Nghiên cứu đa dạng loài và thành phần hóa học tinh dầu của một số loài trong các chi hồng bì (clausena), ba chạc (euodia), cơm rượu (glycosmis), muồng truổng (zanthoxylum) thuộc họ cam (rutaceae) ở nghệ an tt - Pdf 49

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
----------

HOÀNG DANH TRUNG

NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG LOÀI VÀ THÀNH PHẦN
HÓA HỌC TINH DẦU CỦA MỘT SỐ LOÀI TRONG CÁC
CHI HỒNG BÌ (CLAUSENA), BA CHẠC (EUODIA), CƠM RƯỢU
(GLYCOSMIS), MUỒNG TRUỔNG (ZANTHOXYLUM) THUỘC HỌ
CAM (RUTACEAE) Ở NGHỆ AN

LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC

Nghệ An, 2018


Người hướng dẫn khoa học:

1. PGS. TS. Phạm Hồng Ban
2. PGS. TS. Trần Minh Hợi

Người phản biện 1:
Người phản biện 2:
Người phản biện 3:

Luận án được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án tiến sĩ cấp Trường, tại................., Vào
hồi

giờ , ngày


phong phú và đa dạng. Hiện nay, công tác điều tra, đánh giá tính đa dạng hệ thực vật
đã và đang được tiến hành ở nhiều khu vực khác nhau như: Pù Mát, Pù Huống, Pù
Hoạt,... Trong

đó, 4 chi: Hồng bì (Clausena), Ba chạc (Euodia), Cơm rượu

(Glycosmis), Muồng truổng (Zanthoxylum) thuộc họ Cam (Rutaceae) là những chi
khá đa dạng về thành phần loài, nhiều loài thuộc các chi này được sử dụng nhiều
trong dân gian. Tuy nhiên, nghiên cứu chuyên sâu về các loài thuộc 4 chi nói trên
đang còn ít và chưa xứng với tiềm năng sẵn có ở đây. Việc nghiên cứu chuyên sâu về
nhóm tài nguyên này có ý nghĩa khoa học và thực tiễn rất quan trọng, góp phần cung


2
cấp đầy đủ dữ liệu khoa học của họ Cam ở Nghệ An nói riêng và ở Việt Nam nó
chung, là cơ sở cho việc hoạch định phát triển kinh tế xã hội ở địa phương. Vì lý do
trên, tác giả chọn đề tài nghiên cứu: “Nghiên cứu đa dạng loài và thành phần hóa
học tinh dầu của một số loài trong các chi: Hồng bì (Clausena), Ba chạc
(Euodia), Cơm rượu (Glycosmis), Muồng truổng (Zanthoxylum) thuộc họ Cam
(Rutaceae) ở Nghệ An”.
2. Mục tiêu
Đánh giá tính đa dạng về thành phần loài, thành phần hóa học tinh dầu của
một số loài thuộc các chi Hồng bì (Clausena), Ba chạc (Euodia), Cơm rượu
(Glycosmis), Muồng truổng (Zanthoxylum) để góp phần điều tra, tìm kiếm các
dữ liệu nguồn tài nguyên về thành phần loài, tinh dầu của các chi được nghiên
cứu.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
- Ý nghĩa khoa học:
Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu tương đối đầy đủ về đặc điểm sinh
học, hóa học tinh dầu các chi Hồng bì (Clausena), Ba chạc (Euodia), Cơm

liệu tham khảo; Phụ lục 1, 2.

CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Tình hình nghiên cứu họ Cam (Rutaceae)
1.1.1. Trên thế giới
Họ Cam được nghiên cứu từ thời Linnaeus (1753) với 7 chi và 19 loài .
Năm 1789, A. Jussieu đã đặt tên cho họ Cam là Rutaceae lấy tên Ruta L.. Công
trình nghiên cứu tương đối toàn diện và có hệ thống về họ Cam cuối thế kỷ 19
phải kể đến A. Engler (1896). Một số công trình thực vật chí liên quan đến họ Cam
đáng chú ý: J. D. Hooker (1875) đã chia họ Cam (Rutaceae) ở Ấn Độ và các
vùng lân cận thành 4 tông: Ruteae, Zanthoxyleae, Toddalieae, Auratieae. C.
Chang và cộng sự (1993) đã biên soạn họ Cam trong Thực vật chí Đài Loan, tác
giả không phân chia thành phân họ hay tông mà chỉ lập khóa định loại, mô tả 13
chi và 31 loài. Ngoài ra, còn có nhiều công trình nghiên cứu về họ Cam ở Thái
Lan, Lào, Myanma,...


4
1.1.2. Ở Việt Nam
Người đầu tiên nghiên cứu họ Cam ở Việt Nam là Loureiro (1790). Tác giả
đã mô tả 6 chi và 12 loài có ở Việt Nam . Năm 1912, A. Guillaumin đã mô tả 18
chi và 63 loài ở Đông Dương trong đó có 53 loài phân bố ở Việt Nam. Sau này,
nghiên cứu về họ Cam ở Việt Nam phải kể đến công trình nghiên cứu của Pha ̣m
Hoàng Hô ̣, trong bộ “Cây cỏ Viê ̣t Nam”; Trầ n Kim Liên (2003) trong công trình
“Danh lục các loài thực vật Viê ̣t Nam”. Những công trình đề cập đến giá trị sử
dụng của họ Cam như: Trần Đình Lý (1993) trong công trình “1900 loài cây có
ích ở Việt Nam” đã thống kê 35 loài có ích thuộc họ Cam ; Đỗ Tất Lợi (1999)
trong công trình “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”. Gần đây nhất, năm
2012, Bùi Thu Hà với công trình “Nghiên cứu phân loại họ Cam (Rutaceae

tách ra khỏi nước bằng các phương pháp vật lý”. Định nghĩa này có hạn chế là
loại trừ các sản phẩm thu được bằng cách chiết xuất với dung môi cũng như các
sản phẩm thu được nhờ các phương pháp khác.
Căn cứ vào cấu tạo phân tử hóa học của tinh dầu được sắp xếp vào 4
nhóm chủ yếu sau:
- Các hợp chất aliphatic.
- Các terpen và những dẫn xuất của chúng.
- Các dẫn xuất benzen.
- Các thành phần khác.
1.2.3. Phân bố cây tinh dầu trong hệ thực vật Việt Nam
Khi nghiên cứu thành phần các loài cây tinh dầu ở các khu vực khác nhau
trên thế giới, các nhà nghiên cứu nhận định rằng khu vực có khí hậu nhiệt đới là
nơi tập trung cây tinh dầu với số lượng lớn. Bên cạnh đó, một số loài cây tinh
dầu trong đai khí hậu này lại có sự đa dạng về thành phần hóa học.
1.3. Giá trị sử dụng của tinh dầu các loài trong họ Cam (Rutaceae)
Các công trình nghiên cứu cho thấy, tinh dầu từ các loài trong họ Cam có
nhiều tác dụng khác nhau, như: kháng khuẩn, kháng nấm, phòng và trị bệnh,
hương liệu...
1.4. Nghiên cứu về thành phần hóa học tinh dầu họ Cam (Rutaceae)
1.4.1. Trên thế giới
Hầu hết các loài trong họ Cam (Rutaceae) đều có chứa tinh dầu hoặc
hương thơm, song hàm lượng và thành phần hóa học của tinh dầu ở mỗi loài


6
thường khác nhau. Một số loài thì thành phần chủ yếu của tinh dầu là linalool,
safrol,...
Phần này nêu các công trình nghiên cứu về tinh dầu của các loài được
nghiên cứu trên thế giới.
1.4.2. Ở Việt Nam

Thu mẫu theo tài liệu của Nguyễn Nghĩa Thìn (2007).
Mẫu thực vật được thu theo tuyến, chạy qua tất cả các sinh cảnh đặc trưng
của thảm thực vật ở các vùng nghiên cứu được xác định trên bản đồ.
Mỗi cây ít nhất thu 2-3 mẫu tiêu bản, kích cỡ phải đạt 29 x 41cm có thể
tỉa bớt cành, lá, hoa và quả nếu cần thiết.
Khi thu và ghi nhãn xong gắn nhãn vào mẫu, cho vào bao ni lông bỏ vào
bao tải buộc lại mới đem về xử lý.
2.3.1.2. Xử lý và trình bày mẫu
Các mẫu thu thập từ thực địa được làm tiêu bản theo phương pháp của
Nguyễn Nghĩa Thìn (2007) và Klein R.M., Klein D.T (1979).
Sau khi mẫu được xử lý sơ bộ ở ngoài thực địa, tiếp tục xử lý khô tại phòng
Bảo tàng thực vật của trường Đại học Vinh. Các mẫu sau khi sấy khô được ngâm
tẩm bằng dung dịch cồn chứa 3-5% HgCl2 để diệt khuẩn và chống côn trùng phá
hoại. Các mẫu tiêu bản đã được sấy khô và ép phẳng, sau đó trình bày và khâu
đính trên bìa giấy cứng kích thước 30 cm x 42 cm, có etyket.
2.3.1.3. Phương pháp định loại
Mẫu đã được thu ở các khu vực khác nhau của Nghệ An (chủ yếu là các
VQG: Pù Mát; Khu BTTN: Pù Huống, Pù Hoạt; Khu vực núi đá vôi Quỳnh Lưu;
Khu vực Puxailaileng,…) được so sánh với các mẫu vật ở Phòng tiêu bản thực
vật, Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật (HN), Đại học quốc gia Hà Nội
(UHN),... Tổng số mẫu thu được là 500 mẫu, số mẫu đã phân tích 450 mẫu. Mẫu
hiện được lưu trữ ở phòng mẫu Thực vật, Viện Sư phạm Tự nhiên, trường Đại
học Vinh.
Để xác định tên khoa học của các loài, sử dụng phương pháp so sánh hình
thái. Các tài liệu chính được sử dụng trong quá trình định loại là: Phạm Hoàng
Hộ (2000), Cây cỏ Việt Nam, Quyển II, Thực vật chí Trung Quốc (1979),


8
Nghiên cứu phân loại họ Cam ở Việt Nam của Bùi Thu Hà (2012) và các tài liệu

9
Các công thức tinh toán hàm lượng tinh dầu theo lá tươi và theo lá khô
được áp dụng như sau:
- Hàm lượng tinh dầu tính theo khối lương lá tươi (Hlt%) bằng công thức
Hlt% =

Mx 0,9 x100
Wt

Trong đó: M là lượng tinh dầu tính theo mililit (ml)
Wt là khối lượng mẫu lá tươi đưa vào chưng cất tính theo gram (g)
0,9 là hằng số áp dụng cho tinh dầu có tỷ trọng nhẹ hơn nước (0,9).
2.3.3.3. Phương pháp phân tích thành phần hoá học tinh dầu
Hoà tan 1,5 mg tinh dầu đã được làm khô bằng Na2SO4 khan trong 1ml
hexan tinh khiết loại dùng cho phân tích sắc ký phổ.
Sắc ký khí (GC): Được thực hiện trên máy Agilent Technologies HP 6890N
Plus với detectơ FID của hãng Agilent Technologies, Mỹ
Sắc ký khí-khối phổ (GC/MS): Việc phân tích định tính được thực hiện
trên hệ thống thiết bị sắc ký khí khối phổ liên hợp GC/MS của hãng Agilent
Technologies HP 6890N. Agilent Technologies HP 6890N/ HP 5973 MSD được
lắp với cột tách mao quản và vận hành sắc ký như ở trên với He làm khí mang.
Việc xác định định tính các thành phần của tinh dầu được thực hiện trên cơ
sở so sánh các chỉ số RI (Retention Indices) của chúng với giá trị RI của các thành
phần tinh dầu đã biết được tập hợp trong các ngân hàng dữ liệu như (NIST 08 và
Wiley 9th Version) cũng như trong các sách chuyên khảo (Adam, 1995; Joulain &
Koenig, 1998).
2.3.3.4. Phương pháp thử hoạt tính sinh học
- Thử khả năng ức chế vi sinh vật Kiểm định: Thử hoạt tính sinh học của
tinh dầu trên một số chủng vi khuẩn Gram (+): Bacillus subtilis (ATCC 6633),
Staphylococcus aureus (ATCC 13709) và Lactobacillus fermentum (VTTC Lp


Tên khoa học

Tên Việt Nam

Clausena anisata (Willd.) Hook. Hồng bì rừng
1 f. ex Benth.
Hồng bì dại
2 Clausena dimidiana Tanaka
Hồng bì engler
3 Clausena engleri Tanaka
4 Clausena excavata Burm.f.
Clausena harmandiana (Pierre)
5 Pierre ex Guillaum.

Hồng bì dại
Giối harmand

Dạng
thân
GON
GON

Giá trị sử
dụng
THU, CTD,
ĂNĐ
THU, CTD

GON

THU, CTD

GON

8 Clausena lenis Drake

Giổi nhẵn

GON

THU, CTD,
ĂNĐ
THU, CTD

9 Euodia callophylla Guillaum.

Dấu dầu lá hẹp

GON

CTD

10 Euodia lepta (Spreng) Merr.

Ba chạc

GON

THU, CTD


BU
BU

THU, CTD
CTD

BU

CTD

Cơm rượu mảnh GON
Cơm rượu lá
GON
thuôn
Cơm nguội đá
BU

CTD
CTD
CTD

Cơm rượu lùn

BU

CTD

Cơm rượu tròn
Cơm rượu lá
hoa nhỏ

26
DC.

GON

THU, CTD

Hoàng mộc sai

GLT

CTD

Hoàng mộc
nhiều gai

GOL

THU, CTD,
CGV

GLT

THU, CTD,
CGV

19 Glycosmis nana Tanaka
20 Glycosmis ovoidea Pierre
Glycosmis parviflora (Sims.)
21 Little


Tên Việt Nam

Dạng
thân

Giá trị sử
dụng

Hoàng mộc phi

GLT

CGV,CTD

THU, CTD,
CGV
Chú thích: Giá trị sử dụng: THU: làm thuốc, CTD: Cho tinh dầu, CAĐ: Ăn
31 Zanthoxylum rhetsa (Roxb.) DC. Sẻn hôi

GOL

được, CGV: Cây gia vị; Dạng thân: GOL-gỗ lớn; GON-gỗ nhỏ; BUI-cây bụi;
GLT-Dây leo gỗ hay bụi trườn.
Để thấy được tính đa dạng của các loài trong 4 chi nghiên cứu ở Nghệ An,
kết quả được so sánh với tổng số loài hiện biết ở Việt Nam (Bùi Thu Hà, 2012)
(bảng 3.2).
Bảng 3.2. So sánh số loài được nghiên cứu ở Nghệ An với số loài ở Việt
Nam
TT


52,63

4 Muồng truổng (Zanthoxylum)

8

10

80,0

31

45

68,89

Tổng
(2)

theo Bùi Thu Hà (2012).
120
100
80
60
40
20
0

Nghệ An


Số loài

Tỷ lệ %

1

Thân bụi (BUI)

9

29,03

2

Thân gỗ lớn (GOL)

2

5,45

3

Leo trườn (GLT)

3

9,68

4

Hình 3.2. Tỷ lệ các nhóm dạng thân của 4 chi được nghiên cứu trong họ Cam
(Rutaceae) ở Nghệ An
3.1.3. Bổ sung vùng phân bố cho các loài trong các chi Hồng bì
(Clausena), Ba chạc (Euodia), Cơm rượu (Glycosmis) và Muồng truổng
(Zanthoxylum)
So với các kết quả nghiên cứu của các loài trong 4 chi Hồng bì
(Clausena), Ba chạc (Euodia), Cơm rượu (Glycosmis) và Muồng truổng
(Zanthoxylum) thuộc họ Cam (Rutaceae) ở Việt Nam của Bùi Thu Hà (2012)
và các công trình liên quan khác, kết quả nghiên cứu đã bổ sung thêm vùng
phân bố của 8 loài thuộc 4 chi được nghiên cứu vào danh lục thực vật Nghệ
An. Trong đó, 2 loài thuộc chi Hồng bì (Clausena), 1 loài thuộc chi Ba chạc
(Euodia), 2 loài thuộc chi Cơm rượu (Glycosmis) và 3 loài thuộc chi Muồng
truổng (Zanthoxylum) (bảng 3.4).
3.1.4. Giá trị sử dụng của các loài trong các chi Hồng bì (Claussena), Ba
chạc (Euodia), Cơm rượu (Glycosmis) và Muồng truổng (Zanthoxylum) ở
Nghệ An
Tất cả 31 loài trong 4 chi thuộc họ Cam (Rutaceae) ở Nghệ An được nghiên
cứu đều có giá trị sử dụng. Hầu hết các loài đều có thể sử dụng một hoặc nhiều bộ
phận vào các mục đích khác nhau như làm thuốc, cho quả ăn được, cho tinh dầu,


15
làm gia vị. Trong đó, 100% số loài nghiên cứu đều có tinh dầu; sau đó là nhóm cây
sử dụng làm thuốc với 17 loài và nhóm cây cho gia vị với 5 loài và nhóm cây ăn
được với 3 loài được thể hiện qua bảng 3.5.
Bảng 3.5. Giá trị sử dụng của các loài trong 4 chi thuộc họ Cam ở Nghệ An
Giá trị sử dụng

TT


CGV

5

16,13

4

Cây ăn được

ĂNĐ

3

9,68

3.1.5. Đặc điểm sinh học của các chi và các loài trong chi Hồng bì
(Clausena), Ba chạc (Euodia), Cơm rượu (Glycosmis) và Muồng truổng
(Zanthoxylum) ở Nghệ An
Phần này mô tả về đặc điểm hình thái, sinh học sinh thái, phân bố, mẫu
nghiên cứu, giá trị sử dụng.
3.2. Thành phần hóa học tinh dầu một số loài thuộc các chi Hồng bì
(Clausena) Ba chạc (Euodia), Cơm rượu (Glycosmis) và Muồng truổng
(Zanthoxylum) ở Nghệ An
3.2.1. Chi Hồng bì (Clausena)
Như vậy, kết quả phân tích 5 mẫu tinh dầu ở lá của 5 loài trong chi Hồng
bì (Clausena) ở Nghệ An được tổng hợp trong bảng 3.13.
Bảng 3.13. Thành phần chủ yếu trong tinh dầu ở các bộ phận khác nhau
của một số loài thuộc chi Hồng bì (Clausena) ở Nghệ An
TT

Clausena
indica



0,82

31

4

Clausena



0,20

43

1
2

Tỷ lệ % một số thành phần chính
của tinh dầu

α-pinen (21,7%), sabinen (18,3%)
và β-myrcen (14,3%)
safrol (56,9%), α-terpinolen (22,1%)
L-menthon (70,6%), β-phellandren
(13,0%), β-myrcen (3,3%) và

Thành phần hóa học tinh dầu loài Ba chạc (Euodia lepta (Spreng)
Merr.)
Mẫu lá, cành, hoa và quả của loài Ba chạc (Euodia lepta) được thu ở
VQG Pù Mát, Nghệ An vào tháng 5 và tháng 8 năm 2013 (HDT 367). Hàm
lượng tinh dầu ở các bộ phận tương ứng là 0,2: 0,15 : 0,3 và 0,41% trọng lượng
tươi. Tinh dầu có màu vàng, nhẹ hơn nước.
Ở lá đã xác định được 60 hợp chất chiếm 92,4% tổng lượng tinh dầu. (E)β-ocimen (26,5%), α-pinen (10,2%), (Z)-β-ocimen (5,6%), δ-cadinen (5,2%) là
các hợp chất chính. Các hợp chất khác có hàm lượng thấp hơn là β-caryophyllen
(4,2%), (E)-nerolidol (3,6%), alloocimen (3,5%), limonen (3,0%), caryophyllen
oxit (3,0%), -cubeben (2,3%), α-humulen (2,1%). Các hợp chất còn lại chiếm
từ vết-2,0%.
47 hợp chất được xác định từ cành chiếm 92,4% tổng lượng tinh dầu. Thành
phần chính của tinh dầu là δ-cadinen (25,2%), (E)-β-ocimen

(10,3%), β-

caryophyllen (8,1%), α-pinen (7,7%). α-terpinolen (3,7%), ledol (3,6%, (Z)-9octadecenamit (3,6%), limonen (2,6%), spathoulenol (2,6%), α-phellandren (2,1%),
2,4-bis(1,1-dimethyethyl)-phenol, (2,1%), 1,2-benzenedicarboxylic axit (2,0%) là
các hợp chất nhỏ hơn.
Từ mẫu hoa đã xác định được 46 hợp chất chiếm 91,4% tổng lượng tinh
dầu. (E)-β-ocimen (28,5%), α-pinen (9,8%), α-cadinol (8,6%), caryophyllen oxit
(6,9%) là các hợp chất chính. Ngoài ra, các hợp chất khác có hàm lượng thấp


17
hơn là l-menthon (4,2%), β-caryophyllen (3,9%), dihydrocervyl axetat (3,1%),
limonen (2,9%).
35 hợp chất được xác định từ quả chiếm 98,8% tổng lượng tinh dầu.
Thành phần chính của tinh dầu là β-caryophyllen (21,7%), (E)-β-ocimen
(16,2%), δ-cadinen (14,4%), α-humulen (6,1%). Bicyclogermacren (5,8%), αpinen (5,6%), β-elemen (5,6%), bicycloelemen (4,4%), β-pinen (4,1%), limonen




0,21

75

Cành

0,33

61

Euodia
calophylla

Tỷ lệ % một số thành phần chính
của tinh dầu

α-bergamoten (8,9%), limonen
(8,3%), α-pinen (7,5%), (E)-βocimen
(7,2%),
(E)-nerolidol
(6,5%), spathoulenol (6,0%)
(E,E)-α-farnesen (13,7%), limonen
(9,8%),
α-pinen
(8,1%),
βcaryophyllen
(7,9%),


0,41

35



0,3

36

Euodia
Cành
simplicifolia

0,23

39

Quả

0,60

30

2 Euodia lepta

3

α-pinen (22,3%), limonen (20,1%),

Bảng trên cho thấy, hàm lượng tinh dầu biến động từ 0,15%-0,60% so
với trọng lượng tươi. Tinh dầu đều có màu vàng nhạt và nhẹ hơn nước. Các
thành phần hóa học được xác định chiếm từ 90,7%-97,3% tổng lượng tinh
dầu. Trong tinh dầu chủ yếu là các monotecpen và các sesquitecpen.
3.2.3. Chi Cơm rượu (Glycosmis)
Như vậy, kết quả phân tích 4 mẫu tinh dầu ở lá và cành của 2 loài trong
Cơm rượu (Glycosmis) được tổng hợp trong bảng 3.23.
Bảng 3.23. Các thành phần chủ yếu trong tinh dầu ở các bộ phận khác nhau của
một số loài thuộc chi Cơm rượu (Glycosmis) ở Nghệ An
TT

1

Loài

Glycosmis
crassifolia

Bộ
phận

Hàm
Số hợp
Tỷ lệ % một số thành phần chính của
lượng chất xác
tinh dầu
(%) định được





0,2

37

Glycosmis
mauritiana

myristicin
(21,3%),
(Z)-13docosenamit
(9,1%)

caryophyllen (6,0%)
Myristicin
(17,3%),
(Z)-13docosenamit (13,4%), α-gurjunen
(8,9%) và -caryophyllen (7,6%)

Bảng trên cho thấy, hàm lượng tinh dầu biến động từ 0,12%-0,3% so với
trọng lượng tươi. Tinh dầu đều có màu vàng nhạt và nhẹ hơn nước. Các thành
phần hóa học được xác định chiếm từ 91,8%-98,0% tổng lượng tinh dầu. Trong
tinh dầu chủ yếu là các monotecpen, các sesquitecpen và các hợp chất khác.
3.2.4. Chi Muồng truổng (Zanthoxylum)
Như vậy, kết quả phân tích 14 mẫu tinh dầu ở lá, cành, hoa và quả của 6
loài trong Muồng truổng (Zanthoxylum) được tổng hợp trong bảng 3.30.
Bảng 3.30. Các thành phần chủ yếu trong tinh dầu ở các bộ phận khác nhau của
một số loài thuộc chi Muồng truổng (Zanthoxylum) ở Nghệ An
TT



28

Hoa

0,15

34

Quả

0,2

26



0,5

32

Cành

0,4

22

Quả

1,0

4

Zanthoxylum
nitidum

Vỏ

0,7

46

Quả

1,2

33



0,4

53

Cành

0,3

33

Quả

limonen (41,1%), sabinen (25,7%)
và γ-terpinen (6,6%)
β-caryophyllen (16,5%), limonen
(14,2%) và benzyl benzoat (6,9%)
Germacren
D
(8,1%),
βcaryophyllen (7,4%), 2-undecanon
(6,5%) và α-terpinen (6,2%)
sabinen (34,0%), benzyl benzoat
(10,1%) và γ-terpinen (5,0%)
(E)-β-ocimen (37,1%) và 1,6germacradien-5-ol
(11,9%),
cadinene (6,1%)
β-terpinen (15,0%), α-phellandren
(11,3%), sabinen (10,1%)

Bảng trên cho thấy, hàm lượng tinh dầu biến động từ 0,15%- 1,2% so
với trọng lượng tươi. Tinh dầu đều có màu vàng nhạt và nhẹ hơn nước. Các
thành phần hóa học được xác định chiếm từ 90,7%-97,3% tổng lượng tinh
dầu. Trong tinh dầu chủ yếu là các monotecpen và các sesquitecpen.
3.3. Kết quả thử hoạt tính sinh học tinh dầu của loài Ba chạc
(Euodia lepta)
Kết quả thử hoạt tính kháng vi sinh vật kiểm định được thể hiện qua bảng 3.28
Bảng 3.28. Hoạt tính kháng vi sinh vật của tinh dầu lá và quả
Nồng độ ức chế tối thiểu (MIC: g/ml)
TT

1
2


E.
coli

P.
aerugi
nosa

B.
subt
illis

S.
aur
eus

A.
niger

F.
oxysp
orum

200

(-)

(-)

(-)

(-)

Kháng 2
VSVKĐ

Kết quả bảng trên cho thấy, mẫu nước có biểu hiện hoạt tính kháng nấm
A. niger với giá trị MIC là 200g/ml. Trong khi đó, mẫu tinh dầu có biểu hiện


21
hoạt tính kháng vi khuẩn S.aureus và nấm A.niger với giá trị MIC là 200g/ml.
Như vậy tinh dầu lá và quả có ý nghĩa trong đời sống hàng ngày bởi vì người
dân tộc Thái thường lấy cả cây để đun dùng lam nước uống, nấu nước tắm cho
phụ nữ sau khi sinh.
Kết quả thử các dòng tế bào ung thư phổi (LU-1) và ung thư gan (HepG2) của tinh dầu loài Ba chạc được thể hiện qua bảng 3.29
Bảng 3.29. Thử nghiệm hoạt tính gây độc và ức chế sự tăng sinh tế bào ung thư
KH mẫu

TT

Dung môi
Chứng (+)

BC- nước
BC-TD

1
2

Nồng độ đầu

TT

Kí hiệu mẫu

1

Chứng (+)
Chứng (-)
BC-N

Nồng độ đầu
của mẫu
(µg/ml)
44
200

2

BC-TD

200

Scavenging
capacity
(SC, %)
81,60  0,42
0,0  0,0
0,0  0,0
2,99  0,4


có 10 loài và chi Muồng truổng (Zanthoxylum) có 8 loài. Ghi nhận mới vùng
phân bố cho 8 loài trong 4 chi nghiên cứu (Clausena engleri , Clausena indica,
Euodia

oreophilla,

Glycosmis

ovodea,

Glycosmis

nana,

Zanthoxylum

acanthopodium, Zanthoxylum laetum, Zanthoxylum ovadifolium)
2. Mô tả đặc điểm sinh học, sinh thái và lập bản đồ phân bố của 31 loài
thuộc chi Hồng bì (Clausena), Ba chạc (Euodia), Cơm rượu (Glycosmis) và
Muồng truổng (Zanthoxylum) ở Nghệ An.
3. Đã xác định hàm lượng và thành phần hóa học tinh dầu của 16 loài,
trong đó chi Hồng bì (Clausena) 5 loài (Clausena anisiata, Clausena dimidiana,
Clausena indica, Clausena excavata, Clausena engleri); chi Ba chạc (Euodia) 3
loài (Euodia calophylla, Euodia lepta, Euodia simplicifolia); chi Cơm rượu
(Glycosmis) 2 loài (Glycosmis crassifolia, Glycosmis mauritiana) và chi Muồng
truổng (Zanthoxylum) 6 loài (Zanthoxylum avicennae, Zanthoxylum laetum,
Zanthoxylum myriacanthum, Zanthoxylum nitidum, Zanthoxylum ovadifolium,
Zanthoxylum rhetsa).
4. Lần đầu tiên xác định hàm lượng và thành phần hóa học tinh dầu của các
loài Hồng bì engler (Clausena engleri Tanaka), Dầu dấu lá đơn (Euodia


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status