Đa dạng thành phần loài và thành phần hóa học tinh dầu của một số loài thuộc chi Quế (Cinnamomum) và chi Bời Lời (Litsea) ở khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống, Nghệ An - Pdf 31

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN THANH LAM

ĐA DẠNG THÀNH PHẦN LOÀI VÀ THÀNH PHẦN
HÓA HỌC TINH DẦU CỦA MỘT SỐ LOÀI THUỘC
CHI QUẾ (CINNAMOMUM) VÀ CHI BỜI LỜI (LITSEA)
Ở KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN PÙ HUỐNG, NGHỆ AN

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

NGHỆ AN - 2013


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN THANH LAM

ĐA DẠNG THÀNH PHẦN LOÀI VÀ THÀNH PHẦN
HÓA HỌC TINH DẦU CỦA MỘT SỐ LOÀI THUỘC
CHI QUẾ (CINNAMOMUM) VÀ CHI BỜI LỜI (LITSEA)
Ở KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN PÙ HUỐNG, NGHỆ AN
Chuyên ngành: Thực vật học
Mã số: 60.42.20

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

Người hướng dẫn khoa học:
TS. PHAN XUÂN THIỆU

MỤC LỤC..............................................................................................................................ii
DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU HOẶC CHỮ VIẾT TẮT.......................................................iii
MỞ ĐẦU................................................................................................................................1
Chương 1. TỔNG QUAN......................................................................................................4
Chương 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU........................................18
Chương 3. KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN..............................................................................22
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ..............................................................................................62
TÀI LIỆU THAM KHẢO....................................................................................................63


iii

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU HOẶC CHỮ VIẾT TẮT

M

Nhóm cây làm thuốc.

E

Nhóm cây cho tinh dầu.

F

Nhóm cây ăn được.

Oil

Nhóm cây cho dầu.


Bảng 3.10. Thành phần hoá học của tinh dầu lá cây Quế bạc........................49
Bảng 3.11. Thành phần chính trong tinh dầu một số loài thuộc chi Quế........52
Bảng 3.12. Thành phần hoá học tinh dầu quả, vỏ và lá cây Màng tang.........55
Bảng 3.13. Thành phần hoá học tinh dầu cây Bời lời Trung bộ.....................58
Bảng 3.14. Thành phần hoá học tinh dầu cây Bời lời gân nhọn.....................61
Bảng 3.15. Thành phần chính của tinh dầu một số loài thuộc chi Bời lời......63


1
MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đê
Họ Long não (Lauraceae) là một họ thực vật có hoa nằm trong bộ Long
não (Laurales). Họ này chứa khoảng 55 chi và trên 2500 loài phân bố rộng
khắp thế giới, nhưng chủ yếu ở vùng nhiệt đới, đặc biệt là khu vực Đông Nam
Á và Brazil [theo 63]. Ngoài ra, các loại cây thân gỗ trong họ Long não
(Lauraceae) lại chiếm ưu thế trong các cánh rừng Nguyệt Quế ở một số vùng
cận nhiệt đới, ôn đới thuộc Bắc và Nam bán cầu, bao gồm các đảo thuộc
Macaronesia, miền Nam Nhật Bản, Madagascar và miền Trung Chile [theo 5].
Nhiều loài cây có giá trị trong họ Long não được biết đến như Quế thanh
(Cinnamomum cassia), Quế rừng (C. iners), Bộp lá xoan ngược
(Actinodaphne obovata), Bời lời chanh (Litsea cubeba) ... trong nhóm cây
làm thuốc; Quế bời lời (C. polydelphum), Quế thanh (C. cassia), Re hương
(C. balansae), Bời lời trung bộ (L. griffith) trong nhóm cây cho gỗ. Và đặc
biệt là nhóm cây cho tinh dầu khá phong phú với một số đại diện như: Re
cuống dài (C. longepetiolatum), Quế thanh (C. cassia), Long não (C.
camphora), Bời lời chanh (L. cubeba), Bời lời nhớt (L. glutinosa), Bời lời
đắng (L. umbellata), Re hương (C. balansae), Re trắng mũi mác (Phoebe
lanceolata)… [23].
Ở Việt Nam đã có nhiều tác giả đã giới thiệu về họ Long não trong
những nghiên cứu của mình như Lê Khả Kế (1969 - 1976) [17]; Võ Văn Chi,

cáo của Khu BTTN Pù Huống, 2010 [1]). Cụ thể: ngành Thông đất có 1 họ, 2
chi, 4 loài; ngành Cỏ tháp bút có 2 họ, 2 chi, 7 loài; ngành Dương xỉ có 17 họ,
33 chi, 65 loài; ngành Hạt trần có 7 họ, 9 chi, 14 loài; ngành Hạt kín có 138
họ, 533 chi, 1.032 loài (trong đó lớp Hai lá mầm có 112 họ, 444 chi, 874 loài
và lớp Một lá mầm có 26 họ, 89 chi, 158 loài). Về giá trị sử dụng, có 12 loài
thực vật cho tinh bột; 15 loài cho dầu béo, 40 loài cho quả và hạt ăn được, 41
loài làm rau và gia vị, 6 loài cho chất nhuộm, 21 loài cho tanin, 4 loài song
mây, 39 loài làm cảnh và 220 loài thuộc nhóm cây cho gỗ. Tuy nhiên, việc
đánh giá tiềm năng của hệ thực vật ở đây còn những hạn chế, đặc biệt là
nghiên cứu sâu về các loài chứa những hợp chất thiên nhiên có hoạt tính sinh


3
học có thể ứng dụng trong các lĩnh vực y dược, thực phẩm và hoá mỹ phẩm...
Để góp phần vào việc nghiên cứu các loài thực vật thuộc họ Long não
nói chung, các chi Quế và Bời lời nói riêng, đồng thời bổ sung thêm dẫn liệu
cho khu hệ thực vật Pù Huống, chúng tôi thực hiện đề tài: “Đa dạng thành
phần loài và thành phần hóa học tinh dầu của một số loài thuộc chi Quế
(Cinnamomum) và chi Bời lời (Litsea) ở Khu bảo tồn thiên nhiên Pù
Huống, Nghệ An”.
2. Mục tiêu của đê tài
- Đánh giá đa dạng thành phần loài của chi Quế (Cinnamomum) và chi
Bời lời (Litsea) trong họ Long não ở Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống,
Nghệ An.
- Cung cấp dẫn liệu về thành phần hoá học tinh dầu của một số loài
thuộc hai chi nói trên.


4
Chương 1. TỔNG QUAN

5
Aubréville cùng với nhiều người khác đã biên soạn bộ "Thực vật chí
Campuchia, Lào và Việt Nam" (1960 - 1997) gồm 29 tập, tập trung mô tả 74
họ cây có mạch [theo 39].
Từ những tài liệu nói trên, Thái Văn Trừng (1978) đã thống kê hệ thực
vật Việt Nam có 7.004 loài, 1.850 chi và 289 họ [33]. Cụ thể hơn, ngành Hạt
kín có 3.366 loài (90,9%), 1.727 chi (93,4%) và 239 họ (82,7%); ngành Hạt
trần có 39 loài (0,5%), 18 chi (0,9%) và 8 họ (2,8%); ngành Dương Xỉ và họ
hàng Dương Xỉ có 599 loài (8,6%), 205 chi (5,57%) và 42 họ (14,5%) [33].
Năm 1965, Pócs Tamás đã thống kê: ở Miền Bắc có 5.190 loài thực vật
[theo 39]. Đến năm 1969, Phan Kế Lộc đã bổ sung, nâng số loài lên 5.609 loài
thuộc 1.660 chi và 140 họ (xếp theo hệ thống Engler), trong đó có 5.069 loài
thực vật Hạt kín [theo 39]. Cùng khoảng thời gian này, nhà xuất bản Khoa
học Kỹ thuật đã xuất bản bộ sách "Cây cỏ thường thấy ở Việt Nam" gồm 06
tập do Lê Khả Kế chủ biên [17] và Phạm Hoàng Hộ công bố 02 tập “Cây cỏ
Miền Nam Việt Nam” giới thiệu 5.326 loài, trong đó có 60 loài thực vật bậc
thấp và 20 loài Rêu, còn lại 5.246 loài thực vật có mạch [115].
Để phục vụ công tác khai thác và bảo tồn tài nguyên thực vật, Viện Điều
tra Quy hoạch Rừng đã xuất bản bộ “Cây gỗ rừng Việt Nam” (1971 - 1988)
gồm 7 tập, giới thiệu chi tiết các loài cùng với hình vẽ minh hoạ [34]. Trần
Đình Lý và nnk (1993) công bố “1.900 loài cây có ích ở Việt Nam” [22].
Năm 1996, các nhà thực vật Việt Nam đã cho xuất bản cuốn "Sách đỏ Việt
Nam", phần Thực vật đã mô tả 356 loài quý hiếm ở Việt Nam có nguy cơ
tuyệt chủng và được bổ sung tái bản năm 2007 [6]; Võ Văn Chi (1997) công
bố” Từ điển cây thuốc Việt Nam” [10]. Đáng chú ý nhất phải kể đến bộ “Cây
cỏ Việt Nam” của Phạm Hoàng Hộ (1991 - 1993) xuất bản tại Canada và đã
được tái bản có bổ sung tại Việt Nam [15], [20]. Đây là bộ sách đầy đủ và dễ
sử dụng, góp phần đáng kể cho việc tra cứu về hệ thực vật Việt Nam. Bên
cạnh đó, một số họ có giá trị đã được nghiên cứu chi tiết như họ Thầu dầu
(Euphorbiaceae, Nguyễn Nghĩa Thìn-2006) [48], họ Na (Annonaceae,

[11]; Nguyễn Tiến Bân và cộng sự (1984) [4], Phạm Hoàng Hộ (1991, 1999)


7
đã vẽ hình và mô tả các loài thuộc họ Long não với 243 loài thuộc 18 chi
[20].
Nguyễn Nghĩa Thìn, Nguyễn Thanh Nhàn (2004), nghiên cứu hệ thực vật
Pù Mát đã công bố 18 loài thuộc chi Cinnamomum và 21 loài thuộc chi Litsea
[29]. Đỗ Ngọc Đài (2010) đã công bố ở Vườn quốc gia Xuân Liên với 10 loài
trong chi Cinnamomum và 10 loài trong chi Litsea [13]. Viện Điều tra quy
hoạch rừng điều tra đa dạng hệ thực vật Bến En (2000), đã xác định được 7 loài
thuộc chi Cinnamomum và 8 loài thuộc chi Litsea [35]. Nguyễn Nghĩa Thìn,
Mai Văn Phô (2003), nghiên cứu đa dạng hệ thực vật Bạch Mã đã thống kê
được 14 loài thuộc chi Cinnamomum và 15 loài thuộc chi Litsea [30]. Phùng
Ngọc Lan và cộng sự (1996), nghiên cứu hệ thực vật Cúc Phương đã công bố 9
loài thuộc chi Cinnamomum và 12 loài thuộc chi Litsea [19]. Khi nghiên cứu
hệ thực vật Sông Đà (1997), Lê Trần Chấn và cộng sự đã thống kê được 15 loài
Cinnamomum và 12 loài thuộc chi Litsea [20]. Nguyễn Nghĩa Thìn đã thống kê
được 3 loài thuộc chi Cinnamomum, 6 loài thuộc chi Litsea khi nghiên cứu hệ
thực vật ở Sa Pa - Phan xi Pan (1998) [32]; 2 loài thuộc chi Cinnamomum, 5
loài thuộc chi Litsea trong khu hệ thực vật Na Hang (2006) [32].
Nghiên cứu đầy đủ nhất về họ Long não là công trình của Nguyễn Kim
Đào (2003). Tác giả đã nghiên cứu về đa dạng và phân bố của các loài trong
họ Lauraceae ở các khu vực khác nhau trên cả nước. Kết quả được tổng hợp
và giới thiệu trong "Danh lục các loài thực vật Việt Nam" với 265 loài thuộc
21 chi, trong đó chi Cinnamomum có 45 loài và chi Litsea có 55 loài [14].
Theo các tài liệu tập “Cây cỏ Việt nam” của Phạm Hoàng Hộ, 1999-2000
và "Tài nguyên cây gỗ Việt Nam" của Trần Hợp, 2002, họ Long não có
những đặc điểm như sau:
- Dạng sống: Các chi thuộc họ này thường gặp là những cây gỗ lớn (C.

Nhiều loài trong họ Long não được khai thác và sử dụng vào các mục
đích khác nhau như:


9
- Nhóm cây làm thuốc: Quế thanh (Cinnamomum cassia), Quế rừng (C.
iners), Bộp lá xoan ngược (Actinodaphne obovata), Bời lời chanh (Litsea
cubeba),…
- Nhóm cây cho gỗ: Quế bời lời (C. polydelphum), Bời lời trung bộ (L.
griffithi var. annamensis), Quế thanh (C. cassia), Re hương (C. balansae)...
- Nhóm cây cho tinh dầu khá phong phú với một số đại diện như: Re
cuống dài (C. longepetiolatum), Quế thanh (C. cassia), Long não (C.
camphora), Bời lời nhớt (L. glutinosa), Bời lời đắng (L. umbellata), Re trắng
mũi mác (Phoebe lanceolata), Re hương (C. balansae)…
1.3. Nghiên cứu vê tinh dầu của chi Cinnamomum và chi Litsea trên thế giới và ở
Việt nam
Tinh dầu là hỗn hợp các hợp chất hữu cơ có cấu tạo phức tạp và khác
nhau về tính chất lý học và hóa học, nhưng có một số đặc tính chung như có
mùi thơm, có khả năng bay hơi, dễ tan trong dung môi hữu cơ [8].
Tinh dầu có thể có ở các bộ phận khác nhau như lá, hoa, quả, vỏ và
thân, rễ. Trong đời sống thực vật, tinh dầu có vai trò bảo vệ cây khỏi các tác
dụng của sâu bệnh, che phủ các vết thương ở cây gỗ, ngăn chặn các bệnh do
nấm và biến đổi sức căng bề mặt của nước trong cây thúc đẩy sự vận chuyển
nước và tăng cường hiệu quả của các phản ứng enzim (theo [8]). Trong đời
sống con người, ngay từ xa xưa, tinh dầu đã được khai thác và sử dụng vào
các mục đích khác nhau. Đến nay, cùng với sự phát triển của khoa học, tinh
dầu ngày càng được ứng dụng rộng rãi trong công nghệ thực phẩm, trong hóa
mỹ phẩm, trong công nghiệp và y dược học.
1.3.1. Chi Quế (Cinnamomum)
Trên thế giới, trong 250 loài của chi Quế (Cinnamomum) thì có trên 100 loài

Với loài C. glanduliforum thì trong tinh dầu lại chứa hợp chất chính là
α-pinen (50-60%), sau đó là dipenten, camphor, borneol và cineol. Tinh dầu
cất từ vỏ và từ lá đều có thành phần tương tự nhau, nhưng hàm lượng tinh dầu
trong vỏ cao hơn nhiều so với ở lá (1,0 - 4,0% trong vỏ; 0,3 - 0,8% trong lá và
chồi non). Tinh dầu từ vỏ có màu nâu nhạt, sánh, vị cay, thơm, ngọt, nóng,


11
nặng hơn nước với thành phần chính là (E)-cinnamaldehyd (70-95%), ngoài
ra còn nhiều hợp chất khác [42].
Ở các loài Vù hương (C. porrectum), Re hoa nhỏ (C. micranthum) thì
thành phần chủ yếu trong tinh dầu là safrol (70-90%) [41]. Trong khi đó, tinh
dầu từ quả của loài Re mốc (C. glaucescens) lại có thành phần chính là δ-pinen,
(Z)-methyl cinnamat, 1,8-cineol, safrol, limonene, linalool, elemicin,… [52].
Tinh dầu của các loài C. inunctum và C. wilsonii phân bố tại Trung Quốc lại
chứa chủ yếu là cineol, ngoài ra còn nhiều hợp chất khác (trong đó đáng chú ý
là linalool, camphor, cinnamic aldehyd…) [51].
Ở Việt Nam, chi Cinnamomum hiện có 45 loài (theo [14]). Hầu hết các
loài trong chi Cinnamomum đều chứa tinh dầu, tuy nhiên hàm lượng và thành
phần hóa học của tinh dầu ở mỗi loài thường khác nhau. Thành phần chủ yếu
của tinh dầu ở một số loài là cinnamaldehyd, ở những loài khác lại là các hợp
chất như eugenol, camphor hay safrol.
Nguyễn Xuân Dũng và cộng sự đã có nhiều nghiên cứu tinh dầu của một
số loài thực vật ở Việt Nam thuộc chi Quế như: C. albiflorum, C.
parthenoxylon, C. loureirii, C. camphora…[26], [39], [41],[43]. Đặc biệt với
cây Long não (C. camphora), tác giả đã đánh giá về hàm lượng cũng như sự
tích lũy tinh dầu ở các bộ phận khác nhau từ cây non đến cây trưởng thành
cũng như nhân giống và triển khai sản xuất trên quy mô công nghiệp [12],
[43]. Trong những nghiên cứu khác, ở loài Xá xị (C. parthenoxylon), thành
phần chính của tinh dầu trong gỗ là safrol (90,3%), trong rễ là benzyl benzoat

aldehyd (80%) [51], [52].
Cùng một loài nhưng ở những khu phân bố khác nhau thành phần tỷ lệ
các chất không giống nhau. Ví dụ, loài Quế đơn (C. cassia) ở Australia, tinh
dầu vỏ gồm khoảng 40 hợp chất, trong đó chủ yếu là cinnamic aldehyd
(87,0%), tiếp đến là benzaldehyd (4,7%), 2-phenylethanol (2,5%), 3phenylpropanal (2,0%), 1,8-cineol (0,7%), 4-ethylguaiacol (0,5%), ethyl
cinnamat (0,4%), cuminaldehyd (0,4%), chavicol (0,3%) và counarin (0,3%);
các thành phần còn lại chỉ có hàm lượng không đáng kể hoặc vết (theo [23]).
Nhưng thành phần hóa học của tinh dầu lá Quế đơn trồng tại Trung Quốc chỉ
gồm 15 hợp chất, trong đó nhiều nhất là cinnamic aldehyd (74,1%), 2methoxycinnamaldehyd (10,5%), cinnamyl acetat (6,6%), coumarin (1,2%),
benzaldehyd (1,1%), các hợp chất còn lại có hàm lượng không đáng kể [52].
Còn ở Việt Nam, tinh dầu Quế đơn có hàm lượng (E)-cinnamaldehyd từ 80 95%, ngoài ra còn có các hợp chất khác như cinnamyl acetat, cinnamyl
alcohol, coumarin, benzyl benzoat,... [51], [52].
1.3.2. Chi Bời lời (Litsea)
Chi Litsea là một chi lớn của họ Long não. Trên thế giới, chi Litsea có
khoảng 400 loài, còn ở Việt Nam, theo Phạm Hoàng Hộ (1991) chi này có 45
loài và Nguyễn Kim Đào (1994) có 55 loài. Tuy nhiên, chỉ một số loài trong


13
chi này là có tinh dầu. Các nghiên cứu chính cũng tập trung vào cây Màng
tang (L. cubeba).
Trong những nghiên cứu về tinh dầu của chi Litsea ở Trung Quốc, Wang
và cộng sự (1999) đã phát hiện thành phần chính của tinh dầu hoa Màng tang
là sabinen (62,36%), quả là limonen (22,66%), (E)-citral (25,50%) và α-citral
(37,86%). 24 hợp chất của tinh dầu lá L. cubeba được xác định bằng phương
pháp GC/MS. Trong số đó (Z)-α-ocimen (25,11%), 3,7-dimethyl-1,6-octadien3-ol (16,85%) và n-transnerolidol (13,89%) là thành phần chính của tinh dầu.
Tinh dầu có hoạt tính kháng khuẩn mạnh [49]. Zhu và cộng sự (1993) đã xác
định thành phần hoá học của tinh dầu chính của lá L. pungen là 1,3,3-trimetyl2-oxabicyclo [2.2.2] octan (59,96%), 1,8-cineol (8,96%) [50]. Đối với loài L.
euosma ở Vân Nam, Trung Quốc, tinh dầu quả tươi có hàm lượng 2.5%-3.0%,
trong đó aldehyd và xeton chiếm 90%. Cấu tử chính được xác định trong tinh

Phía Bắc giáp huyện Quế Phong, Quỳ Châu, phía Đông giáp huyện Quỳ Hợp,
phía Tây giáp huyện Tương Dương, phía Nam giáp huyện Con Cuông.
Pù Huống là đầu nguồn của sông Cả và sông Hiếu. Địa hình Pù Huống
bị chia cắt mạnh và sâu với độ dốc phổ biến từ 15 0 đến 350 tạo nên nhiều sông
suối dốc, hiểm trở như Nậm Quàng, Nậm Gươm, Huổi Khì, Huổi Nây (Phía
bắc); Nậm Chao, Huổi Kít, Nậm Ngàn... (Phía Nam).
1.4.2. Địa chất thổ nhưỡng.
Điều kiện lập địa Khu BTTN Pù Huống rất đa dạng, các yếu tố địa hình,
địa mạo. Độ dốc, độ dày tầng đất ... ảnh hưởng lớn đến chất lượng lập địa.
Đất đai Khu BTTN Pù Huống chủ yếu là đất Feralít phát triển trên nền
đá mẹ khác nhau, hình thành nên các kiểu đất khác nhau: Phát triển trên nền
đá Mácma axít; Phát triển trên nền đá trầm tích và biến chất có kết cấu hạt
mịn, hạt thô; Phát triển trên đá Vôi; Phát triển trên đá Phún xuất feralít mùn;
Và kiểu đất hình thành từ phù sa mới nơi địa hình bằng, bãi bồi.
1.4.3. Khí hậu, thủy văn.
Khí hậu Khu BTTN Pù Huống thuộc khí hậu nhiệt đới gió mùa, nằm
trong vùng khí hậu thủy văn Bắc Trường Sơn. Ở đây khí hậu phân hóa theo
độ cao, đồng thời có sự khác biệt rõ giữa sườn Bắc so với sườn nam Pù


15
Huống, số ngày mưa, lượng mưa, độ ẩm ở sườn Bắc cao hơn sườn Nam,
ngược lại lượng nước bốc hơi, nhiệt độ mặt đất, nhiệt độ không khí sườn Nam
lại cao hơn sườn Bắc. Chi tiết có biểu dưới đây:
Stt

Nhân tố khí hậu

Quỳ


1,7

4
5
6
7

(0c)
Nhiệt độ mặt đất trung bình(0c)
Luợng mưa trung bình năm (li)
Số ngày mưa trung bình năm (ngày)
Số ngày mưa phùn trung bình năm

26,4
1734
150
19,6

26,7
1641
142
17,9

26,4
1791,0
139
22,0

27,0
1286,0

64
59
192

0

Cuông Dương
23,5
23,6
42,0
42,7

(li)
Nguồn:[1]

Sự đa dạng khí hậu trên đây đã tạo nên sự đa dạng phong phú các loài
thực vật tại Khu BTTN Pù Huống.
1.4.4. Tài nguyên rừng và đa dạng sinh học
Theo kết quả điều tra, phúc tra kiểm kê rừng hiện có cho thấy Pù
Huống là một trong những khu rừng có tài nguyên rừng giàu về trữ lượng,
phong phú về thành phần loài. Hiện nay, rừng của khu BTTN Pù Huống được
chia làm các kiểu: Kiểu rừng lá rộng thường xanh có 24.299,7 ha, gồm rừng
giàu là 7.519,4 ha (chiếm 23,7% đất có rừng), rừng trung bình là 8.365,8 ha
(chiếm 26,4% đất có rừng), rừng nghèo và rừng phục hồi là 8.414,5 ha (chiếm
26,6% đất có rừng). Kiểu rừng hỗn giao (cây gỗ + tre nứa) có 4.770,5 ha
(chiếm 15% đất có rừng). Và kiểu rừng tre nứa tự nhiên có 2.598,7 ha (chiếm
8,3% đất có rừng).


16


17
Khu BTTN Pù Huống có 30 loài thực vật, 45 loài động vật được xếp
vào Sách đỏ Việt Nam. Theo tiêu chí xếp loại của tổ chức Bảo vệ thiên nhiên
quốc tế (IUCN), Pù Huống có 42 loài động, thực vật có nguy cơ đe dọa mang
tính toàn cầu.
1.4.5.Tình hình kinh tế xã hội
Theo số liệu điều tra mới nhất (năm 2010), hiện nay Pù Huống có tổng
diện tích tự nhiên (vùng lõi và vùng đệm) là 143.999,29 ha, trong đó đất lâm
nghiệp là 118.575,37 ha, đất nông nghiệp và đất khác là 25.423,92 ha. Số thôn
bản trong vùng lõi Khu BTTN là 2 thôn bản và một số hộ du cư (làm trại).
Tổng số hộ trong Khu BTTN là 322 hộ, trong đó có 236 hộ định cư và 86 hộ
du cư. Số khẩu định cư trong Khu BTTN là 1.357 người ( 100% là dân tộc
thái).
Với tình hình dân số đông, số hộ nghèo nhiều, đất nông nghiệp ít, giao
thông đi lại ngày càng mở mang nên áp lực vào vùng lõi (nơi còn giàu tài
nguyên rừng; gỗ, động vật rừng, lâm sản phi gỗ) ngày càng gia tăng.


18
Chương 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu là các loài thuộc chi Quế (Cinamomum) và chi Bời
lời (Litsea) thuộc họ Long não (Lauraceae) ở Khu bảo tồn thiên nhiên Pù
Huống, tỉnh Nghệ An.
2.2. Phương pháp nghiên cứu.
2.2.1. Phương pháp điêu tra.
Chúng tôi sử dụng phương pháp điều tra theo tuyến chạy qua tất cả các
sinh cảnh nhằm thu hầu hết các loài trong họ Long não có ở khu vực nghiên cứu.


yếu dựa vào khóa định loại và bản mô tả trong “Cây cỏ Việt nam” của Phạm
Hoàng Hộ, 1999-2000 [19] và "Tài nguyên cây gỗ Việt Nam" của Trần Hợp,
2002 [34].



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status