Xây dựng và sử dụng phiếu học tập vào tổ chức hoạt động học tập của học sinh trong dạy học chương i, sinh học 12 THPT - Pdf 31

Khóa luận tốt nghiệp

Khoa: Sinh - KTNN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI II
KHOA SINH – KTNN

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI: XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG PHIẾU HỌC TẬP VÀO TỔ
CHỨC HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA HỌC SINH TRONG DẠY
HỌC CHƯƠNG I, SINH HỌC 12 – THPT

SVTH: VŨ THỊ THU THUỶ
GVHD: THS. ĐỖ THỊ TỐ NHƯ

SVTH: Vũ Thị Thu Thủy

1

Lớp: 32 C - SP Sinh


Khóa luận tốt nghiệp

Khoa: Sinh - KTNN

LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đề tài này, không chỉ bằng nỗ lực bản thân mà còn nhờ sự
giúp đỡ của thầy, cô, gia đình và bạn bè. Vậy, lời đầu tiên:
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới cô Đỗ Thị Tố Như – giảng viên tổ

Để hoàn thành đề tài, tôi đã cố gắng và nỗ lực hết mình. Tuy nhiên, do lần
đầu tham gia vào quá trình nghiên cứu và năng lực bản thân có hạn nên đề tài
không tránh được những thiếu sót. Rất mong được sự quan tâm và đóng góp của
thầy, cô và các bạn sinh viên để đề tài hoàn thiện hơn.

Sinh viên
Vũ Thị Thu Thuỷ.

SVTH: Vũ Thị Thu Thủy

3

Lớp: 32 C - SP Sinh


Khóa luận tốt nghiệp

Khoa: Sinh - KTNN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Các văn bản pháp luật hiện hành về GD - ĐT (2001), cuốn 1, Nxb
Thống kê.
2. Đinh Quang Báo (1995), "Lý luận dạy học tích cực", Nxb Giáo dục.
3. Ngô Văn Hưng, Hoàng Thanh Hồng, Phan Bích Vân, Kiều Cẩm Nhung,
Nguyễn Thị Thu Trang, "Giới thiệu giáo án Sinh học 12", Nxb Giáo dục.
4. Nguyễn Ngọc Bảo (1995), "Phát triển tính tích cực tự lực của học sinh
trong quá trình dạy học", bộ Giáo dục và đào tạo.
5. Nguyễn Đức Thành, Nguyễn Văn Duệ, Dương tiến Sỹ, "Dạy học Sinh
học", Nxb Giáo dục.


PHT

Phiếu học tập

PTDH

Phương tiện dạy học

PPDH

Phương pháp dạy học

GV

Giáo viên

HS

Học sinh

Nu

Nucleotit

rNu

Ribonucleotit

ADN

MỤC LỤC

Trang
Lời cảm ơn
Lời cam đoan.
Bảng các kí hiệu viết tắt.
Phần một: MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài----------------------------------------------------------------------- 1
2. Mục đích nghiên cứu------------------------------------------------------------------ 3
3. Giả thiết khoa học--------------------------------------------------------------- ------ 3
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu-------------------------------------------------------3
5. Nhiệm vụ nghiên cứu------------------------------------------------------------------4
6. Phương pháp nghiên cứu--------------------------------------------------------------4
7. Đóng góp của đề tài--------------------------------------------------------------------5
Phần hai: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Dạy học tích cực
1.1.1.1. Quan niệm về dạy và học trong tình hình hiện nay-------------------------6
1.1.1.2. Phương pháp dạy học tích cực-------------------------------------------------7
1.1.1.3. Tính tích cực học tập và mối quan hệ với nhận thức------------------------9
1.1.2. Phương tiện dạy học
1.1.2.1. Khái niệm-----------------------------------------------------------------------12
1.1.2.2. Vị trí của PTDH trong quá trình dạy học-----------------------------------12
1.1.2.3. Vai trò của PTDH--------------------------------------------------------------13

SVTH: Vũ Thị Thu Thủy

6


SVTH: Vũ Thị Thu Thủy

7

Lớp: 32 C - SP Sinh


Khóa luận tốt nghiệp

Khoa: Sinh - KTNN
Phần một: MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài
Theo đánh giá của các nhà xã hội học, thế kỷ XXI là thế kỷ của sự bùng
nổ thông tin, của cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật, thế kỷ mà nền kinh tế
tri thức đóng vai trò chủ đạo, tri thức là sức mạnh và nguyên khí của một
quốc gia. Quốc gia nào đứng trên đỉnh cao của tri thức thì quốc gia đó phát
triển. Chính vì vậy, các quốc gia đều chú trọng vào việc tạo nên một cuộc cách
mạng trong giáo dục.
Việt Nam đang trên con đường hội nhập quốc tế. Nền kinh tế đang chuyển
dần từ cơ chế quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường. Trong giai đoạn này,
Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách, kế hoạch và những phương án
cụ thể để tạo nên những bước chuyển mình trong các lĩnh vực đời sống, văn hoá,
quốc phòng… Trong đó, sự chuyển biến trong giáo dục có vai trò quan trọng,
chi phối đến sự phát triển của các lĩnh vực khác. Vì vậy, trong quá trình phát
triển của xã hội thì giáo dục luôn phải đi trước một bước. Đó là một sứ mệnh
lịch sử.
Thực tế, trong sự nghiệp Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá đất nước, Đảng
và Nhà nước ta luôn thực hiện phương châm “ Coi giáo dục là quốc sách hàng
đầu”, nhân tố con người luôn được đặt ở vị trí trung tâm. Xã hội mới đòi hỏi

phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác
động đến tình cảm và đem lại niềm vui, hứng thú cho học sinh”.
Thực tế, không thể phủ nhận rằng nền giáo dục nước ta ở tình trạng thấp
kém trong một thời gian dài. Điều đó do nhiều nguyên nhân gây nên nhưng chủ
yếu là do ta duy trì nền giáo dục quan liêu, áp đặt trong thời gian dài. Phương
pháp chủ yếu là: thầy truyền đạt – trò nghe và ghi nhớ một cách máy móc. Ở
phương pháp này, người học bị động, không phát huy được tính tích cực học
tập, khó khăn trong việc nhận thức những kiến thức khó, trừu tượng. Vì vậy, HS
thiếu sự sáng tạo và kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Nền giáo dục
truyền thống là biểu hiện của tư duy sai lầm. Vì vậy, muốn có cuộc cách mạng
trong giáo dục thì cần phải có sự đổi mới tư duy giáo dục. Đó là sự thay đổi từ
PPDH truyền thống sang PPDH tích cực – Dạy học lấy HS làm trung tâm.
Trong DHTC, việc sử dụng PTDH là cần thiết bởi lẽ: PTDH dễ dàng
chuyển tải kiến thức, phát huy tính tích cực học tập của HS. Vì vậy, sử dụng
PTDH hợp lí sẽ nâng cao hiệu quả dạy học. Có nhiều PTDH khác nhau. Việc sử
dụng phương tiện nào vào dạy học phụ thuộc vào nhiều yếu tố: nội dung bài
học, đặc điểm môn học, khả năng nhận thức của HS và điều kiện thực tế tại
trường PT. Xét thấy rằng, PHT là PTDH có nhiều ưu điểm: dễ dàng tổ chức
hoạt động độc lập của HS; phát huy tính tích cực của người học; rèn luyện kỹ
năng học tập; kỹ năng xác định và giải quyết vấn đề. Đặc biệt, PHT là
phương tiện dễ thiết kế, dễ sử dụng và không tốn kém nên rất phù hợp với
điều kiện thực tế ở nước ta. Từ những thập niên 60, việc sử dụng PHT vào dạy
SVTH: Vũ Thị Thu Thủy

9

Lớp: 32 C - SP Sinh


Khóa luận tốt nghiệp


SVTH: Vũ Thị Thu Thủy

10

Lớp: 32 C - SP Sinh


Khóa luận tốt nghiệp

Khoa: Sinh - KTNN

5.1. Nghiên cứu lí luận của việc xây dựng và sử dụng PHT vào dạy học, làm cơ
sở lí luận cho đề tài.
5.2. Tìm hiểu thực trạng của việc xây dựng và sử dụng PHT vào dạy học tại một
số trường phổ thông, làm cơ sở thực tiễn cho đề tài.
5.3. Phân tích nội dung, xác định mục tiêu cụ thể cho chương I, Sinh học 12 để
làm cơ sở cho việc thiết kế PHT.
5.4. Bước đầu định hướng việc sử dụng hệ thống PHT đã thiết kế vào dạy học
chương I, Sinh học 12 - THPT nhằm nâng cao hiệu quả dạy học.
5.5. Thiết kế một số giáo án thuộc chương I, có sử dụng PHT làm PTDH.
5.6. Đánh giá về giá trị của hệ thống PHT đã thiết kế.
5.7. Hoàn thiện hệ thống PHT.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Nghiên cứu lí thuyết
- Tiến hành nghiên cứu tài liệu về các quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà
nước về đổi mới PPDH.
- Nghiên cứu tài liệu có liên quan đến DHTC và PHT làm cơ sở lí luận cho đề
tài: lí luận dạy học Sinh học, dạy học tích cực…
- Nghiên cứu nội dung SGK, tham khảo sách thiết kế, SGV Sinh học 12 và các

SVTH: Vũ Thị Thu Thủy

12

Lớp: 32 C - SP Sinh


Khóa luận tốt nghiệp

Khoa: Sinh - KTNN

Phần hai: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Chương I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1. 1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Dạy học tích cực
1.1.1.1. Quan niệm về " Dạy" và " Học" trong tình hình hiện nay
* Hoạt động học
Với yêu cầu của xã hội hiện nay thì việc “Học” được quan niệm như thế nào?
Thấy rằng: cơ sở để hình thành và phát triển giáo dục chính là người học. Giải
quyết các vấn đề giáo dục chính là giải quyết vấn đề học: mục đích, nội dung, phương
pháp và quản lí việc học. Khác với trước đây, ngày nay quan niệm “Học” quy định
“Dạy”. Thật vậy, đối tượng của giáo dục chính là người học. Người học phải là người
được “Đi học” chứ không phải là “Được dạy”. Người học phải từ năng lực cá nhân
tham gia vào việc tìm ra kiến thức cho mình, phải tự mình tìm ra cách học, cách hiểu.
Nếu như người học không đủ năng lực bản thân để tự học, tự biến đổi mình thì mục
tiêu đào tạo không thể thực hiện được. Ngược lại, nếu bản thân có cố gắng tự học thì
dù điều kiện có không đầy đủ vẫn có thể từng bước hình thành năng lực mới, phẩm
chất mới. Bác Hồ đã dạy:

“Cách học tập phải lấy tự học làm cốt. Việc học tập của mỗi người không

qua bài tập di truyền và biến dị”.
Năm 1974, công trình của Lê Nhàn: “ Kiểm tra nhận thức người học bằng
kiểm tra, đánh giá”.
Năm 1984 – 1995, có nhiều công trình nghiên cứu về tính tích cực của HS.
Năm 1990, bắt đầu cải cách nội dung SGK.
Năm 1990 – 1997, xây dựng chuyên ban.
12/ 1995, hội thảo về đổi mới PPDH theo hướng tích cực hoá hoạt động
của người học.
Năm 2000, xây dựng lại chương trình từ lớp 1 đến lớp 12.
Từ những năm 60 của thế kỷ XX, các nhà lý luận dạy học nước ta đã chú ý
đến việc sử dụng PHT vào tổ chức hoạt động độc lập của HS. Nhưng những
công trình nghiên cứu về PHT thì chưa nhiều. Tại trường ĐHSP Hà Nội 2, đã có
một số đề tài và khoá luận đề cập đến việc xây dựng và sử dụng PHT vào dạy
học một số chương của Sinh học 10, 11 và Sinh thái học 12. Chưa có công trình
nào xây dựng PHT vào phục vụ dạy học chương I, phần Di truyền học.
* Đặc trưng của PPDH tích cực.
PPDHTC là một hệ thống các phương pháp có những đặc trưng sau:
** Dạy học lấy HS làm trung tâm: DHTC đề cao vai trò của người học. HS vừa
là chủ thể, vừa là đối tượng của dạy học, tôn trọng lợi ích và nhu cầu của người
học. Phương pháp dạy học xuất phát từ nhu cầu, lợi ích và hứng thú của người
học. Mục tiêu dạy học không chỉ dừng ở việc giúp HS lĩnh hội kiến thức mà cần
chú trọng đến việc phát triển năng lực tư duy, tính chủ động và sáng tạo, phương
pháp tự học và tự nghiên cứu. DHTC yêu cầu cao về người dạy: là người cố vấn,
đạo diễn, trọng tài, là người tổ chức, hướng dẫn, tạo điều kiện để HS hoạt động

SVTH: Vũ Thị Thu Thủy

15

Lớp: 32 C - SP Sinh

là học tập nên dạy học cần chú trọng hơn đến việc hình thành tính tích cực học
tập cho các em.

SVTH: Vũ Thị Thu Thủy

16

Lớp: 32 C - SP Sinh


Khóa luận tốt nghiệp

Khoa: Sinh - KTNN

Theo Rebrova: “ Tính tích cực học tập của HS là một hiện tượng sư phạm,
thể hiện ở sự gắng sức cao về nhiều mặt trong quá trình học tập”.
Theo G.S Trần Bá Hoành: “ Tính tích cực học tập là trường hợp đặc biệt
của tính tích cực nhận thức. Tích cực nhận thức là trạng thái hoạt động của HS,
đặc trưng ở khát vọng học tập và sự cố gắng trí tuệ cũng như nghị lực cao trong
quá trình lắm vững kiến thức”.
** Biểu hiện của tính tích cực học tập.
- Bằng hành động.
HS khao khát, tự nguyện trả lời câu hỏi của GV hoặc bổ sung câu trả lời của
bạn.
HS hay thắc mắc, đòi hỏi phải được giải thích.
HS chủ động, vận dụng linh hoạt kiến thức và kỹ năng để nhận thức những
vấn đề mới.
Mong muốn được đóng góp với thầy, với bạn những thông tin mới ngoài bài
học.
- Bằng cảm xúc.

nội dung bài học.
* Mối quan hệ giữa tính tích cực học tập với nhận thức.
Các nhà lý luận dạy học đều khẳng định : “ Yếu tố nhận thức là cơ sở tâm
lý làm nảy sinh và duy trì tính tích cực học tập”.
Theo Comenxki: “ …Tạo ra tính tích cực nhận thức làm cho học tập ở
trường trở thành niềm vui…”.
TT. Rutxo khẳng định: “ …Việc lựa chọn phương pháp dạy học thích hợp
phải dựa trên hứng thú nhận thức của học sinh…”.
Uxinski cho rằng: “…Hứng thú nhận thức là cơ chế bên trong đảm bảo
cho hoạt động học tập hiệu quả…”
Các nhà lý luận day học ở nước ta thì khẳng định: “… Hứng thú nhận thức
là nhân tố có ý nghĩa quyết định trong quá trình thực hiện mục tiêu của từng bài
học và của cả sự nghiệp giáo dục…”.

SVTH: Vũ Thị Thu Thủy

18

Lớp: 32 C - SP Sinh


Khóa luận tốt nghiệp

Khoa: Sinh - KTNN

Như vậy, có tích cực học tập thì mới có quá trình nhận thức. Khi đã có
nhận thức thì tính tích cực học tập lại được tăng cường. Mối quan hệ giữa hai
yếu tố đó tạo nên tính hiệu quả trong học tập. Vì vậy, trong dạy học cần phát
huy tính tích cực của HS bằng việc tạo ra hứng thú nhận thức.
Điều kiện hình thành và duy trì hứng thú nhận thức: phải phát huy tối đa


Khóa luận tốt nghiệp

Khoa: Sinh - KTNN

Như vậy, PTDH là một yếu tố cấu thành của quá trình dạy học. Nó giúp
gắn kết các yếu tố của quá trình dạy học thành một chỉnh thể toàn vẹn. Sự có
mặt của PTDH giúp vận hành và thúc đẩy quá trình dạy học đạt kết quả cao.
1.1.2.3. Vai trò của PTDH.
Có thể tóm tắt vai trò của PTDH như sau:
PTDH giúp cho việc dạy học cụ thể hơn, trực quan hơn. Vì vậy, việc sử
dụng PTDH giúp HS dễ dàng tiếp thu kiến thức.Do đó, PTDH giúp rút ngắn
thời gian giảng giải của GV.
Với việc sử dụng PTDH, HS sẽ hứng thú hơn trong học tập. Do đó, tăng
khả năng nhận thức và rèn luyện được các kỹ năng học tập: kỹ năng tư duy, kỹ
năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn cuộc sống…
1.1.3. PHT – Phương tiện tổ chức hoạt động học tập độc lập của HS.
1.1.3.1. Khái niệm.
PHT là những tờ giấy rời do GV chuẩn bị. Trên PHT đã có một hay vài
nhiệm vụ nhận thức để tổ chức hoạt động học tập độc lập của HS, nhằm hướng
tới hình thành kiến thức và phát triển kỹ năng cho HS.
PHT được phát cho HS để hoàn thành trong khoảng thì gian ngắn của tiết
học.
Nhiệm vụ nhận thức có thể là: tìm ý điền tiếp vào chỗ trống; tìm thông tin
phù hợp với yêu cầu của hàng, cột hoặc trả lời câu hỏi.
Nguồn thông tin để hoàn thành có thể từ SGK, từ quan sát tranh hình hay
từ những mẩu tư liệu mà GV giao cho HS sưu tầm trước buổi học.

SVTH: Vũ Thị Thu Thủy


Phần hoạt động: là yêu cầu đối với người học, có thể là: “ Chọn ý điền vào
ô trống”; “ Hoàn thành bảng” hay “ Trả lời câu hỏi”.
Thời gian hoàn thành: PHT chỉ được hoàn thành trong khoảng thời gian
nhất định. Tuỳ vào khối lượng công việc mà thời gian có thể là: 5’; 10’; 15’ hay
dài hơn.
SVTH: Vũ Thị Thu Thủy

21

Lớp: 32 C - SP Sinh


Khóa luận tốt nghiệp

Khoa: Sinh - KTNN

1.1.3.4. Phân loại PHT.
PHT được phân loại theo nhiều các khác nhau. Căn cứ vào mục tiêu phát
triển năng lực nhận thức cho HS mà chia thành:
* Phiếu phát triển năng lực quan sát.
- Khái niệm: quan sát là tri giác vật thể có mục đích, có kế hoạch của chủ thể
trước một đối tượng. Quan sát có nhiệm vụ phải phát hiện ra các hợp thành của
đối tượng, mối quan hệ giữa các yếu tố hợp thành với nhau hay mối liên hệ của
hiện tượng khảo sát với hiện tượng khác. Từ quan sát các hiện tượng riêng rẽ,
đoán chất nhiều lần để đi tới phát hiện cái chung, cái bản chất.
- Để phát triển kỹ năng quan sát cho HS, GV phải tập cho HS biết:
Mục đích, nội dung, phương pháp và phương tiện quan sát.
Biết sử lí số liệu quan sát.
Biết rút ra kết luận quan sát.
- Hình thức biểu thị.

chỉ cấu tạo, hoặc chỉ chức năng sinh lý.
Dạng bảng hệ thống: các yếu tố hợp thành và mối quan hệ giữa chúng
được biểu thị trong một bảng với các ô, các cột.
Dạng tranh hay sơ đồ: biểu thị đối tượng ở mức độ không chi tiết. Dùng
tranh, sơ đồ kết hợp với lời nói để diễn đạt.
Dạng phiếu này thường dùng trong giảng dạy kiến thức khái niệm. Thường
dùng trong khâu dạy bài mới hoặc có thể ở khâu ôn tập, củng cố.
* Phiếu phát triển kỹ năng so sánh.
- Khái niệm: So sánh là sự phân tích những điểm giống nhau và khác nhau giữa
các đối tượng nhằm phân loại sự vật, hiện tượng thành các dạng khác nhau. So
sánh là thao tác cơ bản trong dạy học sinh học, là điều kiện cơ bản để nhận thức
sâu sắc đối tượng.
- Yêu cầu so sánh: chỉ so sánh những đối tượng đồng loại. Tuỳ mục đích mà
phương pháp so sánh có thể nặng về tìm sự giống nhau hay khác nhau giữa các
đối tượng. Các đối tượng, nội dung so sánh được phức tạp dần, luôn luôn định
hướng mục đích.
- Hình thức biểu thị: dạng bảng, dạng câu hỏi.

SVTH: Vũ Thị Thu Thủy

23

Lớp: 32 C - SP Sinh


Khóa luận tốt nghiệp

Khoa: Sinh - KTNN

Phiếu dạng này thường dùng trong khâu ôn tập, củng cố.


Khoa: Sinh - KTNN

1.1.3.5. Quy trình thiết kế PHT.
Quy trình thiết kế được hiểu là trình tự các thao tác để tạo ra một PHT đạt
được mục tiêu dạy học nhất định.
Quy trình xây dựng PHT:
Bước 1: Phân tích bài dạy để nắm được nội dung kiến thức.
Bước 2: Xác định rõ mục tiêu bài học.
Bước 3: Chuyển nội dung kiến thức thành điều cho biết và điều cần tìm.
Bước 4: Diễn đạt điều đã biết và điều chưa biết thành dạng PHT.
Bước 5: Xây dựng đáp án và thời gian hoàn thành.
Bước 6: Hoàn thiện và viết phiếu chính thức.
1.3.2.6. Sử dụng PHT trong dạy học.
* PHT có thể do GV tự thiết kế hay sử dụng phiếu do các chuyên gia thiết kế
sẵn. Nếu GV thiết kế được hệ thống PHT để dùng cho cả giáo trình thì có thể
đánh số phiếu, in thành tập và phát cho mỗi HS vào đầu khoá học để tiện cho
việc sử dụng.
* PHT cần được sử dụng một cách hệ thống, thường xuyên. Tuỳ trường hợp
mà sử dụng PHT cho từng HS, cả nhóm hay chỉ một vài HS được lluwaj chọn có
mục đích.
* Trước khi yêu cầu HS hoàn thành thì GV phải nêu được nhiêm vụ học tập để
định hướng hoạt động của HS. Cách thức tổ chức phải gây hào hứng, khơi dậy
tính tích cực, phát huy tính độc lập của HS. Trong quá trình hoàn thành, GV
phải bao quát được toàn bộ lớp, đảm bảo 100% HS tham gia vào hoạt động học
tập. GV có thể gợi ý, giúp đỡ nhóm yếu.
* Sau khoảng thời gian quy định, GV yêu cầu đại diện một nhóm trình bày kết
quả bằng lời, bằng bảng phụ hay trình bày trên hình vẽ. Các nhóm còn lại chú ý,
SVTH: Vũ Thị Thu Thủy


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status