BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
________________
Lại Thùy Phương
VẬN DỤNG DẠY HỌC DỰ ÁN VÀO TỔ CHỨC
HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA KIẾN THỨC
CHƯƠNG “ĐỘNG LỰC HỌC CHẤT ĐIỂM”
SÁCH GIÁO KHOA LỚP 10 NÂNG CAO Chuyên ngành : Lý luận và phương pháp dạy học vật lý
Mã số : 60 14 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT PGS.TS. : Phó giáo sư, tiến sĩ
SGK : Sách giáo khoa
ĐHSP TPHCM : Đại học sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh
THPT : Trung học phổ thông
GV : Giáo viên
HS : Học sinh
CHKQ : Câu hỏi khái quát
CHBH : Câu hỏi bài học
CLB : Câu lạc bộ
HĐNK : Hoạt động ngoại khóa
GDĐT : Giáo dục đào tạo
BGK : Ban giám khảo
BGH : Ban giám hiệu
NXB : Nhà xuất bản
MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài:
Nước ta đang trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá và tiến vào hội nhập quốc tế.
Yêu cầu của sự phát triển kinh tế, xã hội đòi hỏi nguồn nhân lực phải được phát triển cả về số
lượng và chất lượng. Mặt khác, khoa học công nghệ phát triển nhanh, mạnh với tốc độ mang tính
bùng nổ, thể hiện qua sự ra đời của nhiều lý t
khoá vật lý (Điều này có thể giải quyết được các áp lực về thời gian).
Mặt khác, dạy học dự án
thông qua các hoạt động ngoại khoá vật lý được tổ chức tốt còn làm tăng niềm yêu thích, hứng thú
học tập môn vật lý, phát triển toàn diện nhân cách học sinh. Bên cạnh đó, hoạt động ngoại khoá,
các sinh hoạt đội nhóm
bộ môn cũng là những hoạt động giáo dục cần thiết trong trường phổ thông
và rất cần được nghiên cứu tìm hiểu thêm về lý luận để có thể vận dụng tốt nhất vào thực tế.
Vì những lý do trên mà tôi chọn đề tài tốt nghiệp thạc sĩ của mình là “Vận dụng dạy học dự
án vào tổ chức hoạt động ngoại khoá một số kiến thức chương “Động lực học chất điểm” S
GK vật
lý lớp 10 nâng cao”.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề:
Dạy học dự án (hay dạy học theo dự án, dạy học tiếp cận dự án) xuất hiện từ khá sớm. Từ thế
kỷ XIX, trên thế giới, dạy học dự án đã được vận dụng dưới nhiều hình thức khác nhau.
Tại Việt Nam, từ những đòi hỏi mạnh mẽ về đổi mới phương pháp dạy học, dạy học dự án đã
đựơc nghiên cứu, phổ biến để đưa vào vận dụng trong t
hực tế dạy và học. Năm 2004, phương pháp
dạy học theo dự án đã được bồi dưỡng cho giáo viên và tiến hành thí điểm bằng việc đưa công
nghệ thông tin vào dạy học thông qua chương trình “Dạy học hướng tới tương lai”. Chương trình
này được sự hỗ trợ của Intel nhằm giúp các giáo viên khối phổ thông trở thành những nhà sư phạm
hiệu quả t
hông qua việc hướng dẫn họ cách thức đưa công nghệ vào bài học, cũng như thúc đẩy kỹ
năng giải quyết vấn đề, tư duy phê phán và kỹ năng hợp tác đối với học sinh. Cho đến nay, đã có
33.251 giáo viên và giáo sinh từ 21 tỉnh/thành phố tham dự các chương trình dạy học của Intel [4].
Chương trình này đã tạo ra những sự thay đổi tích cực trong thực tiễn dạy học và cả trong quản lý
dạy học ở các trường phổ thông tại Việt Nam
.
Bên cạnh chương trình của Intel, dạy học dự án cũng xuất hiện trong chương trình “Partner in
learning” của Microsoft. Chương trình này không chỉ đào tạo, bồi dưỡng phương pháp dạy học dự
án kết hợp sử dụng công nghệ thông tin mà còn tổ chức cuộc thi “Giáo viên sáng tạo” thu hút sự
Cho đến nay, đề tài nghiên cứu đề cập đến việc tổ chức dạy học dự án ngoài các giờ học
chính khoá còn hạn chế. Nói cách khác, chưa có công trình nghiên cứu nào tìm hiểu để tổ chức
dạy học dự án qua việc tổ chức các hoạt động ngoại khoá dành cho những học sinh yêu thích học
tập, tìm hiểu vật lý. Đây có thể là một hướng đi thích hợp để vận dụng linh hoạt cơ sở lí luận của
dạy học dự án vào thực tế trường phổ thông ở Việt Nam. Đồng thời thực hiện được chủ trương của
đổi mới giáo dục hiện nay: đa dạng các hình thức dạy học, tăng cường công tác giáo dục học sinh
qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp.
3. Mục đích nghiên cứu:
Vận dụng dạy học dự án vào tổ chức các hoạt động ngoại khoá khi dạy học chương “Động
lực học chất điểm” lớp 10 ban nâng cao nhằm
phát huy tính sáng tạo, tự lực, tích cực học tập, đồng
thời phát triển các kỹ năng sống (phân tích, tổng hợp, kỹ năng hợp tác, trình bày vấn đề…) cho
học sinh.
4. Giả thuyết khoa học:
Muốn phát huy tính tích cực tự chủ, bồi dưỡng nang lực sáng tạo của học sinh thì tốt nhất là
tổ chức hoạt động học tập cho học sinh, giúp họ tự lực chiếm lĩnh kiến thức. Dựa trên cơ sở lí luận
của dạy học dự án và những điều kiện cần thiết để tổ chức các hoạt động ngoại khoá cũng như dựa
trên việc phân tích các nội dung kiến thức cần dạy, có thể tổ chức dạy học dự án thông qua các
hoạt động ngoại khoá khi dạy học một số kiến t
hức chương “Động lực học chất điểm” SGK Vật lí
10 nâng cao, qua đó, không những làm cho học sinh nắm vững kiến thức Vật lí mà còn phát huy
tính tích cực, tự chủ và bồi dưỡng năng lực sáng tạo cho người học.
5. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu:
- Nội dung kiến thức chương “Động lực học chất điểm” lớp 10 ban nâng cao.
- Các hoạt động học và hoạt động tổ chức, hướng dẫn của giáo viên qua việc tổ chức hoạt
động ngoại khoá của câu lạc bộ Vật lý trường THPT chuyên Nguyễn Du, tỉnh Daklak.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên
cứu cơ sở lý luận về dạy học dự án và tổ chức hoạt động ngoại khoá, tiêu chí đánh
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham
khảo và phụ lục; nội dung của luận văn gồm 3
chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận.
Chương 2: Tổ chức dạy học dự án một số kiến thức thuộc chương “Động lực học chất điểm”
lớp 10 ban nâng cao thông qua các hoạt động ngoại khoá.
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm. Chương 1: Cơ sở lý luận
1.1. Cơ sở lý luận về phương pháp luận của dạy học tích cực:
1.1.1. Bản chất của hoạt động dạy và hoạt động học:
1.1.1.1. Bản chất của hoạt động dạy:
Có nhiều quan điểm về hoạt động dạy cũng như hoạt động học nhưng có thể hiểu hoạt động
dạy là một hoạt động của thầy tổ chức, điều khiển hoạt động của trò nhằm
giúp họ lĩnh hội nền văn
hóa xã hội, tạo ra sự phát triển tâm lí, hình thành nhân cách.
Như vậy, đặc điểm của hoạt động dạy:
Dạy học là một hoạt động chuyên biệt mà xã hội giao cho thầy để dạy cho trẻ những kiến
thức khoa học (chứ không phải kiến thức kinh nghiệm).
Trong hoạt động dạy, chức năng của thầy không phải tạo ra tri thức mới (vì tri thức mới
này đã được nhân loại sáng tạo ra), cũng không là
m tái tạo tri thức cũ mà nhiệm vụ chủ
yếu, nhiệm vụ đặc trưng là tổ chức quá trình tái tạo ở trẻ. Người thầy phải coi những tri
thức đó như là phương tiện, vật liệu để tổ chức, định hướng người học sản si
nh ra những
tri thức đó lần thứ hai cho bản thân mình, thông qua đó tạo ra sự phát triển tâm lí ở học
sinh. Do vậy quá trình này sẽ đạt hiệu quả cao nếu người học ý thức được đối tượng cần
chiếm lĩnh và biết cách chiếm lĩnh đối tượng đó.
Cng nh cỏc m
ụn khoa hc khỏc con ng nhn thc vt lớ l T trc quan sinh ng n
t duy tru tng, ri t t duy tru tng tr v thc tin - nh V.I. Lờnin ó ch rừ. iu ny
c cỏc nh vt lớ ni ting th hin qua chu trỡnh nhn thc (Chu trỡnh sỏng to khoa hc ca
V.G.Razumopxki hay chu trỡnh ca Anhxtanh). Cú th din t cỏc chu trỡnh ú nh sau: T vic
khỏi quỏt cỏc s kin xut phỏt, i n xõy dng mụ hỡnh tru tng gi nh (cú tớnh cht nh gi
thuyt); t m
ụ hỡnh dn n vic rỳt ra cỏc h qu lớ thuyt (bng suy lun lụgic hay toỏn hc);
kim tra bng thc nghim nhng h qu ú. Nu nhng kt qu thc nghim phự hp thỡ mụ hỡnh
gi thuyt c xỏc nhn l ỳng n v tr thnh chõn lớ, ngc li thỡ phi xem
li lớ thuyt,
chnh lớ li hoc thay i (tc l a ra mụ hỡnh mi) v lp li chu trỡnh.
A 1.1.2.2. Bn cht hot ng nhn thc vt lớ trng ph thụng:
Hot ng nhn thc ca hc sinh ph thụng cú nhng im rt khỏc bit vi nhn thc ca
nh khoa hc. Nh khoa hc phi tỡm ra cỏi mi, gii phỏp mi m trc õy loi ngi cha bit
ti, cũn hc sinh thỡ
li tỡm cho bn thõn mỡnh cỏi m loi ngi ó khỏm phỏ, tớch lu, cỏi m
giỏo viờn ó bit; v thi gian, nh khoa hc cú nhiu thi gian, thm chớ c i mỡnh khỏm phỏ
mt nh lut, xõy dng mt thuyt no ú, cũn hc sinh ch cú thi gian rt ngn; v phng tin,
hc sinh ch cú cỏc dng c thớ nghim n gin. Vi s khỏc nhau ú, ta khụng hy vng lm cho
hc sinh nh ỏp dng phng phỏp khoa
hc m cú c nhng sỏng to ln nh nh khoa hc,
m ch mong mun cỏc em lm quen vi cỏch suy ngh, cỏch t duy khoa hc, to ra nhng yu t
ban u ca hot ng sỏng to.
Nng lc núi chung v nng lc sỏng to khụng phi l bm sinh m c hỡnh thnh v phỏt
trin trong quỏ trỡnh hot ng ca ch th. Bi vy mun hỡnh thnh nng lc phi chun b cho
Phương pháp dạy học tích cực đã được đề cập đến từ rất lâu. Vào những năm 60, Polya đã đề
xướng nguyên lí dạy học “Học tập tích cực”, sau đó vào những năm 70, tiến sĩ I.F.Khalamop đã
viết cuốn sách: “Phát huy tính tích cực của học sinh như thế nào?” (Sơ thảo về lí luận dạy học –
NXBGD. 1978, người dịch: Đỗ Thị Trang, Nguyễn Ngọc Quang), ông nêu luận điểm: “học tập là
một quá trình nhận thức tích cực”. Từ những năm 90, các nhà nghiên cứu lí luận dạy học Việt
Nam tập trung nghiên cứu phương pháp giáo dục tích cực lấy người học làm trung tâm và đã đưa
ra bốn đặc trưng cơ bản của phương pháp này:
Trò là chủ thể của hoạt động gi
áo dục
Lớp học là cộng đồng các chủ thể, là thực tiễn xã hội ngày nay và cả ngày mai của người
học. Lớp học được tổ chức nhằm mục đích giáo dục, làm môi trường xã hội trung gian
giữa thầy và trò.
Thầy là người định hướng cho trò tự mình khám phá ra kiến thức; là người tổ chức cho trò
biết cách hành động, hợp tác với các bạn, với thầy để tự khám phá ra chân lí và cách ứng
dụng chân lí trong cuộc sống.
Sau khi trao đổi, hợp tác với bạn và dựa vào kết luận của thầy người học tự đánh giá lại
sản phẩm
ban đầu, tự sửa sai lầm mắc phải trong sản phẩm đó, tự rút ra kinh nghiệm về
cách học, cách giải quyết vấn đề và tự điều chỉnh, tự hoàn thiện một sản phẩm tiến bộ hơn
sản phẩm
ban đầu để có được một sản phẩm khoa học.
Năm 2001, với “Từ điển Giáo dục học”, các nhà giáo dục Việt Nam đã đưa ra một định nghĩa
về “phương pháp sư phạm tích cực”: Phương pháp dạy học theo cách trình bày những chủ đề dạy
học như là những vấn đề phải giải quyết, cung cấp cho người học tất cả các thông tin và phương
tiện cần thiết để giải quyết vấn đề, phương pháp nà
y đặt người học vào những điều kiện khám phá
và tìm ra chân lí. ở đây vai trò của người thầy chủ yếu là giúp người học tự tìm ra những giải pháp
hơn là đưa ra những giải đáp sẵn có.
Như vậy, “phương pháp dạy học tích cực” là một khái niệm đề cập đến các hành động dạy và
người tổ chức, hướng dẫn, giúp đỡ tạo điều kiện tốt cho học sinh có thể thực hiện thành công hoạt
động học tập: thảo luận nhóm
, nghiên cứu tìm tòi, học tập hợp tác theo nhóm nhỏ, nghiên cứu dựa
theo sở thích của học sinh...
Việc tạo điều kiện cho học sinh làm quen với tiến trình khoa học giải quyết vấn đề trong dạy
học vật lí đóng vai trò quan trọng nhằm
phát huy ở học sinh tính tích cực, chủ động, sáng tạo.
1.1.4. Tiến trình khoa học giải quyết vấn đề xây dựng tri thức cần dạy:
Để giúp học sinh nắm vững kiến thức, kỹ năng cơ bản về vật lí, đồng thời đảm bảo sự phát
triển trí tuệ và năng lực sáng tạo của học sinh thì trong quá trình dạy học các kiến thức cụ thể, GV
cần tổ chức định hướng các h
ành động học của học sinh sao cho phù hợp với những đòi hỏi của
tiến trình khoa học xây dựng tri thức.
1.1.4.1. Các pha của tiến trình khoa học giải quyết vấn đề, xây dựng một kiến thức vật lí cụ
thể:
Các pha của tiến trình hoạt động giải quyết vấn đề, xây dựng một tri thức vật lí cụ thể nào đó
được biểu đạt bằng sơ đồ : “Đề xuất vấn đề – bài toán -> suy đoán giải pháp và thực hiện giải pháp
(khảo sát lý thuyết/hoặc thực nghiệm)
-> kiểm tra, vận dụng kết quả”.
- Pha thứ nhất: Đề xuất vấn đề- bài toán: Từ cái đã biết và nhiệm vụ cần giải quyết nảy sinh
nhu cầu về một cái còn chưa biết, về một cách giải quyết không có sẵn , nhưng hy vọng có thể tìm
tòi, xây dựng được. Diễn đạt nhu cầu đó bằng một câu hỏi.
- Pha thứ hai: Suy đoán giải pháp, thực hiện giải pháp:
Suy đoán giải pháp: Để giải quyết vấn đề đặt ra, suy đoán điểm x
uất phát cho phép đi tìm
lời giải: Chọn hoặc đề xuất mô hình có thể vận hành được để đi tới cái cần tìm, hoặc
phỏng đoán các biến cố thực nghiệm có thể xảy ra nhờ đó có thể khảo sát thực nghiệm để
xây dựng cái cần tìm.
Thực hiện giải pháp (khảo sát lý thuyết/ hoặc thực nghiệm:) Vận hành m
ô hình rút ra kết
Hình 1.3.
Dạng khái quát của sơ đồ mô phỏng tiến trình nhận thức khoa học xây dựng
một kiến thức mới
Trong quỏ
trỡnh dy hc, cú th cho ngi hc nhn thy ngha ca kin thc, núi cỏch
khỏc l giỏ tr ca kin thc thỡ cn a ngi hc vo gii quyt cỏc vn thc tin ca cuc
sng xung quanh h, t ú kớch thớch c ng c, mc ớch hc tp, v nim say mờ hc tp.
Vic t chc dy hc d ỏn thụng qua cỏc hot ng ngoi khúa cú th ỏp ng iu ú.
1.2 Dy hc d ỏn:
1.2.1. Bn cht dy hc d ỏn:
1.2.1.1. Khỏi
nim d ỏn:
D ỏn l mt tp hp cỏc cụng vic ni tip nhau c thc hin trong mt khong thi gian
cú hn, vi nhng ngun lc c gii hn; nht l ngun ti chớnh gii hn t c mc
tiờu c th rừ rng, lm tho mn nhu cu ca i tng m
d ỏn hng n.
D ỏn gm cỏc c tớnh:
- Tớnh mc tiờu:
Cỏc d ỏn bao gi cng cú mt hoc mt s mc tiờu rừ rng.
nh hng mc tiờu luụn c duy trỡ trong sut d ỏn.
Sn phm cui cựng luụn c ỏnh giỏ xem cú phự hp, cú t c mc tiờu hay
khụng.
- Có các hạn định rõ ràng:
Lịch biểu được xác định trước.
Có các ngày bắt đầu, ngày kết thúc rõ ràng.
Các mốc được theo dõi, đem ra đánh giá.
- Sự giới hạn:
Giới hạn về nguồn lực.
Giới hạn về kinh phí.
tiễn xã hội. Dạy học dự án tạo ra kinh nghiệm học tập thu hút người học vào những dự án phức tạp
trong thế giới thực và người học sẽ dựa vào đó để phát triển và ứng dụng các kĩ năng và kiến t
hức
của mình.
Ví dụ: Chủ đề về sự cân bằng của các vật gắn với sự cân bằng của các công trình xây dựng,...
- Định hướng hứng thú: Chủ đề và nội dung của dự án phù hợp với hứng thú của người học,
thúc đẩy mong muốn học tập của người học, tăng cường năng lực hoàn thành những công việc
quan trọng và mong muốn được đánh giá. Khi người học có cơ hội kiểm soát được việc học của
chính mình, giá trị của việc học đối với họ cũng tăng lên. Cơ hội cộng tác với các bạn cùng lớp
cũng làm
tăng hứng thú học tập của người học.
- Tính tự lực cao của người học: Người học tham gia tích cực và tự lực vào các tất cả các giai
đoạn của quá trình dạy học: đề xuất vấn đề, lập kế hoạch giải quyết vấn đề, giải quyết vấn đề và
trình bày kết quả thực hiện.
- Định hướng hành động: Kết hợp giữa lý thuyết và thực hành, huy động nhiều giác quan của
người học khi
thực hiện dự án. Người học khám phá, giải thích và tổng hợp thông tin một cách ý
nghĩa.
- Định hướng sản phẩm: Đó là những sản phẩm hành động có thể công bố, giới thiệu được.
Dạy học dự án yêu cầu người học tiếp thu kiến thức theo cách học và trình diễn kiến thức. Kết quả
của dự án có thể là bài báo, bài trình bày, các m
ô hình vật chất, các thí nghiệm…
- Có tính phức hợp: Nội dung dự án có sự kết hợp tri thức của nhiều lĩnh vực hoặc các môn
học khác nhau. Dạy học dự án yêu cầu người học sử dụng thông tin của nhiều môn học khác nhau
để giải quyết vấn đề. So với dạy học theo chủ đề thì sự tích hợp liên môn trong dạy học dự án thể
hiện rõ ràng hơn.
- Cộng tác làm
việc: Các dự án học tập thường được thực hiện theo nhóm, việc học mang tính
xã hội. Dạy học dự án thúc đẩy sự cộng tác giữa người học với GV và giữa người học với nhau.
Nhiều khi, sự cộng tác được mở rộng đến cộng đồng. Sự làm việc mang tính cộng tác của người
y nhằm đảm bảo các dự án của người học có tính hấp dẫn và thuyết phục, chú
trọng đến các yêu cầu hơn là chỉ đơn giản trình bày lại các sự kiện.
Bộ câu hỏi định hướng bao gồm câu hỏi khái quát, câu hỏi bài học và câu hỏi nội dung [8].
- Câu hỏi khái quát (CHKQ): Là câu hỏi mang tính mở, khơi dậy sự thích thú, sự quan tâm
và
có phạm vi rất rộng, là cầu nối giữa môn học và bài học. CHKQ không thể trả lời thỏa đáng chỉ
bằng một mệnh đề.
CHKQ có đặc điểm:
Là yếu tố trọng tâm của dạy học dự án. Những CHKQ có thể tìm thấy trong rất nhiều vấn
đề còn đang tranh c•i ở nhiều lĩnh vực nghiên cứu.
Lặp lại một cách tự nhiên thông qua người học và lịch sử của m
ôn học. Những câu hỏi
quan trọng giống nhau được hỏi đi hỏi lại. Các câu trả lời của chúng ta có thể ngày càng
trở nên phức tạp hơn và phản ánh nhiều sắc thái mới nhưng chúng ta vẫn còn và sẽ còn
quay lại những câu hỏi đó.
Dẫn đến những câu hỏi quan trọng khác. Những câu hỏi đó sẽ mở rộng vấn đề, mở rộng
tính phức tạp và phong phú của chủ đề, gợi mở hướng nghi
ên cứu chứ không dẫn đến
những kết luận sớm hay những câu trả lời mơ hồ
Các CHKQ giúp giáo viên tập trung vào khía cạnh quan trọng trong chương trình suốt năm
học và có ý nghĩa xuyên suốt các lĩnh vực của môn học. CHKQ đề cập đến những ý quan trọng
xuyên suốt nội dung nhiều lĩnh vực (khoa học, văn học, lịch sử…). CHKQ tập trung vào vấn đề,
mối quan tâm
hoặc các chủ đề được đề cập đến trong các bài khác
Đối với người học, CHKQ lý giải và tập trung vào quá trình tiếp thu các sự kiện và chủ đề
trong phạm vi một dự án hoặc một khóa học. CHKQ giúp so sánh, đối chiếu và phát hiện những
tương đồng, giúp phát triển trí tưởng tượng và tạo ra mối liên hệ giữa môn học với kiến thức và ý
tưởng. Do không có câu trả lời hiển nhiên “đúng” nên người học thử thách trong việc tìm
ra nhiều
kết quả khác nhau. CHKQ khuyến khích thảo luận và nghiên cứu chuyên sâu đặt nền tảng cho các
câu hỏi khái quát hay câu hỏi bài học mà là để chú trọng đến mục đích lớn hơn của nó. Đó là định
hướng cho việc học, khuyến khích người học, liên kết nhiều câu hỏi cụ thể hơn, nhiều câu hỏi tổng
quát hơn và hướng dẫn khám
phá, khai thác những ý tưởng hay, quan trọng.
Ví dụ: với câu hỏi khái quát đ• nêu ở trên, giáo viên có thể đặt các câu hỏi bài học khác nhau
để hỗ trợ và định hướng học sinh vào chủ đề hoặc bài học cụ thể. Với m
ôn vật lý, câu hỏi bài học
có thể là “Con người sử dụng chất bán dẫn như thế nào để phục vụ cuộc sống?”.
Câu hỏi này định hướng trả lời vào dòng điện trong bán dẫn. Học sinh có thể tìm hiểu về các
thiết bị ứng dụng của dòng điện trong bán dẫn: điod bán dẫn, tranzitor, vi mạch điện tử dùng bán
dẫn,…
- Câu hỏi nội dung: Là những c
âu hỏi hỗ trợ trực tiếp về nội dung và mục tiêu bài học. Đó là
những câu hỏi yêu cầu người học trả lời dựa trên thực tế bài học. Các câu hỏi nội dung hầu hết chú
trọng vào sự kiện hơn là giải thích sự kiện và thường có câu trả lời rõ ràng.
Ví dụ: Tranzitor là gì?
1.2.4.3. Thiết kế dự án:
Trước một nội dung dự định thực hiện một dự án, giáo viên cần phải nghiêm
túc trả lời các
câu hỏi:
- Trong thực tế những ai cần những kiến thức này?
- Đối tượng, nội dung kiến thức cần vận dụng hoặc cần xây dựng là gì?
- Đưa ra dự án gồm: Mục tiêu của dự án, giải pháp thực hiện dự án công việc chính cần thực
hiện (thực hiện giải pháp), dự án thực hiện ở đâu, kết quả dự án thu được như thế nào.
1.2.4.4. Thiết kế tài liệu hỗ trợ giáo viên và học sinh:
Các tài liệu hỗ trợ này bao gồm:
- Những hỗ trợ cần thiết cho học sinh trong quá trình thực hiện các bài tập được giao: Các bài
tập mẫu, nội dung bài học, các nguồn tài liệu tham khảo, các mẫu phiếu (phiếu phân công nhiệm
vụ, phiếu đánh giá sản phẩm…)
- Tài liệu hỗ trợ giáo viên: nhằm đảm bảo cho sự định hướng đạt hiệu quả, giáo viên cần thiết
niệm chủ đạo. í trung tâm sẽ được nối với các hình ảnh hay từ khóa cấp 1 bằng các nhánh
chính, từ các nhánh chính lại có sự phân nhánh đến các từ khóa cấp 2 để nghiên cứu sâu
hơn. Cứ thế, sự phân nhánh cứ tiếp tục và các khái niệm hay hình ảnh luôn được nối kết
với nhau. Chính sự liên kết này sẽ tạo ra một “bức tranh tổng thể” mô
tả về ý trung tâm
một cách đầy đủ và rõ ràng.
Lợi ích của sơ đồ tư duy: giúp người lập sơ đồ ghi chú, gợi nhớ (hồi tưởng), sáng tạo, giải
quyết vấn đề, lập kế hoạch và trình bày, trình diễn.
Trong học tập, sơ đồ tư duy giúp : ôn tập kiến thức, sáng tạo, giải quyết vấn đề học tập
mới, tìm kiếm ý
tưởng trong làm việc nhóm,..
Cách lập sơ đồ tư duy:
Sử dụng những từ chính hoặc những hình ảnh cần thiết.
Bắt đầu từ trung tâm và triển khai ra.
Tạo cho trung tâm một hình ảnh rõ ràng và “mạnh” miêu tả được nội dung tổng quát của
toàn bộ sơ đồ tư duy.
Tạo các trung tâm nhánh và các chi tiết nhánh.
Đặt những từ trọng tâm vào những hàng mà làm tăng kết cấu của các ghi chú.
Sử dụng màu sắc để làm nổi bật vấn đề.
Những gì không có trong trình bày thì không nên đưa vào sơ đồ tư duy.
Sử dụng mũi tên, biểu tượng hoặc những hình ảnh để chỉ ra sự liên kết.
Ghi ngay ý tưởng vào nơi hợp lý ngay khi nghĩ ra, đừng lưỡng lự.
Đừng để bị tắc ở một khu vực, nếu cạn ý thì chuyển ngay sang nhánh khác.
Trong học theo dự án, sơ đồ tư duy chính là một bức tranh tổng thể về chủ đề mà dự án đang
hướng tới để mỗi cá nhân có thể nắm bắt được diễn biến của quá trình tư duy theo nhóm khi thảo
luận và tổng quan toàn bộ kết quả của nhóm ra sao.
Nhằm xây dựng sơ đồ tư duy hiệu quả, cần phát triển các ý tưởng mới bằng kỹ thuật 5W1H
(Ai? Cái gì? ở đâu? Khi nào? Tại sao? Như thế nào?)
hế giới thật hơn.
- Giúp cho học sinh có những cách khác nhau khi giải quyết cùng một vấn đề.
- Thúc đẩy học sinh suy nghĩ sâu hơn khi họ gặp các vấn đề khác nhau.
- Phát triển ở học sinh kĩ năng phát hiện và giải quyết vấn đề.
- Tạo cơ hội cho học sinh tự tìm hiểu chính mình, tự khẳng định mình thông qua việc trực tiếp
giải quyết vấn đề, thông qua trao đổi, tranh luận,...
- Phát
triển kĩ năng tư duy bậc cao và kĩ năng sống cho người học.
- Tạo điều kiện cho nhiều phong cách, tiềm năng học tập khác nhau cùng có thể được phát
triển, tạo môi trường cho sự hỗ trợ, thúc đẩy lẫn nhau trong học tập của học sinh và hướng tới sự
phát triển toàn diện.
- Làm cho nhiệm vụ tới được tất cả mọi học sinh.
- Khắc phục được tình trạng nhồi nhét kiến thức nên giảm căng thẳng, áp lực, tạo hứng thú
cho người học (Tạo điều kiện tốt cho cả học sinh thuận n•
o phải và n•o trái cùng hoạt động).
1.2.5.2. Nhược điểm:
- Đòi hỏi nhiều thời gian, không thích hợp cho việc truyền thụ những tri thức lí thuyết có tính
hệ thống.
- Đòi hỏi phương tiện vật chất và tài chính phù hợp.
- Đòi hỏi gi
áo viên phải có trình độ chuyên môn cao và nghiệp vụ vững vàng.
- Dự án không khuyến khích thực hiện vào phần kiến thức then chốt được chỉ định phải
truyền đạt chính xác, đầy đủ cho người học. Vì vậy giáo viên có thể chọn một vài nội dung học có
ý nghĩa thực tiễn cao để dạy theo mô hình này.
- Dự án cần sự tích hợp công nghệ thông tin đòi
hỏi người học cần có kiến thức cơ bản về tin
học.
Không có phương pháp nào là tối ưu, nên trong dạy học, chúng ta cần sử dụng kết hợp
nhiều phương pháp sao cho có thể phát huy những ưu điểm, hạn chế những nhược điểm. Giáo viên
cần lựa chọn những nội dung kiến thức thích hợp để áp dụng hình thức dạy học dự án.
Hoạt động ngoại khoá là bộ phận hữu cơ trong quá trình giáo dục - đào tạo của nhà trường,
tạo sự thống nhất giữa giáo dục trong nhà trường và giáo dục ngoài nhà trường.
1.3.2. Một số hình thức tổ chức hoạt động ngoại khoá phổ biến:
1.3.2.1. Tổ chức câu lạc bộ:
- Khái niệm: Hoạt động câu lạc bộ là một loại hình hoạt động ngoài giờ lên lớp. Đây là loại
hình hoạt động tự nguyện tập hợp những học sinh cùng sở th
ích, sở trường hoặc năng khiếu về
một lĩnh vực hoặc chuyên đề. Câu lạc bộ là nơi để học sinh học tập, sinh hoạt, rèn luyện, vui chơi,
giải trí... Hoạt động câu lạc bộ có tính chất quần chúng rộng r•
i, khuyến khích mọi học sinh tham
gia.
- Mục đích, ý nghĩa của hoạt động câu lạc bộ: nhằm phát huy năng lực, năng khiếu, sở
trường... của học sinh, tạo điều kiện để học sinh phát triển định hướng của mình. Mặt khác cũng
nhằm trang bị cho các em những tri thức, kỹ năng cần thiết để vận dụng vào thực tiễn đời sống xã
hội, góp phần phát triển và hoàn thiện nhân cách của mình.
- Chức năng và nhiệm vụ:
Chức năng giáo dục: là phương thức hiệu quả để giáo dục chính trị, tư tưởng văn hoá, giáo
dục truyền thống và giáo dục thẩm mỹ
Chức năng giao tiếp, ứng xử: qua các hoạt động sinh hoạt của câu lạc bộ, học sinh có dịp
giúp nhau học tập, trao đổi kinh nghiệm để cùng nhau phát huy mặt tích cực, chủ động,
phát triển các kỹ năng giao tiếp.
Nâng cao nhận thức và rèn luyện kỹ năng: trên cơ sở nhu cầu, nguyện vọng, sở thích của
từng đối tượng với điều kịên hoàn cảnh khác nhau mà câu lạc bộ có trách nhiệm từng bước
thỏa mãn, nâng cao nhận thức về mọi mặt trong học tập, lao động và trong công t
ác cho
thanh thiếu niên, giúp họ rèn luyện những kỹ năng cơ bản trong học tập, công tác và quan
hệ xã hội.
- Nội dung và hình thức tổ chức câu lạc bộ: rất đa dạng và phong phú, luôn gắn với các chủ
đề, các lĩnh vực nhất định và phù hợp với nhu cầu, sở thích và đặc điểm t
thành, phát triển khả năng hoạt động tích cực và tương tác của học sinh.
Góp phần đáp ứng nhu cầu văn hoá mới cho thanh niên, lôi cuốn đông đảo thanh thiếu
niên tham gia một cách chủ động, tích cực vào hoạt động ngoại khoá. Trên cơ sở đó, nâng
cao một bước đời sống văn hoá tinh thần, bồi dưỡng, phát triển và hoàn thiện nhân cách
của thanh niên trong nhà trường.
- Tổ chức hội thi là một hình thức kiểm tra, đánh giá trình độ, nghiệp vụ tổ chức hoạt động và
dạy học của giáo viên.
Thông qua tổ chức hội thi, huy động, tập hợp được nhiều lực lượng giáo dục giam gia giáo
dục, chăm sóc, bảo vệ trẻ em, góp phần xã hội hoá giáo dục, nâng cao chất lượng giáo dục và đào
tạo.
- Tổ chức hội thi trong trường THPT là một hình thức kiểm tra, đánh giá kết quả học tập, sự
rèn luyện,
tu dưỡng của học sinh. Đó là cơ sở để điều chỉnh, hoàn thiện hoạt động dạy học của
giáo viên.
• Một số ví dụ về tổ chức hội thi ở trường THPT: hội thi học tập (hội thi bộ môn hay thi tổng
hợp kiến thức liên môn...), hội thi học sinh thanh lịch, hội thi bạn gái khéo tay...
• Cách thức tổ chức v
à tiến hành hội thi:
- Bước 1: Xác định chủ đề, mục tiêu, nội dung hội thi và đặt tên cho hội thi.
- Bước 2: Xác định thời gian và địa điểm tổ chức hội thi
- Bước 3: Tổ chức công tác thông tin tuyên truyền,vận động cho hội thi.
- Bước 4: Thành lập ban tổ chức hội thi.
- Bước 5: Thiết kế nội dung chương trình hội thi.
- Bước 6: Dự trù kinh phí, chuẩn bị cơ sở vật chất... cho hội thi.
- Bước 7: Tổ chức hội thi.
- Bước 8: Kết thúc hội thi.
Như vậy, hội thi là một trong những hì
nh thức tổ chức hoạt động ngoại khoá hấp dẫn, lôi
cuốn thanh niên và đạt hiệu quả cao trong việc tập hợp, giáo dục, rèn luyện và định hướng phát
triển giá trị cho tuổi trẻ. Chính vì vậy, tổ chức hội thi cho thanh niên trong trường học nói chung,
hững nhận thức, thái độ và tình cảm
phù hợp, có được những lời khuyên đúng đắn để vươn lên trong học tập, rèn luyện và hoàn thiện
nhân cách.
- Hoạt động giao lưu có một số đặc trưng sau đây:
Phải có đối tượng giao lưu: là những người điển hình, có thành tích xuất sắc trong lĩnh vực
nào đó, thực sự là tấm gương sáng để học
sinh noi theo, phù hợp với nhu cầu hứng thú của
học sinh.
Thu hút sự tham gia đông đảo và tự nguyện của học sinh, được học sinh quan tâm hào
hứng.
Phải có sự trao đổi thông tin, tình cảm hết sức trung thực, chân thành và sôi nổi giữa học
sinh với người được giao lưu. Những vấn đề trao đổi phải thiết thực, liên quan đến lợi ích
và hứng thú của học sinh, đáp ứng được nhu cầu của học sinh.
- Mục đích, ý nghĩa của hoạt động giao lưu
Tạo điều kiện để học sinh thoả m•n nhu cầu giao tiếp, được tiếp xúc, trò chuyện trực tiếp
với những con người m
à mình yêu thích, ngưỡng mộ và kỳ vọng; được bày tỏ tình cảm,
tiếp nhận thông tin và được học hỏi kinh nghiệm để nâng cao vốn sống và định hướng giá
trị phù hợp.
Giao lưu giúp cho học sinh hiểu đúng đắn hơn về các đặc trưng cơ bản của các loại hình
nghề nghiệp, những phẩm chất và
năng lực cao quý của những con người thành đạt trong
các lĩnh vực nào đó cũng như con đường đi đến thành công của họ. Từ đó, giúp học sinh
có đựơc sự nỗ lực vươn lên trong học tập, rèn luyện để thành đạt. Đó cũng là con đường
để định hướng giá trị nghề nghiệp, giúp học sinh có hướng chọn nghề nghiệp phù hợp.
Giao lưu cũng tạo điều kiện để học sinh t
hiết lập và mở rộng mối quan hệ x• hội, giúp học
sinh gần gũi nhau, tăng cường hiểu biết lẫn nhau, chia sẻ và cảm thông, hình thành những
tình cảm lành mạnh.
- Các bước tổ chức hoạt động gia
quá trình hoạt động. Kết quả đánh giá cũng sử dụng để động viên sự phấn đấu vươn lên của tập
thể, khích lệ sự đoàn kết, hợp tác của các thành viên trong tập thể. Đây cũng chính là căn cứ để
đánh giá trình độ phá
t triển của tập thể, đánh giá trình độ nghiệp vụ của giáo viên, đồng thời là cơ
sở giúp giáo viên tìm tòi các biện pháp phù hợp nhằm xây dựng và phát triển tập thể.
Để đánh giá hoạt động ngoại khoá cần phải định ra tiêu chuẩn cụ thể. Có thể đánh giá từng
khâu, từng hoạt động ở mỗi thời điểm nhất định rồi đánh giá chung một chủ đề, trong một học kỳ,
một năm học.
Đánh giá kết quả hoạt động của học sinh được thể hiện ở hai cấp độ: đánh giá cá nhân học
sinh và đánh giá tập thể. Vì vậy, nội dung phải cụ thể, thiết thực:
Nội dung đánh giá cá nhân: cần chú trọng cả về mặt nhận thức các nội dung giáo dục; về
tinh thần t
hái độ, ý thức trách nhiệm, tính tích cực của các em khi tham gia hoạt động; về
năng lực của học sinh trong quá trình hoạt động cũng như hiệu quả đóng góp của học sinh
vào thành tích chung của tập thể
Nội dung đánh giá tập thể: cần đánh giá về tinh thần tham
gia của toàn tập thể, của từng tổ,
nhóm; về ý thức hợp tác và cộng đồng trách nhiệm của tập thể; về công tác chuẩn bị của
tập thể; về công tác tổ chức hoạt động cũng như về thành tích, kết quả đạt được; những ưu,
nhược điểm
1.3.3.2.
Các hình thức đánh giá: