Vận dụng tiếp cận hệ thống để thiết kế và dạy học bài ôn tập chương phần Sinh học vi sinh vật Sinh học 10 nâng cao - Pdf 31

1

PHẦN I: MỞ ĐẦU
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Thế giới khách quan ngày nay trên Trái Đất bao gồm toàn là các hệ thống có
cấu trúc, tính chất và quy mô rất khác nhau, từ những hệ thống vô cơ đơn giản cho
đến các hệ thống xã hội nhân văn phức tạp. Các hệ thống xuất hiện, tiến hóa, suy
thoái, tan rã... theo những quy luật riêng. Tuy nhiên, con người nhận diện và hiểu
biết về hệ thống lại rất muộn.
Sự nhận diện các hệ thống khá muộn màng là hệ quả của một quá trình lâu
dài mà khoa học đã kiên trì việc chia nhỏ sự vật để nhận thức (tư duy phân tích), từ
đó mà hình thành ra các lĩnh vực chuyên ngành và các chuyên gia có chuyên môn
sâu về một lĩnh vực hẹp.
Năm 1940 đánh dấu sự xuất hiện của tiếp cận hệ thống với công trình của
nhà sinh vật học người Áo có tên là Ludwig von Bertalanffy đó là “Học thuyết
chung về hệ thống”. Ông cho rằng “Hệ thống là một tổng thể, duy trì sự tồn tại bằng
sự tương tác giữa các tổ phần tạo nên nó”.
Học thuyết của Bertalanffy chỉ rõ cách thức đúng đắn mà con người xây
dựng khái niệm về thực tại xung quanh mình, đồng thời cũng là một tiếp cận sắc sảo
để giải quyết các vấn đề được đặt ra. Tiếp cận hệ thống không chỉ sử dụng kiến thức
chuyên sâu của một ngành khoa học, mà còn sử dụng kiến thức đa ngành và liên
ngành. Ở đâu có sự đa dạng kiến thức khoa học được sử dụng chồng chập trong
cùng một hệ phương pháp để giải quyết cùng một vấn đề, ở đó tiếp cận hệ thống
được ứng dụng và phát triển.
K. Mark và S. Đacuyn là những người có công lao to lớn và thành công trong
việc vận dụng tiếp cận hệ thống vào nghiên cứu đối tượng phức tạp trong tự nhiên
và xã hội, xây dựng thành những khoa học quan trọng. Nhiều nhà khoa học vận
dụng tiếp cận hệ thống như là phương pháp luận trong nghiên cứu và dạy học SH,
tiêu biểu là Papvlốp, I.I VaViLop, V. N Xucatsov, I.I Vernadxki, W.Voigt, P.I
Gupalô, K.M.Khailôp, A.A Marilôpxki,V.A. Alêcxâyep…
Ở Việt Nam, năm 1999, tác giả Dương Tiến Sỹ đã vận dụng tiếp cận hệ

thống
3.2. Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy học Sinh học 10 THPT.
4. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Nếu vận dụng quan điểm tiếp cận hệ thống vào thiết kế và dạy học các bài ôn
tập chương phần sinh học Vi sinh vật Sinh học 10 (Nâng cao) sẽ góp phần nâng cao
chất lượng dạy học bộ môn, đồng thời phát triển cho học sinh kỹ năng tư duy hệ
thống.
5. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
- Nghiên cứu cơ sở lý thuyết về hệ thống, tiếp cận hệ thống, vận dụng tiếp
cận hệ thống trong dạy học Sinh học.
- Điều tra thực trạng nhận thức của giáo viên dạy Sinh học THPT về tính hệ
thống của chương trình, vận dụng tiếp cận hệ thống vào dạy học Sinh học.
- Xác định mục tiêu dạy học, phân tích nội dung các chương, phần sinh học
Vi sinh vật theo tiếp cận hệ thống.


3

- Nghiên cứu đề xuất logic cấu trúc và quy trình thiết kế bài ôn tập các phần
sinh học Vi sinh vật, Sinh học 10 nâng cao theo tiếp cận hệ thống.
- Thiết kế bốn bài ôn tập chương phần sinh học Vi sinh vật theo tiếp cận hệ
thống.
- Đề xuất quy trình tổ chức dạy học bài ôn tập chương theo quan điểm tiếp
cận hệ thống.
- Vận dụng quy trình để tổ chức dạy học bài ôn tập chương phần III – Sinh
học Vi sinh vật, Sinh học 10 nâng cao.
- Thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng giả thuyết.
6. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
6.1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

- Trung bình cộng:

X =

1
n

- Phương sai:

S2 =

1
X i  X 2 ni

n 1

X n

i i

- Độ lệch chuẩn S (đo mức độ phân tán của số liệu quanh giá trị trung bình):
S= 

1
 Xi  X
n 1



n

n1 n 2

Trong đó:
Xi: Giá trị của từng điểm số (theo thang điểm 10).
n i: Số bài có điểm Xi.
X 1 , X 2 : Điểm số trung bình của 2 phương án: thực nghiệm và đối

chứng.
n 1, n2: Số bài trong mỗi phương án.
S12 và S 22 là phương sai của mỗi phương án.

Sau khi tính được td, ta so sánh với giá trị t được tra trong bảng phân phối
Studen với mức ý nghĩa  =0,05 và bậc tự do f= n1+n 2-2.
+ Nếu td  t: Sự khác nhau giữa X 1 và X 2 là có ý nghĩa thống kê.
+ Nếu td  t: Sự khác nhau giữa X 1 và X 2 là không có ý nghĩa thống
kê.


5

7. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI
- Góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận về hệ thống, tiếp cận hệ thống, vận dụng
tiếp cận hệ thống trong dạy học Sinh học.
- Bước đầu đánh giá được thực trạng nhận thức của giáo viên Sinh học THPT
ở một số trường về tiếp cận hệ thống, khả năng vận dụng tiếp cận hệ thống trong
dạy học Sinh học.
- Phân tích nội dung sinh học 10 nâng cao và phần sinh học Vi sinh vật theo
logic cấu trúc hệ thống, làm cơ sở để thiết kế bài ôn tập chương phần sinh học Vi
sinh vật.
- Đề xuất logic cấu trúc vào quy trình thiết kế bài ôn tập chương phần sinh

cận hệ thống vào việc xây dựng các giáo trình sinh học như: K. Mark và S.
Đacuyn.... Họ là những người có công lao to lớn và thành công trong việc vận dụng
tiếp cận hệ thống vào nghiên cứu đối tượng phức tạp trong tự nhiên và xã hội, xây
dựng thành những khoa học quan trọng. Nhiều nhà khoa học vận dụng tiếp cận hệ
thống như là phương pháp luận trong nghiên cứu và dạy học sinh học, tiêu biểu là
Papvlốp, I.I VaViLop, V. N Xucatsov, I.I Vernadxki, W.Voigt, P.I Gupalô,
K.M.Khailôp, A.A Marilôpxki,V.A. Alêcxâyep…
1.1.2. Ở Việt Nam
Đã có nhiều tác giả nghiên cứu và xuất bản các công trình khoa học về lí
thuyết hệ thống như: Hoàng Tụy (1987) với “Phân tích hệ thống và ứng dụng”;
Trần Đình Long (1999) với “Lí thuyết hệ thống”; Nguyễn Văn Thanh (2000) với tác
phẩm, “Sự hình thành và phát triển lí thuyết hệ thống”; Nguyễn Đình Hòe – Vũ Văn
Hiếu (2007) viết tác phẩm “Tiếp cận hệ thống trong môi trường và phát triển”..…
Lí thuyết hệ thống cũng đã được vận dụng trong lĩnh vự nghiên cứu sinh học
và xây dựng các giáo trình sinh học, xây dựng các đề tài luận án như: “Những vấn


7

đề cải cách giáo trình sinh học đại cương trường phổ thông nước Việt Nam dân chủ
cộng hòa” (Nguyễn Như ất, 1973); “Tiếp cận hiện đại hoạt động dạy học” (Đỗ
Ngọc Đạt, 1997); “Giáo dục môi trường qua dạy học Sinh thái học” (Dương Tiến
Sỹ, 1999), “Sử dụng tiếp cận hệ thống hình thành khái niệm trong chương trình sinh
học 11” (Đỗ Thị Hà, 2002).... Đặc biệt, trong việc xây dựng chương trình và sách
giáo khoa THPT hiện nay của Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã vận dụng phương
pháp tiếp cận hệ thống…
Tuy nhiên, chưa có tác giả nào vận dụng tiếp cận hệ thống để dạy bài ôn tập
chương phần Sinh học Vi sinh vật, Sinh học 10 nâng cao THPT.
1.2. CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.2.1. Lí thuyết hệ thống

Nhìn chung, mọi sự vật - hiện tượng đều tồn tại trong những hệ thống nhất
định, có nghĩa là các hệ thống tồn tại một cách khách quan. Tuy nhiên, định nghĩa
khái niệm hệ thống lại mang tính chủ quan tuỳ theo từng cách tiếp cận, điều đó giải
thích tại sao có nhiều cách định nghĩa khác nhau về hệ thống.
Tuy có nhiều cách định nghĩa khác nhau về “hệ thống” nhưng những định
nghĩa đó đều có những điểm chung đó là tập hợp những yếu tố liên hệ chặt chẽ
với nhau và tương tác với môi trường bên ngoài để tạo thành một chỉnh thể toàn
vẹn. Điều cơ bản nhất của hệ thống đó là các yếu tố liên hệ và quan hệ với nhau
theo những quy luật xác định của tự nhiên. Chính những mối quan hệ này đã tạo
nên những tính chất khác nhau của các hệ thống.
Như vậy có thể định nghĩa một cách khái quát, hệ thống là tập hợp các phần
tử có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, có sự tác động chi phối lên nhau và tương tác
với môi trường bên ngoài theo những quy luật nhất định để trở thành một chỉnh thể;
làm xuất hiện những thuộc tính mới của hệ thống mà những thuộc tính này không
thể có ở từng yếu tố riêng lẻ.
1.2.1.2. Những tính chất cơ bản của hệ thống
Theo Đinh Quang Báo (năm 2006 - Một số vấn đề về phương pháp giảng
dạy sinh học) các phần tử trong hệ thống đã liên hệ với nhau tạo nên những tính
chất cơ bản của hệ thống, đó là:
- Tính ổn định tương đối: Cơ cấu của hệ thống có tính ổn định tương đối
trong một thời điểm xác định. Trong một phạm vi nhất định, tính ổn định này sẽ tạo
ra một trật tự bên trong của các phần tử, điều đó làm cho cơ cấu được coi như một
tổ chức, một trật tự của các phần tử - một chỉnh thể thống nhất tạo ra “thế năng của
hệ thống”.
- Tính cân bằng động: Sự tác động của các phần tử tạo ra sự cân bằng của
hệ thống. Nhưng cơ cấu của hệ thống luôn luôn biến đổi, tạo ra “động năng” của hệ
thống, bắt đầu từ sự thay đổi của các quan hệ giữa các phần tử, các bộ phận, các
phân hệ trong khuôn khổ của cơ cấu cũ; đến một mức độ nào đó sẽ làm cho cơ cấu
thay đổi, nó chuyển sang một trạng thái khác về chất hoặc trở thành một cơ cấu
khác.

không phát hiện ra các mối quan hệ cơ bản và chủ chốt. Tư duy hệ thống phải làm
sao để quy cái phức tạp thành cái đơn giản hơn nhưng cốt lõi hơn, đơn giản hóa
những cái phức tạp.
Đặc điểm chủ yếu của tư duy hệ thống là ở cái nhìn toàn thể và do cách nhìn
toàn thể mà thấy được những thuộc tính hợp trội của hệ thống. Hợp trội là sản phẩm
của tương tác, qua tương tác mà có cộng hưởng tạo nên những giá trị cao hơn tổng
gộp đơn giản các giá trị thành phần. Để tạo nên những thuộc tính gộp trội có chất
lượng cao của hệ thống thì phải can thiệp vào quan hệ tương tác, chứ không phải
vào hành động của các thành phần.
Tính mở là một thuộc tính cốt lõi của tư duy hệ thống. Các hệ thống trong tự
nhiên là các hệ mở, nghĩa là có tương tác với môi trường. Để hiểu được một hệ
thống đang phát triển, điều hết sức quan trọng là phải hiểu được các mối tương tác
với môi trường trong trạng thái động và luôn nhớ rằng trong môi trường có những


10

yếu tố con người có thể điều khiển được, nhưng có rất nhiều yếu tố không thể điều
khiển được.
1.2.3. Các phương pháp tiếp cận hệ thống
Theo Nguyễn Đình Hòe - Vũ Văn Hiếu (2007 - Tiếp cận hệ thống trong môi
trường và phát triển), có hai hướng tiếp cận vấn đề khi thực hiện các nghiên cứu
trong thực tế, tiếp cận dựa trên các thành tố và tiếp cận dựa trên tổng thể. Có các
phương pháp tiếp cận hệ thống như sau :
1.2.3.1. Hộp đen và những rủi ro
Nếu nhìn nhận một hệ thống hay hệ thống phụ (phụ hệ) như một "hộp đen",
bước đầu các thành tố và các mối quan hệ bên trong hệ thống tạm thời sẽ không
được xem xét, một hộp đen do đó có tính chất của một thành tố. Nói cách khác, hệ
thống sẽ chỉ được xem xét từ bên ngoài.
Phần lớn các hệ thống trong tự nhiên là các hệ thống mở nên chúng có sự

Cấu tạo
TOÀN THỂ

BỘ PHẬN

Hệ thống

Cấu trúc

Bảng 1.1. So sánh các điểm đặc trưng của hai cách tiếp cận phân tích và tổng hợp
Tiếp cận phân tích

Tiếp cận tổng hợp

Cô lập, tập trung vào từng thành tố

Hợp nhất và tập trung vào tương tác giữa
các thành tố.

Nghiên cứu bản chất của tương tác

Nghiên cứu các tác động của tương tác

Nhấn mạnh vào tính chính xác của các
chi tiết

Nhấn mạnh vào nhận thức chung

Thay đổi từng yếu tố


tiết

Dẫn tới hành động được xác định thông
qua các mục tiêu.

Sở hữu các chi tiết ít xác định mục tiêu

Sở hữu các kiến thức về mục tiêu, các chi
tiết không thể hiện rõ ràng.
Theo Rosnay (1979).


12

1.2.3.3. Mô hình và mô phỏng
Xây dựng mô hình và mô phỏng là phương pháp được sử dụng rộng rãi nhất
trong tiếp cận hệ thống. Được xây dựng như một phần của cách tiếp cận phân tích,
mô hình là sự hợp nhất các thành tố chính của hệ thống để xem xét hành vi của hệ
thống như một tổng thể - bằng cách đề cập thật nhiều (đến mức có thể) đến sự phụ
thuộc qua lại giữa các yếu tố.
Cách nhìn của chúng ta về thế giới là một dạng mô hình. Tất cả các hình ảnh
trong tư duy của chúng ta đều là một hệ thống mờ nhạt không hoàn chỉnh và được
sử dụng làm nền tảng ra quyết định.
Khi nghiên cứu các hệ thống phức tạp với một số lượng lớn biến, việc xây
dựng các mô hình tương đồng đơn giản là không phù hợp. Nếu không có sự trợ giúp
của máy tính và các hệ thống mô phỏng, chúng ta không thể làm cho hệ thống trở
nên sống động. Sự mô phỏng có thể làm cho hệ thống trở nên sống động bằng cách
đưa vào đồng thời tất cả các biến của hệ thống.
Xây dựng mô hình là thiết lập một mô hình từ các dữ liệu có từ giai đoạn
phân tích hệ thống. Đầu tiên một sơ đổ hoàn chỉnh về các mối quan hệ nhân quả

Tuy nhiên, một trong số các nhược điểm của mô phỏng là sự lựa chọn tự do
các biến, người sử dụng có thể thay đổi các điều kiện ban đầu chỉ để "xem điều gì sẽ
xảy ra", dẫn đến lạc lối trong vô số các biến số.
1.2.3.4. Tiếp cận hệ thống trong tập quyết định
Tiếp cận hệ thống hiện nay nhìn chung vẫn còn giữ một vai trò nhỏ bé trong
việc lập các quyết định về môi trường và phát triển. Ví dụ, trong rất nhiều vấn đề
quản lý tài nguyên và ô nhiễm, người ta thường đơn giản hóa đến mức coi sự phản
ứng của các hệ là tuyến tính mặc dù trên thực tế là phi tuyến. Nhận thức về tác dụng
của những biến động lâu dài và chậm chạp, ví dụ các tai biến tiềm ẩn thường không
đủ mức, và các yếu tố của hệ thống thường được phân tích tách rời mà đáng lẽ phải
coi chúng như những bộ phận hữu cơ của một cơ thể thống nhất.
Các hệ phức tạp có thể tạo ra các kết quả vừa phụ thuộc vào các tương tác rất
đa dạng, vừa có tính nhạy cảm cao đối với các điều kiện xuất phát và trọng số của
các yếu tố. Ngoài ra, một số nhóm hệ thống phức tạp sẽ có hành vi nhiễu loạn trong
một số điều kiện nào đó, và các hệ thống nhiễu loạn, trên nhiều phương diện, lại
phổ biến hơn là các hệ có tính ổn định cao.
Tuy nhiên, cũng đã có những cố gắng nhằm sử dụng tư duy hệ thống vào
việc quản lý, bao gồm hai tiếp cận: tiếp cận cứng và tiếp cận mềm.
 Tiếp cận cứng
Tiếp cận cứng dành cho các hệ thống mà mục tiêu, cấu trúc là rõ ràng.Về cơ
bản, tiếp cận cứng gồm một chuỗi các bước giải quyết vấn đề:
(l) Xác định vấn đề: xác định vấn đề và những việc cần làm.
(2) Lựa chọn mục tiêu: xác định những yêu cầu nhằm đạt được mục tiêu, xây
dựng các giải pháp hiệu quả nhằm tạo cơ sở đối sánh giữa các phương án chiến
lược.
(3) Tổng hợp hệ thống: xác định các hệ thống thay thế có thể có.
(4) Phân tích hệ thống: phân tích và lượng giá các hệ thống được giả định,
dưới ánh sáng của các mục tiêu.
(5) Lựa chọn hệ thống: lựa chọn hệ thống có hứa hẹn nhất.
(6) Phát triển hệ thống: phát triển hệ thống đã chọn đến giai đoạn mô hình hóa.

Sẽ nảy sinh nhiều vấn đề khi tiếp cận cứng được sử dụng cho hệ mở, nhất là
các hệ sinh thái nhân văn. Tiếp cận cứng nhằm vào việc cung cấp giải pháp cho một
vấn đề đã xác định rõ và do đó mà tất cả các yếu tố nhìn chung đã được cho trước.
Tuy nhiên, đối với các hệ mở, thì điều thường thiếu nhất lại chính là mục tiêu, mà
Merton (1965) đã gọi là "Sự tìm kiếm những giải pháp hùng mạnh cho một mục
đích không thể xác minh được" [3].
 Tiếp cận mềm
Đối với các hệ thống mở, tiếp cận hệ thống chỉ được coi là sự đóng góp vào
việc giải quyết vấn đề, hơn là phương pháp luận nhằm trực tiếp vào mục tiêu.
Tiếp cận này áp dụng cho tất cả các tình huống khi mà tự thân nhiệm vụ


15

không thể xác định một cách toàn diện và khách quan. Trong khi tiếp cận cứng có
thể dược sử dụng để giải quyết các vấn đề có cấu trúc mạch lạc, thì tiếp cận mềm lại
thích hợp với các vấn đề không được cấu trúc mạch lạc. Với các vấn đề không có
cấu trúc, thì ngay cả định nghĩa của vấn đề và thiết kế mục tiêu tự chúng cũng thiếu
mạch lạc. Khi mà việc xác định vấn đề còn phụ thuộc vào quan điểm được chấp
nhận, thì điều cốt yếu là phải làm cho quan điểm ấy trở nên rõ ràng, dứt khoát, và
tiếp đó là thiết lập kết quả của hệ thống từ đó.
Điều đó cũng có nghĩa là kết quả chính xác của các giai đoạn phân tích tình
huống và triển khai giải pháp không thể được duy trì mãi. Đó là vì tự thân vấn đề
thường đòi hỏi, phải được tái xác định trong suất quá trình, và cũng cần thiết phải
được chuẩn bị để trở lại giai đoạn đầu tiên, và tốn nhiều thời gian để tái xét vấn đề.
Thậm chí có thể là ngay cả khách hàng mà vấn đề được giải quyết vì họ, cũng cần
được tái xác định như là một phần của quá trình này. Hệ thống có sự tham gia của
con người luôn luôn có tính đa giá trị.
Các giai đoạn của tiếp cận mềm là:
(1) Điểm qua (tổng quan) về hiện trạng các vấn đề không có cấu trúc rõ rệt

thông tin với môi trường.
Hệ sống luôn có xu hướng tự điều chỉnh để tạo ra trạng thái cân bằng tương
đối trong một môi trường xác định vào những thời điểm nhất định. Trạng thái cân
bằng đó là trạng thái cân bằng động, vì môi trường của các hệ sống thường xuyên
biến đổi.
Hệ thống sinh giới tồn tại ở các cấp độ tổ chức từ nhỏ đến lớn, từ cấp độ
phân tử đến hệ sinh thái và sinh quyển. Trong đó các bộ phận của hệ thống lớn có
thể trở thành toàn thể của hệ thống ở cấp độ nhỏ hơn. Phân tử  Tế bào  Cơ thể
 Quần thể - loài  Quần xã - hệ Sinh thái  Sinh quyển
Tiếp cận cấu trúc được thể hiện trong việc xây dựng chương trình và sách
giáo khoa Sinh học THPT
Chương trình sách giáo khoa Sinh học THPT bao gồm: Sinh học 10 nghiên
cứu đến cấp độ tổ chức tế bào và cơ thể đơn bào, Sinh học 11 nghiên cứu cấp độ tổ
chức cơ thể và Sinh học 12 nghiên cứu các cấp độ tổ chức trên cơ thể (quần thể,
quần xã, sinh quyển).
Tóm lại: Lý thuyết hệ thống ra đời đã có nhiều ứng dụng trong các lĩnh vực
khác nhau của đời sống xã hội. Tiếp cận cấu trúc hệ thống là một phương pháp đã
mang lại hiệu quả cao trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu khoa học, đặc biệt là khoa
học Sinh học nhằm tìm ra những quy luật bản chất của sự sống. Tiếp cận cấu trúc hệ
thống đã góp phần nâng cao hiệu quả dạy học các môn học ở trường phổ thông nói
chung và trong dạy học Sinh học nói riêng.
1.3. CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.3.1. Điều tra thực trạng về hiểu biết và vận dụng tiếp cận hệ thống
trong dạy học của giáo viên Sinh học THPT
1.3.1.1. Cách tiến hành
Chúng tôi đã điều tra hiểu biết về quan điểm hệ thống và vận dụng tiếp cận
hệ thống trong dạy học Sinh học bằng phiếu điều tra với các câu hỏi trắc nghiệm và
câu hỏi mở [xem phiếu điều tra số 1 - phụ lục 1]. Ngoài ra, chúng tôi cũng đã điều



xuyên

22(55%)

9(22.5%)

4(10%)

Hiểu rõ
9 (22.5%)

Vận dụng tiếp cận hệ thống
Không
thường
xuyên
5(12.5%)

Không vận
dụng
31(77.5%)

Qua bước đầu khảo sát sự hiểu biết của giáo viên về tiếp cận hệ thống và vận
dụng tiếp cận hệ thống trong dạy học Sinh học chúng tôi rút ra một số nhận xét sau:
Chỉ có 9/40 (22,5%) số GV được điều tra trả lời hiểu rõ về phương pháp tiếp cận hệ
thống, 22/40 (55%) GV là chỉ nghe về khái niệm này nhưng không rõ và 9/40
(22.5%) GV trả lời không biết về phương pháp tiếp cận hệ thống. Như vậy, rõ ràng
là đối với các GV được điều tra, khái niệm tiếp cận hệ thống là tương đối xa lạ và
mới mẻ, hoặc cũng có thể trong quá trình dạy học họ có vận dụng phương pháp này
nhưng không biết cách gọi tên phương pháp.



4(10%)

5(12.5%)

5(12.5%)

4(10%)

Không
ôn tập

22(55%)


18

Về thực hiện tiết ôn tập sau mỗi chương, qua trao đổi với giáo viên chúng tôi
thấy rằng nguyên nhân chủ yếu của việc không ôn tập hoặc ôn tập không thường
xuyên là do không có trong phân phối chương trình, không đủ thời gian cho ôn tập.
Vì vậy tỉ lệ giáo viên ôn tập thường xuyên theo từng chương còn rất thấp (22.5%), tỉ
lệ GV không ôn tập sau mỗi chương còn khá cao(55%). Một số giáo viên có thể ôn
tập được sau mỗi chương là do vận dụng linh hoạt như sử dụng bài ôn tập vào tiết
thực hành (qua trao đổi với GV cho thấy ở các trường không có phòng thí nghiệm
hoặc có phòng thí nghiệm nhưng không có đầy đủ hóa chất và dụng cụ thí nghiệm),
tranh thủ thời gian của tiết cuối chương hoặc đầu chương mới…
Về phương pháp ôn tập do chưa ý thức đầy đủ tiếp cận hệ thống được vận
dụng trong phần sinh học Vi sinh vật, phần lớn giáo viên vẫn sử dụng PP truyền
thống như thuyết trình- giảng giải để dạy các bài ôn tập. Các phương pháp tích cực
cũng được sử dụng nhưng hiệu quả DH không cao một phần do GV còn lúng túng

19

Bảng 1.5. Thời lượng phần sinh học Vi sinh vật, Sinh học 10 nâng cao
Nội dung

Số tiết

Chương I: Chuyển hóa vật chất và năng lượng ở Vi sinh vật

4

Chương II: Sinh trưởng và phát triển ở Vi sinh vật
Chương III: Virut - Bệnh truyền nhiễm
Ôn tập

6
5
0

Tổng số tiết

15

Như vậy phần sinh học Vi sinh vật không có bài ôn tập, điều này gây không
ít khó khăn cho giáo viên trong việc ôn tập cho HS ở cuối mỗi chương.
1.3.4.2. Về nội dung
Chương

Chương I: Chuyển
hóa vật chất và

ứng dụng của virut.
- Trình bày được một số khái niệm bênh truyền nhiểm,
miễn dịch, intefêron, các phương thức lây truyền bệnh
truyền nhiễm và cách phòng tránh.


20

CHƯƠNG 2: VẬN DỤNG TIẾP CẬN HỆ THỐNG TRONG THIẾT KẾ VÀ
DẠY HỌC BÀI ÔN TẬP CHƯƠNG PHẦN SINH HỌC VI SINH VẬT – SINH
HỌC 10 NÂNG CAO
2.1. NHỮNG QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO VIỆC THIẾT KẾ BÀI ÔN TẬP
CHƯƠNG THEO PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN HỆ THỐNG
2.1.1. Vận dụng phương pháp tiếp cận hệ thống để phân tích nội dung
phần Sinh học Vi sinh vật
Phần Sinh học Vi sinh vật thuộc cấp độ tổ chức tế bào/cơ thể đơn bào, phần
này cũng là bản lề để học tiếp nội dung Sinh học cơ thể đa bào ở Sinh học 11. Vi
sinh vật không phải là một nhóm riêng biệt trong sinh giới, chúng thậm chí thuộc về
nhiều giới (kingdom) sinh vật khác nhau chúng có chung những đặc điểm sinh học
sau đây: Kích thước nhỏ bé, hấp thụ nhiều chuyển hóa nhanh, sinh trưởng nhanh
phát triển mạnh, năng lực thích ứng mạnh và dễ phát sinh biến dị, phân bố rộng
chủng loại nhiều.
Phần Sinh học Vi sinh vật, nội dung kiến thức thể hiện ba đặc trưng cơ bản
của cấp độ tổ chức sống ở cấp độ cơ thể đơn bào đó là chuyển hóa: Chương I:
Chuyển hóa vật chất và năng lượng ở Vi sinh vật, Chương II: Sinh trưởng và phát
triển ở Vi sinh vật. Còn Chương III: Virut - Bệnh truyền nhiễm, Virut thực chất
chưa được xem là cơ thể sống nhưng nó được ứng dụng nhiều trong thực tiễn, do
vậy chương này thể hiện ứng dụng của vi sinh vật trong thực tiễn đời sống và cách
phòng chống các bệnh do virut gây ra.
Trong mỗi chương, nội dung được sắp xếp theo logic hệ thống.

Chương III bao gồm các nội dung kiến thức như: cấu trúc của virut, phân
loại virut, Sự nhân lên của virut, các bệnh truyền nhiễm và miễn dịch. Các nội dung
này thể hiện mối quan hệ với nhau rất chặt chẽ, việc phân loại virut phải dựa vào
cấu tạo của nó, để hiểu được sự nhân lên của virut cũng cần hiểu về cấu trúc và
phân loại. Biết được cấu trúc và sự nhân lên của virut thì mới hiểu được cách lan
truyền bệnh của nó và cách phòng chống các bệnh do virut gây ra. Nội dung kiến
thức của chương có thể khái quát theo sơ đồ sau:


23

Sơ đồ 3. Virut và bệnh truyền nhiễm
2.1.2. Vận dụng tiếp cận hệ thống thiết kế và dạy học bài ôn tập chương
Theo hướng tiếp cận vấn đề khi thực hiện các nghiên cứu trong thực tế, tiếp
cận dựa trên các thành tố và tiếp cận dựa trên tổng thể, cùng với việc tham khảo ý
kiến của các giáo viên có nhiều kinh nghiệm, chúng tôi vận dụng tiếp cận hệ thống
để thiết kế và dạy học các bài ôn tập chương theo các bước:
Tổng quan về nội dung của chương được vận dụng ở phần đầu bài ôn tập
chương. GV giới thiệu nội dung khái quát của phần hoặc chương, đặt ra các yêu cầu
nghiên cứu cho mỗi phần hoặc chương bằng sơ đồ graph, nội dung (bản đồ khái
niệm dạng phân nhánh).


24

Phân tích cấu trúc được vận dụng ở phần giữa bài ôn tập chương bằng các sơ
đồ, bảng biểu nội dung. Phân tích cấu trúc để HS hiểu được các khái niệm, mô tả
cấu trúc và chức năng của mỗi thành phần trong hệ thống…
Tổng hợp hệ thống được vận dụng vào phần cuối bài ôn tập chương. Tổng
hợp hệ thống giúp HS thấy được mối quan hệ giữa các thành phần trong hệ thống


Miễn dich

Lõi

Miễn dịch đặc hiệu

ADN

Miễn dịch không đặc hiệu

ARN

Inteferon


25

- Xác lập mối quan hệ: Sử dụng hệ thống câu hỏi xác lập mối quan hệ của
các khái niệm.
GV yêu cầu HS thiết lập mối quan hệ giữa các khái niệm vừa nêu và phân
tích bộ phận các khái niệm chính để thành lập BĐKN về Virut và bệnh truyền
nhiễm thông qua các câu hỏi định hướng sau:
- Virut là gì?
- Phân tích cấu trúc của Virut? Vai trò của mỗi thành phần cấu trúc?
- Các tiêu chí phân loại Virut và các loại Virut?
-

Phân biệt các loại cấu trúc của Virut? Nêu ví dụ cho mỗi loại cấu trúc?
Các giai đoạn nhân lên của Virut trong tế bào vật chủ?


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status