Cây ngô hút các chất dinh dưỡng cần thiết để sinh trưởng và phát triển bình
thường qua các hợp chất vô cơ như nhiều cây tự dưỡng khác. Cây hút khoáng trong
đất chủ yếu nhờ vào hoạt động của bộ rễ theo các phương thức rễ ngô hút khoáng
qua dung dịch đất, rễ ngô có thể trao đổi ion trực tiếp với keo đất nhờ lông hút của
rễ.[12].
Ngô là cây phàm ăn, muốn cho ngô đạt năng suất cao phải trồng ngô trên các
loại đất giàu chất dinh dưỡng. Nếu đất trồng thiếu chất dinh dưỡng phải tiến hành
bón phân bổ sung để cây ngô phát triển tốt, cho năng suất cao.[7]
Trong qúa trình quang hợp để tạo lập hydratcacbon cây ngô sử dụng CO 2 từ
không khí, ion H+ và O2 nguyên tử từ nước và các nguyên tố khoáng từ trong đất.
Qua phân tích thu được các nguyên tố rất khác nhau và được sắp xếp theo thứ tự
như sau.
Nhóm nguyên tố đa lượng: (N, P, K,Ca, Mg, S) đây là những nguyên tố quan
trọng nhất trong mọi hoạt động sống của cây.
Nhóm các nguyên tố vi lượng: ( Fe, Mo, B, Cu, Zn, Mn) chúng tham gia vào
hoạt động của cây ít nhưng rất cần cho hoạt động sống của cây.
Nhóm các nguyên tố siêu vi lượng: (Si, Ni, Al, Co, Cr, Ba…) có mặt trong thành
phần của ezim và các hoạt chất có tính sinh lý cao.
Cây ngô hấp thụ các yếu tố khoáng dưới dạng ion từ dung dịch đất hay từ bề mặt
keo đất tuân theo quá trình chung về dinh dưỡng khoáng đã được thừa nhận cho
nhiều cây trồng. Các ion đó là NH4+, NO3-, HPO4-,…[12].
Các tài liệu nghiên cứu về dinh dưỡng khoáng của cây ngô đều thống nhất kết
luận như sau: Một vụ ngô muốn đạt năng suất cao cần lấy từ đất lượng chất dinh
dưỡng lớn để tạo ra các bộ phận dinh dưỡng thân, lá, rễ và hạt. Lượng dinh dưỡng
23
S
16
18
34
CL
9,8
9,0
18,9
Tỷ lệ
52
48
100
(Nguồn viện nghiên cứu lân và kaly (Mỹ)
Nhu cầu về NPK của ngô thay đổi theo từng giai đoạn sinh trưởng của cây. N, P
tích luỹ nhiều nhất ở giai đoạn thu hoach, K tích luỹ nhiều ở giai đoạn trỗ cờ.
Bảng 1.5. Nhu cầu dinh dưỡng của cây ngô qua các giai đoạn
Nguyên tố
Thời kỳ 5-7 lá
Thời kỳ trổ cờ
Thời kỳ thu
dinh dưỡng
N
Dạng đạm quan trọng nhất trong đất là NH 4 và NO3, cây ngô phản ứng khác
nhau với các dạng đạm, ở đất chua cây hút chủ yếu là NO 3. Hút dạng đạm nitrat tạo
thuận lợi cho ngô trong dinh dưỡng đạm. Dạng đạm nitrat hỗ trợ cho việc hút
cation, khi nãy mầm lượng hút đạm không nhiều, nhịp độ hút đạm không nhiều,
24
nhịp độ hút đạm nhiều hơn lân tính đến lúc ngô nở hoa sau đó sự hút đạm kéo dài
đến khi hạt chín. Sự hút đạm phụ thuộc vào mức độ cung cấp lân và kali khi chín
khoảng 2/3 lượng đạm đã hút được vào hạt [14].
Đạm có vai trò rất lớn, có ý nghĩa quết định đến sinh trưởng và phát triển của
cây ngô. Khi có đủ đạm ngô mọc nhanh, thân lá phát triển tốt, màu sắc lá xanh tươi
mở màng. Có đủ đạm ảnh hưởng tốt đến sự phân hóa và hình thành cơ quan sinh
sản, bông cờ to, nhiều cành, nhiều hoa, túi phấn đẩy, các mầm nách có nhiều khả
năng phát triển thành bắp, bắp dài, to nhiều hạt, hạt mẫy, đầy đặn, trọng lượng hạt
cao kết quả cây cho năng suất hạt cao.[22]
Ở Việt Nam và các nước trên thế giới N đóng vai trò quyết định đến năng suất.
Thiếu đạm cây chậm lớn, bắp không hình thành được hoặc kém phát triển, lá chết
sớm. Tác hại lớn nhất là thiếu đạm vào thời kỳ cây con và ở thời kỳ từ khi bắp trổ
cờ đến phơi màu. Thời gian từ cây con đến trổ cờ, phun râu lượng đạm cây ngô hút
được chiếm 81,8% tổng lượng đạm cây hút được trong toàn bộ thời gian sinh
trưởng. Từ thời kỳ hạt ngô bắt đầu chín trở đi lượng đạm cây ngô hút được giảm
dần . Cường độ hút đạm của cây ngô lớn nhất vào thời kỳ trổ cờ, lúc này mỗi ngày
một cây ngô có thể hút đến 164 mg đạm.
Để hiểu rõ nhu cầu hút chất dinh dưỡng của cây ngô các tác giả Mỹ đã cho thấy:
25 ngày đầu khi cây ngô còn nhỏ, nhu cầu về N cần ít chiếm 7,8% nhu cầu của cả
vòng đời. 25 ngày tiếp theo nhu cầu N tăng lên 35% so với toàn bộ nhu cầu, đây là
thời kỳ cây phân hóa các bộ phận sinh sản và thân lá, hoàn chỉnh bộ rễ đốt. 25 ngày
tiếp theo cây ngô cần 20% lúc này có tác dụng tốt đối với sự tích lũy các chất nuôi
Đất đai: thí nghiệm được thực hiện trên chất đất cát pha, độ pH 4,9.
2.1.2. Điêu kiện thí nghiệm
2.1.2.1. Thời gian tiến hành thí nghiệm
- Làm vào vụ Đông - Xuân năm 2011-2012.
- Ngày gieo: 24/10/2011.
- Ngày thu hoach: 6/02/2012.
2.1.2.2. Diễn biến thời tiết trong vụ Đông Xuân năm 2011-2012