Khóa luận tốt nghiệp
Ngô Thanh Trang
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH - KTNN
--------*****--------
NGÔ THANH TRANG
NGHIÊN CỨU VỀ KHẢ NĂNG GHI NHỚ VÀ
HỌC LỰC CỦA HỌC SINH LỨA TUỔI 17, 18
TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
LÊ QUÝ ĐÔN - HẢI PHÒNG
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giải phẫu – Sinh lý người và động vật
Người hướng dẫn
TH.S. NGUYỄN THỊ LAN
Hà Nội – 2010
1
Khóa luận tốt nghiệp
Ngô Thanh Trang
Lời cảm ơn!
3. Thu được là do nghiên cứu thực tiễn, đảm bảo tính chính xác và
trung thực.
Sinh Viên
Ngô Thanh Trang
3
Khóa luận tốt nghiệp
Ngô Thanh Trang
DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CHỮ VIẾT
IQ
: Chỉ số thông minh
Trường THPT
: Trường trung học phổ thông
TB
: Trung bình
4
Trang
Hình 1. So sánh trí nhớ ngắn hạn thị giác theo giới tính…………….…........21
Hình 2. So sánh trí nhớ ngắn hạn thính giác theo giới tính…………….........23
Hình 3. So sánh trí nhớ ngắn hạn thị giác và thính giác theo hệ đào tạo .......24
Hình 4. Trí nhớ ngắn hạn về thị giác và thính giác theo giới tính……...........26
Hình 5. So sánh trí nhớ ngắn hạn thị giác theo giới tính……………….........27
Hình 6. So sánh trí nhớ ngắn hạn thính giác theo giới tính…………….........28
Hình 7. So sánh trí nhớ ngắn hạn thị giác và thính giác theo hệ đào tạo........30
Hình 8. So sánh trí nhớ ngắn hạn thính giác theo giới tính……………….....31
Hình 9. So sánh trí nhớ ngắn hạn thị giác và thính giác theo giới tính...........32
Hình 10. Tỉ lệ phần trăm xếp loại học lực cuối kì I theo hệ đào tạo…..........36
Hình 11. Tỉ lệ phần trăm học lực học sinh theo lứa tuổi và giới tính….........37
Hình 12. Mối quan hệ giữa lực học và khả năng ghi nhớ lứa tuổi 18…........39
Hình 13. Mối quan hệ giữa lực học và khả năng ghi nhớ lứa tuổi 17............41
Hình 14. Mối quan hệ giữa lực học và khả năng ghi nhớ lứa tuổi………......42
6
Khóa luận tốt nghiệp
Ngô Thanh Trang
PHẦN 1. MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Trong lịch sử phát triển loài người, giáo dục luôn được coi là tài sản vô
giá của mỗi con người cũng như của toàn dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói
“Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”. Ngay sau cách mạng tháng 8 thành
công cùng với nhiệm vụ “chống giặc ngoại xâm”, “giặc đói” chủ tịch Hồ Chí
Minh đã chú tâm ngay đến “giặc dốt”. Giáo dục luôn là điều kiện tiên quyết
tiên tiến, khoa học kĩ thuật phát triển thì việc đầu tiên là chúng ta phải nâng
cao chất lượng giáo dục, nâng cao khả năng ghi nhớ và lực học cho học sinh.
Muốn nâng cao được những năng lực trên thì trước hết chúng ta cần phải nắm
bắt được thực trạng của nền giáo dục nước ta.
Để có thể góp phần đưa ra được những biện pháp giáo dục phù hợp
cho thế hệ trẻ, chúng tôi đã tiến hành điều tra khả năng nghi nhớ, học lực và
thu được kết quả ở Trường THPT Lê Quý Đôn Hải Phòng. Là một ngôi
trường với bề dày lịch sử và đạt trường chuẩn quốc gia thì thực trạng của họ
ra sao? Và họ đã có những biện pháp thế nào? Tiêu chí để đáng giá năng lực,
trí tuệ là chỉ số IQ, đánh giá khả năng ghi nhớ là khả năng ghi nhớ ngắn hạn
về thị giác và thính giác còn về lực học là kết quả của mỗi học sinh ở cuối
mỗi kì học và mỗi năm học.
1.2. Mục đích nghiên cứu
- Đánh giá khả năng ghi nhớ ngắn hạn của học sinh Trường THPT Lê
Quý Đôn, Hải Phòng lứa tuổi 17-18.
- Góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận về khả năng ghi nhớ ngắn hạn
đối với năng lực học tập của học sinh được nghiên cứu.
8
Khóa luận tốt nghiệp
Ngô Thanh Trang
PHẦN 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2. 1. Những vấn đề chung về trí tuệ
2.1.1 Các quan niệm về trí tuệ
Trí thông minh là một khái niệm khá trừu tượng và chẳng có gì ngạc
nhiên khi nó luôn là chủ đề gây tranh cãi. Chúng ta cần phải phân biệt rõ sự
cao về trí tuệ.
- Khuynh hướng thứ hai: coi năng lực trí tuệ là năng lực tư duy trìu
tượng [10] và chức năng của trí tuệ là việc sử dụng có hiệu quả các khái niệm
và biểu tượng. Đại diện cho khuynh hướng này là: L.Terman (1937).
- Khuynh hướng thứ ba: Coi trí thông minh là năng lực thích ứng. Sự
thích ứng ở đây mang tính chủ động tích cực, có hiệu quả nhằm cải tạo môi
trường cho phù hợp với mục đích của con người chứ không phải là sự thích
ứng thụ động [10]. Theo N.X.Rubinsein (1940) thì trí tuệ không phải là sự
thích ứng đơn giản mà là sự thích ứng có hiệu quả. Trong công trình nghiên
cứu của J.Piaget trí tuệ bộc lộ trong mối quan hệ giữa cơ thể và môi trường,
theo ông sự cảm nhận thế giới khách quan ở trẻ trước hết phải qua các phản
xạ hành động.
Theo Nguyễn Kế Hào [4] cho rằng trí thông minh là một phẩm
chất tổng hợp của trí thông minh là phẩm chất tư duy tích cực, độc lập, linh
hoạt, sáng tạo trước những vấn đề thực tiễn và lý luận. Theo Phạm Hoàng Gia
[3] bản chất của trí thông minh là một phẩm chất của tư duy sáng tạo đưa đến
sự giải quyết vấn đề một cách mau lẹ và thích hợp trong trường hợp mới, cho
nên không chỉ thể hiện ở sự nhận thức mà còn biểu hiện cả trong hoạt động
thực tiễn. Bằng những biểu hiện đã có và được chứng minh là có căn cứ trên
cơ sở thực nghiệm Nguyễn Công Khanh [7] đề nghị xem trí thông minh như
là năng lực tổng thể hoặc một loạt các năng lực giúp cá nhân áp dụng các kĩ
năng nhận thức, xúc cảm và sự hiểu biết để học, để giải quyết vấn đề, để đạt
các mục đích có giá trị hoặc để sáng tạo ra các sản phẩm.Trong điều kiện văn
hoá lịch sử cụ thể trí thông minh là một cấu trúc phức hợp hoà nhập nhiều loại
năng lực, có tính độc lập tương đối, ổn định nhưng không tĩnh mà lại phát
10
Khóa luận tốt nghiệp
11
Khóa luận tốt nghiệp
Ngô Thanh Trang
-Trí nhớ ngữ nghĩa: Là sự kiện hoặc kiến thức in sâu trong
não, chúng ta không cần phải cố gắng suy nghĩ khi nhớ về nó. Ví dụ như một
năm có 12 tháng, sự khác nhau giữa cái lược và cái nĩa… Thuỳ thái dương
dưới ngoài chịu trách nhiệm chính cho trí nhớ này.
-Trí nhớ kỹ năng: Là những thông tin giúp bạn có thể làm việc
mà không cần suy nghĩ như lái xe, đánh răng, … Trí nhớ kỹ năng giúp cho
công việc được tiến hành trôi chảy và nhanh chóng. Hạch nền, tiểu não và
vùng vận động thuỳ trán tham gia chính vào loại trí nhớ này.
2.1.3. Sự hoạt động của trí nhớ.
Trí nhớ là một hệ thống phức tạp bao gồm nhiều bộ phận tại não bộ,
mỗi bộ phận một nhiệm vụ. Trí nhớ của con người là một quá trình hoạt động
phức tạp, có bản chất là việc hình thành các đường liên hệ tạm thời, lưu giữ
và tái hiện chúng khi sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan tác động
vào chúng ta gây cảm giác đơn lẻ, não bộ đã phân tích tổng hợp để cho tri
giác trọn vẹn về sự vật, hiện tượng và để lại dấu vết của chúng trên vỏ não
[8]. Hay nói cách khác, trí nhớ là sự vận dụng các hiểu biết có liên quan về
vấn đề đó với sự tham gia của hệ thống thần kinh.
Não bộ nhận tín hiệu và ghi nhớ (encoding).
Hippocampus và vỏ não là nơi phân tích, lựa chọn và ghi nhớ điều
ta muốn nhớ.
Quá trình hoạt động của trí nhớ gồm ba giai đoạn chính: Thu nhận
dữ kiện ghi nhớ gợi nhớ. Khi một trong ba giai đoạn này không làm việc
một cách hoàn hảo, ta “quên” hoặc “không nhớ rõ”.
Thí dụ khi bắt gặp hình ảnh, hương vị, hoặc cảm giác cũ, thụ động, trí nhớ sẽ
giúp ta nhận biết ngay cảm giác ấy liên qua đến ta ra sao.
* Cơ sở lý thuyết về trí nhớ
Về cơ chế ghi nhớ có nhiều thuyết khác nhau. Có 3 thuyết chính, đó
là: Thuyết phản xạ có điều kiện của Pavlov, thuyết phân tử của M. C. Conell
và Thomson, thuyết điều kiện hoá học tập chủ động mà đại diện là B. F.
Skinner. Các tác giả cho rằng việc hình thành phản xạ có điều kiện đã tạo nên
13
Khóa luận tốt nghiệp
Ngô Thanh Trang
các “vết hằn” của trí nhớ. Theo Heyden thì cơ sở của trí nhớ là sự chuyển
động trong cấu trúc của phân tử axitribonucleic (RNA). Còn theo Conell và
Facobson thì trí nhớ có liên quan đến lượng axitdeoxyribonucleic (DNA)
trong các noron. Một số tác giả khác như W. Penfield lại cho rằng, trong não
có những trung khu nhớ và mọi kích thích tác động vào cơ thể đều được giữ
lại dưới dạng lưu trữ.
Trong não gồm có trung tâm nhớ thị giác và trung tâm nhớ thính
giác. Trung tâm nhớ thị giác như một kho lưu giữ hồ sơ, nơi giữ hàng triệu
hình ảnh. Chúng ta chưa tìm ra lời giải cho khả năng ghi nhớ này nhưng biết
rằng quá trình ghi nhớ này diễn ra theo trình tự và tương ứng với các vật thể.
Nhờ sự bố trí này khi một bộ phận nào đó của não bị hư hỏng, mất đi thì bộ
phận đó vẫn nguyên vẹn.
2.1.4. Phương pháp đánh giá năng lực trí tuệ
1986 L. Terman đã xây dựng cơ sở đánh giá chỉ số thông minh hay
chỉ số khôn (IQ) do W. Stern (Đức) đề xuất năm 1994.
. 15 +100
SD
X: Điểm trắc nghiệm.
X : Điểm trắc nghiệm trung bình của mỗi người trong cùng
một độ tuổi.
SD: Độ lệch chuẩn.
Như vậy mỗi trắc nghiệm sẽ có một số IQ tương đương. Trên cơ sở
điểm IQ người ta phân loại thành bảy mức trí tuệ khác nhau: ưu tú, xuất sắc,
thông minh, trung bình, yếu, kém, chậm.
2.2. Lực học.
Lực học phản ánh năng lực học tập của người học và được đánh giá
thông qua kết quả học tập bằng điểm số. Năng lực học tập chính là sự vận
động cá nhân nhằm đáp ứng yêu cầu của hoạt động học tập, giúp cho việc lĩnh
hội một cách tương đối nhanh, dễ dàng, sâu sắc các kiến thức, kỹ năng, kỹ
xảo, nó được thể hiện qua kết quả học tập.
Các nhà khoa học đã xác định rằng việc nắm vững tri thức trong quá
trình học tập có liên quan chặt chẽ tới sự phát triển trí tuệ. Cùng với sự biến
đổi đó, trong quá trình học tập năng lực trí tuệ của người học được phát triển.
Học tập là một trong những con đường cơ bản để giáo dục và phát triển trí tuệ
một cách toàn diện. Năng lực học tập tạo ra các năng lực khác, ngược lại khi
trí tuệ chậm phát triển sẽ ảnh hưởng đến việc nắm vững tri thức. Nhờ quá
trình phát triển trí tuệ, người học đã nảy sinh ra khả năng mới giúp họ nắm
kiến thức tốt hơn, đảm bảo chất lượng cao của việc học tập. Các nghiên cứu
15
Khóa luận tốt nghiệp
Ngô Thanh Trang
PHẦN 3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3. 1. Đối tượng nghiên cứu.
Học sinh trường THPT Lê Quý Đôn_ Hải Phòng khối lớp 11 ,12.
Thuộc ban tự nhiên và ban cơ bản. Gồm 390 em, trong đó nam có 184 em, nữ
có 206 em.
Ban tự nhiên:
Độ tuổi 17 gồm 94 em. Trong đó có 53 nam và 41 nữ. Lớp
11B4 có 47 em: Nữ 20, nam 27; Lớp 11B2 có 47em: Nữ 21, nam 26.
Độ tuổi 18 gồm 102 em. Trong đó có 56 nam và 46 nữ. Lớp
12A2 có 51 em: Nữ 23, nam 28. Lớp 12A3 có 51 em. Nữ 23, nam 28.
Ban cơ bản:
Độ tuổi 17 gồm 102 em. Trong đó có 37 nam và 65 nữ. Lớp
11B8 có 55 em: Nữ 30, nam 25; Lớp 11B14 có 47 em: Nữ 35,nam 12.
Độ tuổi 18 gồm 92 em. Trong đó có 38 nam và 54 nữ. Lớp
12A9 có 46 em: Nữ 27, nam 19. Lớp 12A10 có 46 em: Nữ 27, nam 19.
Sau đây là bảng phân bố đối tượng học sinh.
Bảng 1. Phân bố đối tượng
Tổng Số
Khối Cơ bản
Khối tự nhiên
Tuổi
Nam
Nữ
17
90
106
196
37
65
102
53
41
94
Tổng
184
206
390
75
Nghiên cứu được tiến hành theo phương pháp cắt ngang (Cross
Sectionnal Design) có nghĩa là các nhóm đối tượng thuộc các lứa tuổi khác
nhau được nghiên cứu trong cùng một thời điểm.
Chọn 390 học sinh trường THPT Lê Quý Đôn lứa tuổi 17, 18 thuộc
ban cơ bản và ban tự nhiên. Học lực lấy ở cuối kì 1 năm học 2009 _ 2010.
3. 4. 2. Phương pháp nghiên cứu khả năng ghi nhớ ngắn hạn
Sử dụng phương pháp Nechaiev. Có nghĩa là:
Một bảng gồm 10 chữ số được sắp xếp : hàng 1 : 3 số; hàng 2 : 4 số;
hàng 3 : 3 số. Không theo quy luật.
Đầu tiên phát phiếu để học sinh ghi các thông tin cá nhân (họ và
tên, ngày tháng, năm sinh, giới tính).
a. Phương pháp nghiên cứu khả năng ghi nhớ thị giác.
18
Khóa luận tốt nghiệp
Ngô Thanh Trang
Cho học sinh xem bảng số trong vòng 20 giây, học sinh quan sát và ghi
nhớ những con số đó nhưng không được ghi lại. Sau 20 giây cất bảng bài để
học sinh 20 giây ghi lại những số liệu nhớ được. Yêu cầu học sinh thực hiện
độc lập không cần theo thứ tự.
b. Phương pháp nghiên cứu khả năng ghi nhớ ngắn hạn thính giác.
Cho học sinh nghe đọc bảng số. Đọc chậm và đọc ba lần. Sau đó yêu
cầu học sinh ghi lại những số đã nhớ được. Học sinh thực hiện độc lập không
cần theo thứ tự.
3. 4. 3. Phương pháp nghiên cứu về lực học
Chọn những học sinh có khả năng ghi nhớ tốt nhất, lấy kết quả học,
n
19
Với n 30.
Khóa luận tốt nghiệp
Ngô Thanh Trang
SD =
Trong đó:
n
i 1
( Xi X ) 2
n 1
Với n < 30.
X : là giá trị trung bình.
Xi: là đại lượng I của X.
SD: là độ lệch chuẩn (sai số trung
Tổng
X SD
37
53
90
9.54
0.44
9.91
0.09
9.7
0.18
Nữ (II)
n
65
41
106
X SD
Xét riêng từng ban: Trong ban cơ bản thì trí nhớ thị giác trung bình
của học sinh nam thấp hơn so với học sinh nữ, ban tự nhiên thì trí nhớ thị giác
trung bình của nam lại cao hơn nữ và có giá trị thống kê (p
Khóa luận tốt nghiệp
Ngô Thanh Trang
Bảng 3. Kết quả nghiên cứu về trí nhớ ngắn hạn thính giác lứa tuổi 17
Điểm trí nhớ thính giác trung bình
Nam(I)
Ban
n
Ban
cơ bản
Ban tự
nhiên
Tổng
37
53
90
X SD
9.01
0.65
9.86
0.1
196
So sánh
p I-
p I-
p II-
X SD
II
III
III
9.38
0.05
0.05
0.05
Nhận xét:
Qua bảng 3: Kết quả nghiên cứu trí nhớ ngắn hạn về thính giác của
học sinh lứa tuổi 17 ta thấy có sự chênh lệch giữa ban cơ bản và ban tự nhiên,
giữa học sinh nam và học sinh nữ. Cụ thể như sau:
Xét riêng từng ban: Trong ban cơ bản thì trí nhớ thị giác trung bình
của học sinh nam thấp hơn so với học sinh nữ, ban tự nhiên thì trí nhớ thị giác
trung bình của nam lại cao hơn nữ và có giá trị thống kê (p
8.71
Giới tính
Nam
Nữ
Chung
Hình 2. So sánh trí nhớ ngắn hạn thính giác theo giới tính
4. 1. 1. 3. Trí nhớ ngắn hạn thị giác và trí nhớ ngắn hạn thính giác
So sánh giữa trí nhớ ngắn hạn thị giác và trí nhớ ngắn hạn thính giác
của ban cơ bản và ban tự nhiên thì kết quả thể hiện ở bảng và hình vẽ sau:
Bảng 4. Trí nhớ ngắn hạn thị giác và thính giác theo hệ đào tạo
Điểm trí nhớ trung bình
So sánh
Ban
n
Trí nhớ thị giác (I)
X SD
Trí nhớ thính giác(II)
X SD
p(I_II)
Ban tự nhiên
Ban cơ bản
9.6
9.6
9.5
9.38
9.4
9.3
9.2
9.16
9.13
9.1
9
8.9
loại trí nhớ
8.8
Trí nhớ thị giác
Trí nhớ thính giác
Hình 3. Trí nhớ ngắn hạn thị giác và trí nhớ ngắnhạn