MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong hệ thực vật Việt Nam, hiện đã biết có khoảng 300 họ thực vật
bậc cao có mạch với khoảng gần 12.000 loài. Trong các họ giàu loài thì
Long não (Lauraceae Juss.) đứng hạng thứ 8 với khoảng 275 loài thuộc 21
chi. Quế (Cinnamomum Schaeff.) và Bời lời (Litsea Lamk.) lại là hai chi
lớn nhất của họ Long Não (Lauraceae Juss.) ở nước ta. Hiện đã thống kê
được khoảng 99 loài và 10 thứ, chiếm tới 36% tổng số loài của cả họ. Hầu
hết các loài trong chi Quế (Cinnamomum Schaeff.) và Bời lời (Litsea
Lamk.) đều chứa tinh dầu, đây là nguồn nguyên liệu cần thiết cho các ngành
công nghiệp như dược phẩm, hóa mỹ phẩm, thực phẩm, Việc điều tra,
nghiên cứu nguồn tài nguyên cũng như thành phần hóa học tinh dầu của các
loài trong hai chi Quế (Cinnamomum Schaeff.) và Bời lời (Litsea Lamk.)
được xem là yêu cầu cần thiết làm cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu tiếp
theo phục vụ nhu cầu thực tiễn sản xuất ở nước ta giai đoạn hiện nay.
Vườn Quốc Gia Bạch Mã được đánh giá là một trong những trung tâm đa
dạng sinh học của Việt Nam, nơi hội tụ của 2 luồng thực vật từ Bắc vào và từ
Nam ra. Đây cũng là nơi có đa dạng các loài họ Long não (Lauraceae Juss.)
đặc biệt là hai chi Quế (Cinnamomum Schaeff.) và Bời lời (Litsea Lamk.).
Tuy nhiên, việc đi sâu nghiên cứu về tính đa dạng thành phần loài cũng như
thành phần hóa học tinh dầu của các loài trong 2 chi này ở VQG Bạch Mã là
còn rất hạn chế. Vì vậy, chúng tôi đã lựa chọn và thực hiện đề tài luận án:
Nghiên cứu đặc điểm sinh học và thành phần hoá học tinh dầu của các loài
trong chi Quế (Cinnamomum Schaeff.) và Bời lời (Litsea Lamk.) thuộc họ
Long não (Lauraceae Juss.) ở VQG Bạch Mã (Thừa Thiên Huế).
2. Mục tiêu
Xây dựng cơ sở dữ liệu về nguồn thực vật có tinh dầu trong chi Quế
(Cinnamomum) và Bời lời (Litsea) làm cơ sở khoa học cần thiết cho việc
đánh giá tiềm năng, cũng như có biện pháp cụ thể để bảo tồn, phát triển và
sử dụng chúng bền vững tại VQG Bạch Mã nói riêng và cả nước nói
chung.
cassia), Z-citral (L. cubeba), Đây cũng là các loại tinh dầu đã và đang là
nguồn nguyên liệu cho một số ngành công nghiệp như (dược phẩm, thực
phẩm, hóa mỹ phẩm, )
5. Bố cục của luận án
Luận án dày 120 trang gồm: Mở đầu - 2 trang (1-2); Chương 1 -
Tổng quan tài liệu - 15 trang (3-17); Chương 2 - Đối tượng, nội dung và
phương pháp nghiên cứu - 4 trang (18-21); Chương 3 - Kết quả nghiên cứu
và thảo luận - 97 trang (22-118); Kết luận và kiến nghị - 2 trang (119-120);
Danh mục các công trình công bố của tác giả liên quan đến luận án; Tài
liệu tham khảo; Phụ lục.
2
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Những công trình nghiên cứu về thực vật của họ Long não
(Lauraceae Juss.)
Long não (Lauraceae Juss.) là họ có thành phần loài đa dạng và có
nhiều giá trị sử dụng nên đã được nhiều nhà khoa học trên thế giới quan
tâm. Người đầu tiên nghiên cứu về họ Long não (Lauraceae) là Jussieu
(1789-1824). Tiếp theo đã có nhiều công trình nghiên cứu và công bố về
các loài họ Long não (Lauraceae) trong các bộ sách Thực vật chí Ấn Độ
với 16 chi và 250 loài, Trung Quốc có 18 chi và 500 loài, Malaixia 12 chi
và 200 loài, Đông Dương có 12 chi và 50 loài,
Họ Long não (Lauraceae) bao gồm chủ yếu là các loài cây gỗ, cây bụi
thường xanh. Tuy vậy, cũng có chi Sassafras với một số loài rụng lá và chi
Cassytha (tơ xanh) có các loài dây leo sống ký sinh. Cành non có màu
xanh, vỏ có mùi thơm, có chồi ngủ đông. Lá mọc cụm ở đầu cành, có 3
gân chính hay hệ gân đơn giản. Hoa mẫu 3, bao phấn mở, có nhị lép và
tuyến mật ở gốc chỉ nhị. Quả có đài dính liền phát triển thành dạng đấu
dưới quả.
Trên thế giới họ Long não (Lauraceae) gồm có 55 chi và gần 2.500
nguồn tài nguyên ở các khu vực trên cả nước và phát hiện, bổ sung thêm
nhiều loài mới cho Hệ Thực vật Việt Nam. Phạm Hoàng Hộ (1991) và tái
bản (1999) đã vẽ hình và mô tả tóm tắt các loài thuộc hai chi Quế
(Cinnamomum) và Bời lời (Litsea) trong họ Long não (Lauraceae) với 43
loài thuộc chi Quế (Cinnamomum) và 45 loài thuộc chi Bời lời (Litsea).
Nghiên cứu đầy đủ nhất về hai chi này trong họ Long não (Lauraceae) là
các công trình của Nguyễn Kim Đào (1995, 2003). Tác giả đã công bố về
phân bố, dạng sống, sinh thái và giá trị sử dụng của các loài trong họ Long
não (Lauraceae) nói chung, chi Quế (Cinnamomum) và Bời lời (Litsea) nói
riêng ở các khu vực khác nhau trên cả nước. Trong đó chi Quế
(Cinnamomum) có 44 loài và 1 thứ; chi Bời lời (Litsea) có 42 loài và 13
thứ. Sau này, các nhà khoa học nghiên cứu đa dạng ở các vùng khác nhau
của cả nước đã công bố trong các danh lục thực vật như: Phùng Ngọc Lan
và cộng sự (1996), nghiên cứu Hệ Thực vật ở VQG Cúc Phương đã công
bố 9 loài thuộc chi Quế (Cinnamomum) và 12 loài thuộc chi Bời lời
(Litsea). Nguyễn Nghĩa Thìn & Mai Văn Phô (2003) khi nghiên cứu đa
dạng hệ thực vật VQG Bạch Mã đã thống kê được 14 loài thuộc chi Quế
(Cinnamomum) và 15 loài thuộc chi Bời lời (Litsea). Nguyễn Nghĩa Thìn
& Nguyễn Thanh Nhàn (2004), nghiên cứu hệ thực vật VQG Pù Mát đã
công bố 18 loài thuộc chi Quế (Cinnamomum) và 21 loài thuộc chi Bời lời
(Litsea). Đỗ Ngọc Đài & Lê Thị Hương (2010) đã công bố ở Khu BTTN
Xuân Liên, Thanh Hoá với 10 loài trong chi Quế (Cinnamomum) và 10
loài trong chi Bời lời (Litsea).
Như vậy, các tác giả cũng mới chỉ thống kê về thành phần loài ở các
vùng khác nhau, chưa có những nghiên cứu, đánh giá đầy đủ về thành phần
hóa học của tinh dầu. Ở nước ta, các loài trong hai chi Quế (Cinnamomum)
4
và Bời lời (Litsea) có nhiều giá trị sử dụng như làm thuốc, cho tinh dầu, lấy
gỗ,
1.3. Phân bố của các loài chứa tinh dầu trong hệ thực vật Việt Nam
Như vậy, các công trình nghiên cứu về tinh dầu, thành phần hóa học
của tinh dầu ở các loài thuộc hai chi Quế (Cinnamomum) và Bời lời
(Litsea) ở Việt Nam đang còn ít, chưa đầy đủ và chưa xứng với tiềm năng
cũng như giá trị của chúng.
1.5. Giá trị sử dụng của các loài thuộc chi Quế (Cinnamomum
5
Schaeff.) và Bời lời (Litsea Lamk.)
1.5.1. Chi Quế (Cinnamomum Schaeff.)
Rất nhiều loài trong chi Quế (Cinnamomum) là cây tinh dầu, cây
thuốc, cây gia vị và cây lấy gỗ có giá trị. Vỏ cây, vỏ cành và lá của các loài
Quế như: Quế trèn (C. burmannii), Quế thanh (C. cassia),… là nguồn
nguyên liệu lấy tinh dầu, nguồn gia vị để chế biến thực phẩm trong công
nghiệp cũng như trong tập quán ẩm thực của nhiều dân tộc, nhiều gia đình.
1.5.2. Chi Bời lời (Litsea Lamk.)
Ở các loài trong chi Bời lời (Litsea) tinh dầu được chứa chủ yếu
trong quả, lá và một lượng nhỏ trong thân. Tinh dầu của loài Màng tang
(L. cubeba) là nguồn cung cấp citral có giá trị. Đó là nguồn nguyên liệu
quý để chuyển hóa thành ionon và tiền sinh tố A trong công nghiệp chế
biến nước hoa, kem xoa, xà phòng thơm và các hợp chất tẩy rửa khác,
trong chế biến thực phẩm và thuốc lá…. Nhiều loài trong chi Bời lời
(Litsea) là cây mọc nhanh, chịu đựng đất đai cằn cỗi nên có thể là những
đối tượng cần quan tâm trong cơ cấu cây rừng để phục hồi rừng sau nương
rẫy hoặc trên các đồi núi trọc.
1.6. Điều kiện tự nhiên và xã hội ở VQG Bạch Mã
Phần này nêu lên vị trí địa lý, địa hình, địa mạo, đặc điểm khí hậu,
đặc điểm kinh tế xã hội, đặc điểm hệ thực vật của khu vực nghiên cứu.
Chương 2
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là thành phần loài thực vật và thành phần hóa
2.3.1.2. Xử lý và trình bày mẫu
Các mẫu thu thập từ thực địa được làm tiêu bản theo phương pháp của
Nguyễn Nghĩa Thìn (1997).
Sau khi mẫu được xử lý sơ bộ ở ngoài thực địa, tiếp tục xử lý khô tại
phòng Bảo tàng thực vật của trường Đại học Vinh. Các mẫu sau khi sấy khô
được ngâm tẩm bằng dung dịch cồn chứa 3-5% HgCl
2
để diệt khuẩn và
chống côn trùng phá hoại. Các mẫu tiêu bản đã được sấy khô và ép phẳng,
sau đó trình bày và khâu đính trên bìa giấy cứng kích thước 30 cm x 42 cm,
có etyket.
2.3.1.3. Phương pháp định loại
Mẫu của các loài thực vật thu ở các điểm khác nhau ngoài thực địa
của VQG Bạch Mã được tiến hành quan sát, ghi chép cụ thể các đặc điểm
hình thái (thân, lá, hoa, quả), sinh thái của chúng. Sau khi phân tích xem
xét các đặc điểm hình thái, tiến hành xác định dựa vào khóa định loại đã
có.
Mẫu đã được so sánh với các mẫu vật ở Phòng tiêu bản thực vật, Viện
Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật (HN), Đại học quốc gia Hà Nội (HNU),
7
Tổng số mẫu thu được là 300 mẫu, số mẫu đã phân tích và định loại được là
180 mẫu. Mẫu hiện được lưu trữ ở phòng mẫu Thực vật, khoa Sinh học,
trường Đại học Vinh (VU).
Để xác định tên khoa học của các loài, chúng tôi sử dụng phương
pháp so sánh hình thái. Các tài liệu chính được sử dụng trong quá trình
nghiên cứu mẫu là: Phạm Hoàng Hộ (2000), Cây cỏ Việt Nam, Quyển I;
H. W. Li (1998), The Lauraceae Flora Kunming, H. W. Li (1982), Flora of
China; Flore générale de l'Indo-Chine, K. Zhang et al. (2008), Flora of
China, Vol. 7, Lauraceae.
2.3.1.4. Tìm hiểu về giá trị sử dụng của các loài trong chi Quế
trong thời gian 2-4 giờ ở áp suất thường. Hàm lượng tinh dầu được tính
theo công thức.
X(%) = (d<1)
X(%) = (d>1)
Trong đó: a. là thể tích của tinh dầu
b. là khối lượng của mẫu đã trừ độ ẩm tính bằng gam
c. là thể tích xilen thêm vào tinh dầu
Tinh dầu được làm khô bằng Na
2
SO
4
khan, đựng trong các lọ tiêu
chuẩn đậy kín, bảo quản ở 0-5
o
C trước khi đem phân tích.
2.3.2.3. Phương pháp phân tích thành phần hoá học tinh dầu
Hoà tan 1,5 mg tinh dầu đã được làm khô bằng Na
2
SO
4
khan trong
1ml hexan tinh khiết loại dùng cho phân tích sắc ký phổ.
Sắc ký khí (GC): Được thực hiện trên máy Agilent Technologies HP
6890N Plus với detectơ FID của hãng Agilent Technologies, Mỹ. Cột sắc ký
là cột mao quản HP-5MS với chiều dài 30 m, đường kính trong (ID) = 0,25
mm, lớp phim mỏng 0,25µm. Khí mang là He. Nhiệt độ buồng bơm mẫu là
250
o
C. Nhiệt độ Detectơ là 260
o
họ Long não (Lauraceae) ở VQG Bạch Mã. Kết quả phân tích, xác định
tên khoa học các mẫu vật thu được, đã xây dựng danh lục các loài thuộc
chi Quế (Cinnamomum) và Bời lời (Litsea) phân bố ở VQG Bạch Mã gồm
44 loài và 2 thứ.
Bảng 3.1. Danh lục các loài trong chi Quế (Cinnamomum)
và Bời lời (Litsea) phân bố ở VQG Bạch Mã
T
T
Tên khoa học Tên Việt Nam
Dạn
g
thân
Giá trị
sử dụng
Giá
trị
kho
a
học
Gen.1. Cinnamomum
Schaeff. 1760
Chi Quế
1
Cinnamomum
bejolghota (Buch
Ham. ex Nees) Sweet
Quế lá tù, Re gừng,
Quế hương
GOL
THV,LO
THV,CT
D
CĐ
H
6
Cinnamomum cassia
(L.) Presl*
Quế thanh, Quế đơn,
Quế trung quốc
GOL
THV,LG
O,CTD
7
Cinnamomum curvifolium
(Lour.) Nees*
Quế ô dược, Quế
hoa trắng
GOL
THV,LGO
,
CTD,CDB
CĐ
H
8
Cinnamomum
damhaensis Kosterm.
sec. Phamh.*
Re đầm hà GON CTD
CĐ
H
13 Cinnamomum
longepetiolatum
Re cuống dài, Quế
cuống dài
GON THV,CT
D
CĐ
H
10
T
T
Tên khoa học Tên Việt Nam
Dạn
g
thân
Giá trị
sử dụng
Giá
trị
kho
a
học
Kosterm. apud. Phamh.
14
Cinnamomum
magnificum Kosterm.
sec. Phamh.
Quế tuyệt GON CTD
CĐ
H
19
Cinnamomum
rigidifolium Kosterm.
sec. Phamh.
Re lá cứng, Quế lá
cứng
GON CTD
CĐ
H
20
Cinnamomum sericans
Hance
Ô phát, Ô phát tơ GON CTD
21
Cinnamomum
subavenicum Miq.*
Quế gân to GON
LGO,TH
V,CTD
22
Cinnamomum tamala
(Buch Ham.) T. Nees
& Nees*
Re chay, Quế ấn GON
THV,CT
D,#
23
Cinnamomum
tonkinensis (Lecomte)
A. Chev.*
Litsea cubeba (Lour.)
Pers.
Màng tang, Bời lời
chanh
GON
THV,CT
D,
CDB
29
Litsea elongata (Nees)
Benth. & Hook. f.*
Bời lời lá thuôn GON CTD
30
Litsea eugenoides
A.Chev. ex Liou*
Bời lời trâm, Bời lời
đinh hương
GON CTD
CĐ
H
31
Litsea euosma W. W.
Smith*
Bời lời núi đá, Bời
lời mùi tốt
GON
LGO,CT
D
32 Litsea ferruginea Bời lời gỉ sắt, Bời lời GON CTD
11
Bời lời trung bộ GOT CTD
CĐ
H
36
Litsea helferi Hook.
f.*
Bời lời helfer GON CTD
37
Litsea lancilimba
Merr.
Bời lời phiến lá
thon, Bời lời lá thon,
Bời lời lá hình trâm
GOT
LGO,CT
D,CDB
38
Litsea mollifolia
Chun*
Bời lời mềm, Bời
lời lá mềm
GON
CTD,CD
B
39
Litsea monopetala
(Roxb.) Pers.
Bời lời bao hoa đơn,
Mò giấy, Bời lời lá
tròn, Bời lời nhiều
Merr.*
Bời lời đắng, Bời lời
hoa tán, Mò lông
GON
THV,CT
D
45
Litsea verticillata
Hance
Bời lời vòng, Bời lời
lá mọc vòng, Bời lời
cuống ngắn
GON
LGO,CT
D,CDB
46 Litsea viridis Liou Bời lời xanh BUI
CTD,CD
B
Chú thích: *: loài bổ sung cho VQG Bạch Mã, SĐ: loài được ghi trong
sách đỏ Việt Nam năm 2007, CĐH: loài cận đặc hữu, GOL: cây gỗ lớn,
GOT: cây gỗ trung bình, GON: cây gỗ nhỏ, BUI: cây bụi, CTD: cây cho
tinh dầu, LGO: cây cho gỗ, THV: cây làm thuốc, CDB: cây cho dầu béo,
#: cây cho công dụng khác.
So sánh với tổng số loài của 2 chi này hiện biết ở Việt Nam (Nguyễn
Kim Đào, 2003) thì thành phần loài của 2 chi Quế (Cinnamomum) và Bời
lời (Litsea) thuộc họ Long não (Lauraceae) ở VQG Bạch Mã cũng khá là
12
đa dạng. Trong đó, chi Quế (Cinnamomum) với 23 loài so với 44 loài và 1
thứ chiếm 51,11% tổng số loài và thứ hiện biết ở Việt Nam; chi Bời lời
(Litsea) với 21 loài và 2 thứ so với 42 loài và 13 thứ chiếm 41,82% tổng số
trình đã có [9], [12]
1
Cinnamomu
m bonii
Lecomte
Quế bon Mọc rải rác trong
rừng kín thường
xanh, ở độ cao 500-
900 m.
Lào Cai, Hòa Bình
(Yên Thủy), Ninh
Bình (Cúc Phương)
2
Cinnamomu
m
cambodianu
m Lecomte
Re cam
bốt
Mọc rải rác trong
rừng kín thường
xanh, núi đất hoặc
núi đá, độ cao 300-
800 m.
Ninh Bình (Cúc
Phương), Thanh
Hóa, Nghệ An (Quỳ
Châu), Hà Tĩnh (Vũ
Quang), Quảng Bình
(Phong Nha - Kẻ
Tên
Việt
Nam
Nơi sống tại VQG
Bạch Mã
Phân bố ở Việt Nam
trong các công
trình đã có [9], [12]
Trung, trên dãy
Trường Sơn và được
trồng ở nhiều nơi
5
Cinnamomu
m curvifolium
(Lour.) Nees
Quế ô
dược
Mọc rải rác trong
rừng kín thường
xanh, ở độ cao 500-
1500 m
Sơn La (Sông Mã),
Hà Giang (Bắc
Quang), Hòa Bình
(Yên Thủy), Hà Nội
(Ba Vì), Nam Bộ.
6
Cinnamomum
damhaensis
Kosterm. sec.
xanh, ven suối, ở độ
cao 400-1100 m.
Lào Cai (Sa Pa),
Thái Nguyên
(Đồng Hỷ)
9
Cinnamomu
m
subavenicum
Miq.
Quế gân
to
Mọc rải rác trong
rừng kín thường
xanh ở độ cao dưới
1000 m.
Hà Tĩnh (Thạch
Hà), Quảng Trị,
Quảng Nam, Kon
Tum (Kon Rhong),
Bình Dương (Thủ
Dầu Một)
10 Cinnamomu
m tamala
(Buch
Ham.) T.
Nees & Nees
Re chay Mọc rải rác ở rừng
kín thường xanh
hỗn giao cây lá
xanh, ở độ cao 1500
m
Yên Bái (Văn
Chấn), Lào Cai (Sa
Pa), Bắc Giang, Hà
Tĩnh (Vũ Quang),
Kon Tum, Gia Lai
13 Litsea
eugenoides
A.Chev.
Bời lời
trâm
Mọc rải rác trong
rừng kín thường
xanh, ưa sáng
Khánh Hòa (Nha
Trang: Hòn Bà)
14
Litsea
euosma W.
W. Smith
Bời lời
núi đá
Mọc rải rác trong
rừng kín thường
xanh, ở độ cao 350-
2000 m
Vĩnh Phúc (Tam
Đảo), Nghệ An
15
xanh, ở độ cao 800-
1000 m
Vĩnh Phúc (Tam
Đảo), Nghệ An (Pù
Mát), Hà Tĩnh (Vũ
Quang)
17
Litsea
mollifolia
Chun
Bời lời
mềm
Mọc rải rác trong
rừng kín thường
xanh, ở độ cao trên
500 m
Lạng Sơn (Hữu
Lũng), Hà Tĩnh
(Vũ Quang), Kon
Tum
18
p
Litsea
pierrei
Lecomte
Bời lời
trắng
Mọc rải rác trong
rừng kín thường
xanh ở độ cao dưới
Sông Mã, Mộc
Châu), Phú Thọ
(Phú Hộ), Hà Tây
(Ba Vì), Ninh Bình
(Cúc Phương), Kon
Tum (Đác Tô), Gia
Lai (An Khê, Măng
Yang), Bà Rịa-
Vũng Tàu (núi
Đinh)
Phân tích chi tiết về phân bố của 20 loài trên cho thấy: loài Quế thanh
(C. cassia), Bời lời trắng (L. pierrei) và Bời lời đắng (L. umbellata) thường
phân bố khắp cả nước; loài Re cẩm chướng (C. caryophyllus), Re lá cứng
(C. durifolium), Bời lời trâm (L. eugenoides) và Bời lời thịt cá hồi (L.
salmonea) chủ yếu phân bố ở miền Nam (P. H. Hộ, 1999 và N. K. Đào,
2003); các loài Re cam bốt (C. cambodianum), Re chay (C. tamala), Re xanh
(C. tonkinensis), Bời lời helfer (L. helferi), Bời lời gỉ sắt (L. ferruginea), Quế
gân to (C. subavenicum), Bời lời núi đá (L. euosma) và Bời lời trung bộ (L.
griffithii var. annamensis) phân bố ở miền Trung (Thừa Thiên Huế, Quảng
Trị, Nghệ An) trở ra phía Bắc; phân bố ở miền Bắc có các loài Quế bon (C.
bonii), Re đầm hà (C. damhaensis) và Quế kuntsler (C. kunstleri); loài Bời
lời lá thuôn (L. elongata) và Quế ô dược (C. curvifolium) xuất hiện ở miền
15
Bắc và miền Nam. Trong đó, có 4 loài trước đây chỉ mới ghi nhận sống trong
vùng phân bố hẹp như: loài Re lá cứng (C. durifolium) chỉ mới ghi nhận
vùng phân bố ở Ninh Thuận, Quế kunstler (C. kunstleri) phân bố Lào Cai
(Sa Pa) và Thái Nguyên (Đồng Hỷ), Bời lời trâm (L. eugenoides) và Bời lời
thịt cá hồi (L. salmonea) phân bố ở Khánh Hòa.
Về nơi sống của các loài được bổ sung vùng phân bố cho khu Hệ Thực
vật VQG Bạch Mã thì phần lớn các loài sống ở rừng kín thường xanh như:
16
(Lauraceae) nói riêng và các họ cây có tinh dầu nói chung để cung cấp các
hợp chất cần thiết có thể ứng dụng trong dược liệu, mỹ phẩm…
3.1.4. Giá trị khoa học của các loài trong chi Quế (Cinnamomum
Schaeff.) và Bời lời (Litsea Lamk.)
Có 2 loài trong chi Quế (Cinnamomum) được ghi trong Sách Đỏ Việt
Nam (2007) là Re cam bốt (C. cambodianum) - phân hạng sẽ nguy cấp
(VU) và Re hương (C. parthenoxylon) - phân hạng rất nguy cấp (CR).
Có 14 loài và dưới loài cận đặc hữu Việt Nam, trong đó 8 loài thuộc chi
Quế (Cinnamomum) và 6 loài chi Bời lời (Litsea) gồm Re cẩm chướng (C.
caryophyllus), Quế ô dược (C. curvifolium), Re đầm hà (C. damhaensis),
Quế gân to (C. subavenicum), Re cuống dài (C. longepetiolatum), Quế
tuyệt (C. magnificum), Rè muôi (C. melastomaceum), Re lá cứng (C.
rigidifolium), Bời lời clemen (L. clemensii), Bời lời trâm (L. eugenoides),
Bời lời nha trang (L. firma var. austroannamensis), Bời lời trung bộ (L.
griffithii var. annamensis), Bời lời trắng (L. pierrei) và Bời lời thịt cá hồi
(L. salmonea).
3.1.5. Một số đặc điểm sinh học chung của các loài trong 2 chi Quế
(Cinnamomum Schaeff.) và Bời lời (Litsea Lamk.) ở VQG Bạch Mã
3.1.5.1. Đặc điểm chung của các loài trong chi Quế (Cinnamomum
Schaeff.)
Các loài trong chi Quế (Cinnamomum) ở VQG Bạch Mã đã nghiên
cứu cho thấy chúng cùng có các đặc điểm sinh học chung như sau:
- Dạng thân: Chủ yếu là cây thân gỗ lớn, cao từ 20 đến 30 m, có 3
loài. Cây thân gỗ trung bình (10-20 m) có 13 loài. Còn lại là cây gỗ nhỏ có
chiều cao từ 5-10 m có 7 loài.
- Nơi sống: Chủ yếu mọc ở rừng kín thường xanh, ven rừng, nơi sáng;
mọc ở cả đai thấp (dưới 900m) và đai cao (trên 900 m) có loài mọc cả ở đai
thấp và đai cao.
- Mùa ra hoa, mùa quả : Tùy vào từng loài mà có mùa ra hoa, mùa
(Cinnamomum Schaeff.) và Bời lời (Litsea Lamk.) ở VQG Bạch Mã
3.2.1. Chi Quế - Cinnamomum Schaeff.
3.2.1.1. Cinnamomum bonii Lecomte - Quế bon
Hàm lượng tinh dầu tương ứng trong lá và vỏ của loài Quế bon (C.
bonii) được xác định đạt 0,3% và 0,4% trọng lượng tươi. Từ tinh dầu ở lá
đã xác định được 55 hợp chất, chiếm 88,6% tổng lượng tinh dầu. Hai thành
phần chính của tinh dầu là linalool (25,6%) và δ-cadinen (20,4%). Với tinh
dầu ở vỏ, đã xác định được 44 hợp chất, chiếm 99,8% tổng lượng tinh dầu.
Methyl eugenol (43,5%), linalool (23,1%) là các thành phần chính. Ở loài
Quế bon (C. bonii), sự phân bố hàm lượng và thành phần hóa học tinh dầu trong
các bộ phận khác nhau có sự khác nhau. Trong khi thành phần chính của tinh
dầu ở lá là linalool (25,6%) và δ-cadinen (20,4%) thì thành phần chính của tinh
dầu ở vỏ là linalool (23,1%) và methyl eugenol (43,5%). Như vậy, vỏ của loài
này phân bố ở VQG Bạch Mã có thể là nguồn methyl eugenol mới. Đây là
những dẫn liệu đầu tiên về hóa học tinh dầu của loài này ở Việt Nam.
3.2.1.2. Cinnamomum cambodianum Lecomte - Re cam bốt
18
Ở loài Re cam bốt (C. cambodianum), hàm lượng tinh dầu tương ứng ở
lá và cành đạt 0,2% và 0,3% trọng lượng tươi. Đã xác định được 42 hợp chất
từ tinh dầu ở lá, chiếm 90,0% tổng lượng tinh dầu. Trong tinh dầu chủ yếu là
các hợp chất monoterpen hydrocarbon chiếm 18,7%; các hợp chất
monoterpen chứa oxy chiếm 62,1%; lượng các hợp chất sesquisterpen là
thấp, chiếm 9,2%. Linalool (33,1%), terpinen-4-ol (12,3%) và cis-sabinen
hydrat (6,2%) là các thành phần chính của tinh dầu. Với tinh dầu ở cành, xác
định được 17 hợp chất, chiếm 99,7% tổng lượng tinh dầu. Các hợp chất
monoterpen hydrocarbon chiếm 53,0%; các hợp chất monoterpen chứa
oxy chiếm 45,5%; các hợp chất sesquiterpen chiếm 1,1% và các hợp chất
khác chiếm 0,1%. Thành phần chính của tinh dầu là linalool (27,0%),
limonen (23,4%), terpinen-4-ol (9,8%) và α-phellandren (9,5%).
Kết quả trên cho thấy, ở 2 bộ phận lá và cành của loài Re cam bốt
tinh dầu ở hoa, chiếm 100% tổng lượng tinh dầu. Hai hợp chất chính là
cinnamic aldehyt (70,9%) và (Z)-9-octadecenamit (10,0%). Từ kết quả
trên cho thấy, sự phân bố hàm lượng và thành phần hoá học tinh dầu ở các
bộ phận của loài Quế thanh (C. cassia) có sự khác nhau. Trong đó, hợp
chất cinnamic aldehyt chiếm tỷ lệ 77,3% và 70,9% tổng lượng tinh dầu
trong vỏ và hoa. Ở lá, cành và rễ thì hợp chất này chiếm 53,5% và 58,3%;
ngoài ra, một số hợp chất khác có hàm lượng nhỏ hơn phân bố tùy vào
từng bộ phận trong cây. Kết quả so sánh với các nghiên cứu trong và ngoài
nước cho thấy, thành phần hóa học tinh dầu ở tất cả các bộ phận nghiên
cứu của loài Quế thanh (C. cassia) tại Bạch Mã được đặc trưng bởi
cinnamic aldehyt với hàm lượng tương đối thấp (53,5-77,3%). So với các
nghiên cứu trước đây ở các khu vực khác nhau cho thấy, ở Úc thành phần
hoá học tinh dầu trong vỏ chủ yếu là cinnamic aldehyt (87,0%); ở Trung
Quốc là cinnamic aldehyt (74,1%), ở Malaixia là cinnamic aldehyt (70-
95%). Còn mẫu tinh dầu trong lá Quế thanh (C. cassia) ở Yên Bái thì hàm
lượng cinnamic aldehyt khá cao với 90%. Kết quả trên đã minh chứng cho
luận điểm khoa học: ở các vùng phân bố khác nhau thì hàm lượng và thành
phần hoá học tinh dầu trên cùng bộ phận hoặc ở các bộ phận khác nhau của
cùng một loài cũng có sự khác biệt do ảnh hưởng của yếu tố di truyền và
điều kiện ngoại cảnh là hoàn toàn có cơ sở.
3.2.1.5. Cinnamomum curvifolium (Lour.) Nees - Quế ô dược
Ở mẫu lá loài Quế ô dược (C. curvifolium), hàm lượng tinh dầu đạt
0,3% trọng lượng tươi với 27 hợp chất được xác định, chiếm 99,3% tổng
lượng tinh dầu. Trong tinh dầu chủ yếu là các hợp chất thơm chiếm 55,9%,
các axit béo chiếm 24,9%; các monoterpen chiếm 3,2%; các hợp chất
sesquiterpen chiếm 15,5% và các hợp chất khác chiếm 2,8%. Benzyl
cinnamat (29,9%), benzyl benzoat (22,1%) và axit hexadecanoic (7,5%) là
các thành phần chính. Như vậy, tinh dầu trong lá của loài này được đặc
trưng bởi các hợp chất thơm như benzyl cinnamat (29,9%), benzyl benzoat
(22,1%),…chiếm trên 50%. Đây là những hợp chất rất có ý nghĩa trong
trình nghiên cứu ở Malaixia và Thái Lan. Tinh dầu trong lá của loài Quế rừng
(C. iners) phân bố ở Việt Nam, thành phần β-caryophyllen chiếm tỷ lệ khá
cao (35,9%), còn ở Malaixia lại là eugenol (93,1%) và ở Thái Lan là linalool
(35,6-50,5%). Trong quả và vỏ phân bố ở Malaixia, tinh dầu được đặc trưng
bởi α-pinen và trans-cinnamaldehyt. Chứng tỏ rằng, điều kiện ngoại cảnh và
đặc tính di truyền đã có ảnh hưởng lớn đến sự tích luỹ tinh dầu ở các bộ phận
trong cây của mỗi loài.
3.2.1.9. Cinnamomum kunstleri Rild. - Quế kunstler
Trong lá và vỏ của loài Quế kunstler (C. kunstleri), hàm lượng tinh
dầu tương ứng đạt 0,2 và 0,25% trọng lượng tươi. Các thành phần chính
21
được tìm thấy trong cả 2 mẫu nghiên cứu với hàm lượng tương ứng là
1,8-cineol (7,4% và 25,3%), terpinen-4-ol (19,2% và 6,7%), α-terpineol
(3,2% và 10,7%). Từ tinh dầu ở lá, 59 hợp chất được xác định, chiếm
99,3% tổng lượng tinh dầu. Trong tinh dầu chủ yếu là các hợp chất
monoterpen chiếm 88,3%; trong đó các hợp chất monterpen chứa oxy
chiếm 57,1%; các hợp chất sesquiterpen chiếm 10,3%. Methyl eugenol
(22,5%), terpinen-4-ol (19,2%), 1,8-cineol (7,4%) là các thành phần chính
của tinh dầu. Với tinh dầu ở vỏ, 56 hợp chất được xác định, chiếm 99,6%
tổng lượng tinh dầu. Các hợp chất monoterpen chiếm 74,1%, sesquiterpen
chiếm 23,4%. Thành phần chính của tinh dầu là 1,8-cineol (25,3%), α-
terpineol (10,7%) và terpinen-4-ol (6,7%). Đây là những dẫn liệu đầu tiên về
hóa học tinh dầu của loài này ở Việt Nam.
3.2.1.10. Cinnamomum mairei Levl. - Quế bạc
Hàm lượng tinh dầu trong lá của loài Quế bạc (C. mairei) đạt 0,25%
trọng lượng tươi với 37 hợp chất được xác định, chiếm 99,1% tổng lượng
tinh dầu. Trong tinh dầu gồm chủ yếu là các hợp chất monoterpen chiếm
85,3%, đặc biệt là các hợp chất monoterpen chứa oxy (chiếm 83,6%). Các
thành phần chính của tinh dầu là eugenol (39,7%), neryl axetat (14,9%),
eugenol axetat (13,7%) và 1,8-cineol (13,0%). Có thể xem đây là nguồn
lượng tươi với 55 hợp chất được xác định, chiếm 88,1% tổng lượng tinh
dầu. Thành phần chính của tinh dầu là spathoulenol (14,5%), caryophyllen
oxit (9,3%), α-pinen (9,3%), sabinen (8,0%), β-caryophyllen (7,1%), β-
pinen (6,8%) và bicyclogermacren (6%). Đây là những dẫn liệu đầu tiên về
hóa học tinh dầu của loài này ở Việt Nam.
3.2.1.14. Cinnamomum tamala (Buch Ham.) T. Nees & Nees - Re chay
Ở lá loài Re chay (C. tamala), hàm lượng tinh dầu đạt 0,35% trọng
lượng tươi với 49 hợp chất được xác định, chiếm 99,6% tổng lượng tinh
dầu. Thành phần chính của tinh dầu là eugenol (63,1%) và limonen
(17,8%). Như vậy, đây là nguồn eugenol mới trong tự nhiên của loài này.
Để thấy được sự khác nhau của các thành phần hoá học chính của tinh dầu
ở cùng một loài Re chay (C. tamala), kết quả nghiên cứu được so sánh với
các nghiên cứu ở Ấn Độ, Nêpan, Pakistan, Kumaon. Kết quả so sánh cho
thấy, cùng mẫu lá loài Re chay (C. tamala) nhưng khi phân bố ở các khu
vực khác nhau thì hàm lượng và thành phần hóa học chính của tinh dầu
cũng có sự khác biệt. Ở Ấn Độ tinh dầu trong mẫu lá được đặc trưng bởi 3
kiểu chemotyp khác nhau là eugenol, cinnamaldehyt và β-caryophyllen;
tinh dầu mẫu lá ở Nêpan đặc trưng bởi linalool; ở Pakistan là β-
caryophyllen; còn ở Kumaon và Hymalaya là cinnamaldehyt; đối với tinh
dầu mẫu nghiên cứu trong luận án là eugenol. Kết quả trên đã cho thấy rõ
hơn ở sự tác động của các yếu tố ngoại cảnh và đặc tính di truyền đến sự
tích luỹ tinh dầu của mỗi loài. Hàm lượng eugenol và cinnamaldehyt
chiếm tỷ lệ cao rất có ý nghĩa trong quá trình chuyển hóa để tổng hợp gia vị,
dược phẩm và mỹ phẩm,.
Tổng hợp kết quả phân tích 22 mẫu tinh dầu ở các bộ phận lá, cành,
vỏ, hoa, rễ thuộc 14 loài trong chi Quế (Cinnamomum). Hàm lượng tinh
dầu biến động từ 0,1-3,0% trọng lượng tươi. Tinh dầu đều có màu vàng
đến vàng nhạt, phần lớn tinh dầu các loài nhẹ hơn nước, trừ loài Quế thanh
23
(C. cassia) là có tinh dầu nặng hơn nước. Các thành phần hóa học được
phần chính được tìm thấy trong cả 5 mẫu nghiên cứu với hàm lượng tương
ứng là Z-citral (32,9-66,1%), sabinen (1,4-17,6%), limonen (1,5-13,6%).
Kết quả nghiên cứu cho thấy đã có sự khác biệt đáng kể về sự phân bố hàm
lượng và thành phần hoá học tinh dầu ở các bộ phận khác nhau trong cùng
một loài.
24
Hàm lượng tinh dầu ở lá đạt 1,0% trọng lượng tươi với 43 hợp chất
được xác định, chiếm 87,8% tổng lượng tinh dầu. Các hợp chất chính là
Z-citral (32,9%), sabinen (14,2%), linalool (9,5%) và limonen (9,2%). Ở
cành, hàm lượng tinh dầu đạt 0,8% trọng lượng tươi với 30 hợp chất được
xác định, chiếm 95,4% tổng lượng tinh dầu. Thành phần chính của tinh
dầu là Z-citral (38,1%), sabinen (17,6%) và α-pinen (6,0%). Tinh dầu
trong quả, hàm lượng đạt 2,0% trọng lượng tươi với 31 hợp chất được xác
định, chiếm 99,1% tổng lượng tinh dầu. Thành phần chính của tinh dầu
gồm: Z-citral (66,1%) và limonen (7,0%). Từ vỏ, hàm lượng tinh dầu đạt
1,5% trọng lượng tươi với 28 hợp chất được xác định, chiếm 99,0% tổng
lượng tinh dầu. Trong đó, Z-citral (53,2%), sabinen (10,2%) và limonen
(13,2%) là các thành phần chính. Với rễ thì hàm lượng tinh dầu đạt 1,0%
trọng lượng tươi với 32 hợp chất được xác định, chiếm 96,8% tổng lượng
tinh dầu. Thành phần chính của tinh dầu là Z-citral (59,9%) và limonen
(13,6%). Để thấy được sự khác nhau giữa các thành phần hóa học chính của
tinh dầu ở các bộ phận của loài Màng tang (L. cubeba) phân bố ở VQG Bạch
Mã, kết quả nghiên cứu được so sánh với các công trình trong và ngoài nước,
Các mẫu nghiên cứu của tác giả ở Bạch Mã thì thành phần hoá học tinh dầu
được đặc trưng bởi Z-citral; trong khi đó, mẫu ở Trung Quốc tinh dầu của
lá, hoa và quả được đặc trưng bởi (Z)-α-ocimen, sabinen, limonen và
limonol; tinh dầu của lá và quả ở Ấn Độ là α-pinen và geranial. Ở 3 mẫu
tinh dầu từ lá và quả phân bố ở các khu vực khác của Việt Nam được đặc
trưng bởi 1,8-cineol, sabinen, linalool, geranial và cis-ocimen, còn 5 mẫu
tinh dầu của quả ở các khu vực khác nhau lại được đặc trưng bởi Z-citral;