Nghiên cứu việc kết hợp giáo dục sức khoẻ sinh sản ở lứa tuổi vị thành niên trong chương trình sinh học lớp 8 phổ thông khu vực huyện hoà an tỉnh cao bằng - Pdf 31

Nông Thị Trinh k29c Sinh- KTNN

Khóa luận tốt nghiệp

Khóa luận tốt nghiệp

Tên đề tài
Nghiên cứu việc kết hợp giáo dục skss ở lứa tuổi vị thành niên
trong chương trình sinh học lớp 8 khu vực huyện hòa an tỉnh
cao bằng

Người thực hiện : nông thị trinh
Người hướng dẫn : thạc sỹ nguyễn thị lan


Nông Thị Trinh k29c Sinh- KTNN

Khóa luận tốt nghiệp

Lời cảm ơn
đề tài nghiên cứu khoa học này được hoàn thành nhờ sự hướng dẫn tận
tình của giáo viên hướng dẫn : Thạc Sĩ Nguyễn Thị lan cùng các thầy cô
giáo trong tổ bộ môn giải phẫu sinh lý người và động vật. Bên cạnh đó còn có
sự cổ vũ nhiệt tình của Ban giám hiệu cùng các em học sinh 2 trường THCS
Nước Hai và THCS Đức Long huyện Hòa An tỉnh Cao Bằng
Cho tôi gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Ban giám hiệu 2 trường THCS Nước
Hai và THCS Đức Long đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành tốt khóa luận này
. Đặc biệt là giáo viên hướng dẫn : Thạc Sĩ Nguyễn Thị Lan đã tận tình chỉ
bảo và dẫn dắt tôi trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu đề tài. Cảm ơn
các thầy cô giáo trong tổ bộ môn sinh lý người và động vật, Ban lãnh đạo
khoa Sinh - KTNN đã giúp đỡ tôi thực hiện tốt khóa luận tốt nghiệp.

1.2.2. Sức khỏe sinh sản - Sức khỏe sinh sản vị thành niên - Sức khỏe tình dục.
1.2.3. Nhận thức về tầm quan trọng của sức khỏe sinh sản và sức khỏe tình
dục.
1.3. Những thay đổi trong giai đoạn vị thành niên.
1.4. Những nguy cơ về sức khỏe do thai nghén ở vị thành niên.
1.5. Những nguy cơ lây nhiễm bệnh lây truyền qua đường tình dục và
HIV/AIDS.
1.6. Nguyên nhân dẫn đến tuổi vị thành niên dễ mắc bệnh lây truyền qua
đường tình dục.
1.7. Hậu quả kinh tế - xã hội do vấn đề thai sản và sinh đẻ ở tuổi vị thành niên.
1.8. Chăm sóc sức khỏe sinh sản ở tuổi vị thành niên.
1.8.1. Thông tin giáo dục truyền thông.
1.8.2. Nội dung về tư vấn.
1.8.3. Các hình thức giáo dục sức khỏe sinh sản tuổi vị thành niên.
1.9. Các biện pháp tránh thai.
Chương II. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu.
2.1. Đối tượng.
2.2. Phương pháp nghiên cứu.


Khóa luận tốt nghiệp

Nông Thị Trinh k29c Sinh- KTNN

2.3. Thời gian nghiên cứu
Chương III. Kết quả nghiên cứu
3.1. Kết quả về lý thuyết.
3.2. Một số vấn đề cần bổ sung trong chương trình Sinh học lớp 8 phổ thông
nhằm mục đích giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên.
3.3.Kết quả thực nghiệm.

trường THCS huyện Hòa An.
Bảng 3.3. Kết quả nhận thức của học sinh lớp 8 ở một số trường THCS huyện
Hòa An về các bệnh LTQĐTD.
Bảng 3.4. Kết quả nhận thức của học sinh lớp 8 ở một số trường THCS huyện
Hòa An về hậu quả của việc nạo phá thai ở tuổi VTN.
Bảng 3.5. Kết quả nhận thức của học sinh lớp 8 ở một số trường THCS huyện
Hòa An về SKSS sau khi đã học xong chương trình Sinh học lớp 8.
Danh mục các biểu đồ.
Biểu đồ 3.1. So sánh nhận thức đúng giữa 2 khối thực nghiệm và khối đối
chứng.
Biểu đồ 3.2. So sánh nhận thức sai giữa 2 khối thực nghiệm và khối đối chứng.


Nông Thị Trinh k29c Sinh- KTNN

Khóa luận tốt nghiệp

Mở đầu
1. Lí do chọn đề tài.
Với sự phát triển như vũ bão về khoa học - công nghệ hiện đại đã làm
cho đời sống kinh tế của người dân Việt Nam được nâng lên một tầng cao
mới, chính vì thế trong cuộc sống họ đã có của ăn, của để, cơm no áo ấm, con
cái của họ được chăm lo một cách toàn diện hơn. điều này đồng nghĩa với
việc các em ngày càng lớn nhanh hơn, cao hơn trước tuổi và như vậy tỷ lệ các
em đến tuổi dậy thì sớm ngày càng tăng. Theo một số công trình nghiên cứu
gần đây nhất đã cho thấy, tuổi dậy thì của các em đã có xu hướng là sớm hơn
trước đây từ 1 đến 2 năm (cả nam và nữ).
Đối mặt với điều này là rất nhiều những vấn đề lớn mà nhà nước ta phải
quan tâm, bởi tuổi dậy thì ở trẻ là giai đoạn đánh dấu một bước ngoặt quan
trọng về sự phát triển của cơ thể, giai đoạn này có những biến đổi sâu sắc về

dài làm ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt của các em.
Nhiều số liệu trên thế giới cho thấy, có 1 tỷ lệ cao những bệnh có thể phòng
ngừa được nhưng trong thực tế lại thường gây ra những tổn thất không đáng
có, thường dẫn đến tình trạng này là do sự thiếu hiểu biết của con người về các
loại bệnh do quan hệ tình dục và sinh sản. Những người trong độ tuổi vị thành
niên chiếm 1 tỷ lệ đáng kể trong số những trường hợp đáng tiếc đã xảy ra.
Mỗi ngày trên thế giới có ít nhất 1600 phụ nữ chết do biến chứng của thai
nghén và sinh đẻ. Biến chứng do thai nghén, sinh đẻ và nạo phá thai không an
toàn là nguyên nhân dẫn đến tử vong hoặc vô sinh.
Hàng năm có khoảng 15 triệu trẻ em trên thế giới được sinh ra bởi các cô
gái tuổi vị thành niên, chiếm 11% tổng số sinh. Ước tính mỗi năm có khoảng
75 triệu trường hợp thai nghén ngoài ý muốn, có khoảng 20%đến 40% số
người sinh con không mong muốn hoặc chưa đúng lúc. Hậu quả của sự việc
trên đã tạo nên khó khăn cho nhiều gia đình và đe dọa sức khỏe cũng như sự
an toàn về tinh thần đối với hàng triệu bà mẹ, trẻ em đặc biệt là các bà mẹ tuổi
vị thành niên. Chính vì vậy, việc giáo dục giới tính và chăm sóc SKSS cho trẻ
vị thành niên là việc rất quan trọng và cấp bách với trên toàn thế giới nói
chung và cả nước Việt Nam nói riêng.


Khóa luận tốt nghiệp

Nông Thị Trinh k29c Sinh- KTNN

ở nước ta việc giáo dục giới tính trước đây hầu như bị né tránh, ít được
quan tâm chú trọng nghiên cứu và tổ chức giáo dục một cách có hệ thống.
Nhưng kể từ năm 1984 trở lại đây việc giáo dục giới tính đã được đẩy mạnh
theo tinh thần : xây dựng chương trình chính khóa và ngoại khóa nhằm bồi
dưỡng cho học sinh những kiến thức về giới tính, hôn nhân, gia đình và nuôi
dạy con cái

- Tiến hành giảng dạy chương trình Sinh học 8 có kiến thức bổ sung cho khối
thực nghiệm và chương trình bình thường cho khối đối chứng.
- Phát phiếu trắc nghiệm điều tra nhận thức về SKSS và giới tính của các em
học sinh lớp 8 sau khi đã học xong chương trình Sinh học 8.
- Thu thập số liệu và xử lí số liệu.


Khóa luận tốt nghiệp

Nông Thị Trinh k29c Sinh- KTNN

Chương i . tổng quan tài liệu

1.1. Cơ sở lí thuyết.
Quá trình phát triển của cơ thể từ thấp đến cao luôn luôn chịu ảnh hưởng
trực tiếp của hai nhân tố chính : Nhân tố di truyền và nhân tố môi trường. Mọi
đặc trưng của cơ thể dù là hình thái, cấu tạo hay chức năng đồng thời đều phải
chịu tác dụng của hai nhân tố này. Sự phát triển của cơ thể nhất là đối với trẻ
em các lứa tuổi nói chung và các em học sinh THCS - lứa tuổi vị thành niên
nói riêng, các yếu tố môi trường xung quanh tạo cho cơ thể có tính thống nhất
giữa các yếu tố, giữa các bộ phận trong cơ thể với nhau và giữa các yếu tố nội
môi và ngoại môi.
nội môi là môi trường bên trong cơ thể gồm máu, nước mô và bạch huyết.

Nội môi phải luôn ổn định và cân bằng mới đảm bảo cho quá trình sống của
cơ thể được diễn ra một cách bình thường và do đó cơ thể mới tồn tại, sinh
trưởng và phát triển tốt. Môi trường trong giúp tế bào thường xuyên liên hệ với
môi trường ngoài trong quá trình trao đổi chất.
Ngoại môi là môi trường bên ngoài cơ thể gồm hai yếu tố chính là yếu tố tự



[puberty] ở người là một giai đoạn đánh dấu đặc biệt sự phát

triển của cơ thể, là giai đoạn có những biến đổi lớn không chỉ về thể chất mà
cả tâm sinh lí, trí tuệ, tư tưởng.
Nguồn gốc của những biến đổi : Lần đầu tiên cơ quan sinh dục bắt đầu
hoạt động, bắt đầu thời kì trưởng thành về mặt sinh dục. Vì vậy, tuổi dậy thì
còn được gọi là tuổi phát dục. Trong thời kì này, các tuyến sinh dục bắt đầu
hoạt động tích cực và tính trội của giới tính thể hiện rõ ràng theo hiệu ứng
hoạt động của hoocmon. Do đó, tuổi dậy thì đã được các nhà sinh học, y học,
tâm sinh lí giáo dục học quan tâm nghiên cứu từ lâu và thường xuyên được
khảo sát theo từng thập kỷ, đặc biệt là các chỉ số về sức khỏe, sinh lí của tuổi
dậy thì.
Ngay từ những năm đầu của thập kỷ 20, Acshim và Zondek (Đức) năm
1927, Simith Engel(Mỹ) đã phát hiện thấy trong nước tiểu có hai chất tác
dụng lên tuyến sinh dục là prôlan A và prôlan B, sau này được gọi là kích
nang tố (FSH) và kích hoàng thể tố(LH).


Khóa luận tốt nghiệp

Nông Thị Trinh k29c Sinh- KTNN

Vào năm 1932, hai nhà khoa học Hohleg và Junkman đã chứng minh
được rằng : Vùng dưới đồi(Hypothalamus) có vai trò đặc biệt quan trọng trong
việc điều hòa chức năng sinh sản và đã đưa ra khái niệm Điều hòa ngược
đối với hệ thống nội tiết. Sau đó, nhiều công trình nghiên cứu vai trò
Hypothalamus, tuyến yên đối với các chức năng sinh lí của tuyến sinh dục như
công trình nghiên cứu của Barclough và Gorsky năm 1961, công trình của
Dey năm 1942, của Dautchakoff năm 1930, công trình của Phoenix năm

- Năm 1996, có công trình nghiên cứu của Trần Đình Long và Phan Thị
Sang.
Theo kết quả của các tác giả trên thì trẻ em Việt Nam trong những năm
gần đây ngày càng có tầm vóc lớn hơn và tuổi dậy thì ngày càng đến sớm hơn
so với trẻ em ở các thập kỷ trước. Trẻ em ở nông thôn lại dậy thì muộn hơn trẻ
em thành thị từ 1 - 2 năm. Các tác giả còn cho rằng cứ sau 10 năm tuổi dậy thì
đến sớm hơn 5 tháng.
Tuy nhiên tất cả các công trình trên cũng rất hạn chế về một số vấn đề
như : mới chỉ nghiên cứu trên đối tượng học sinh người Việt Nam ở thành thị
hoặc một số vùng gần thành thị, còn ở các vùng sâu, xa, nông thôn thì chưa
được để ý đến. Do vậy, việc nghiên cứu các vấn đề về tâm sinh lí tuổi dậy thì
của các em học sinh ở những khu vực cụ thể còn là vấn đề cần thiết và cấp
bách.
1.2. một số vấn đề về Sức khỏe sinh sản, sức khỏe sinh sản vị
thành niên

1.2.1. Những nhận định cơ bản về tuổi vị thành niên.
1.2.1.1

. Vị thành niên, họ là ai ?

Vị thành niên là những người ở lứa tuổi từ 10 -19 tuổi.[1]
Năm 1998, trong một tuyên bố chung giữa tổ chức y tế thế giới(WHO),
quỹ nhi đồng liên hợp quốc(UNICEF) và quỹ dân số liên hợp quốc(UNFPA)
đã thống nhất phân loại nam nữ còn trẻ thành 3 loại như sau : Vị thành
niên(Adolescent) từ 10 - 19 tuổi, thanh niên(Youth) từ 15 - 24 tuổi, người
trẻ(Youth people) từ 10 - 24 tuổi.[1]
Với định nghĩa nói trên, vị thành niên chiếm 20% dân số thế giới.Trong
khi khái niệm thanh niên khác nhau theo từng nền văn hóa thì toàn thế giới


sức khỏe giúp cơ thể nâng cao sức đề kháng và hoàn thiện các chức năng sinh
sản.
Người nam và người nữ trong giai đoạn vị thành niên do chưa có nhiều
kinh nghiệm trong cuộc sống tình dục, mặt khác họ lại có nhu cầu tự khám


Khóa luận tốt nghiệp

Nông Thị Trinh k29c Sinh- KTNN

phá cảm xúc bản thân như một lẽ tự nhiên mang tính bản năng sinh học. Do
đó họ cần phải trang bị cho mình những hiểu biết về tình dục an toàn. Đặc biệt
là không nên quan hệ tình dục ở lứa tuổi vị thành niên.
1.2.1.4. Những đánh giá lầm lẫn về bản năng tính dục của vị thành niên.
Rất nhiều người lớn tuổi tin rằng : Thanh niên trẻ thường bừa bãi trong
quan hệ tình dục. Nhiều người cho rằng nếu cung cấp thông tin đầy đủ cho
tuổi trẻ, giúp họ phòng tránh thai và các bệnh lây truyền qua đường tình dục
thì sẽ vẽ đường cho hươu chạy. Một số giả định sai lầm nữa cho rằng cách
tốt nhất để cho vị thành niên là nói với họ những gì không nên làm.
Lứa tuổi vị thành niên là một giai đoạn đặc biệt trong quá trình phát triển
của đời người, có thể nói đây là giai đoạn có tính chất bản lề chuyển từ trẻ em
thành người trưởng thành. Đối với trẻ vị thành niên, mọi vấn đề về giới tính
đều rất nhạy cảm, chính vì thế nếu chỉ khơi gợi sự tò mò của VTN thì sẽ làm
cho họ muốn thử làm điều mà người lớn khuyên không nên làm. Vì vậy,
điều quan trọng hơn là cần trang bị cho vị thành niên những kiến thức cần
thiết vè SKSS để từ đó họ biết cách tự bảo vệ mình.
1.2.1.5. Một số đặc tính của vị thành niên đối với hành vi tình dục
Do đặc điểm phát triển của lứa tuổi chưa hoàn toàn ổn định về nhiều chức
năng sinh lí nên trẻ thường hay có những thay đổi thất thường thể hiện qua các
hành vi tính dục về sinh lí, xúc cảm, nội tiết. Chẳng hạn, những bối rối khi va

sinh sản, các chức năng và quá trình sinh sản chứ không phải chỉ là không có
bệnh tật hay tổn thương hệ thống sinh sản[5]
Như vậy, SKSS là sự hoàn hảo về bộ máy sinh sản đi đôi hài hòa giữa nhịp
sinh học và xã hội. Định nghĩa về SKSS này đã được chấp nhận tai hội nghị
quốc tế về dân số và phát triển họp tại Cairo tháng 4/1994.
SKSS không chỉ giới hạn ở sức khỏe người mẹ mà nó còn bao gồm cả
những vấn đề liên quan đến quá trình sinh sản của cả nam và nữ đến sự an
toàn và hạnh phúc trong đời sống tình dục. Đồng thời, nhấn mạnh nhiều đến
quyền tự quyết của phụ nữ với việc sinh đẻ của họ. SKSS có ý nghĩa xã hội, y
học sâu sắc rất nhân bản vì đã nâng cao những yêu cầu bảo vệ chức năng đặc
thù của phụ nữ là chức năng sinh sản.
Tóm lại, SKSS bao gồm 4 điểm chính sau :[5]
- Thứ nhất : Thai nghén và sinh đẻ an toàn, sinh con khỏe và lành mạnh, có
điều kiện nuôi con bằng sữa mẹ.


Khóa luận tốt nghiệp

Nông Thị Trinh k29c Sinh- KTNN

- Thứ hai : Đời sống tình dục an toàn và thỏa mãn, là sự thoải mái bằng
lòng, không lo lắng băn khoăn về bộ máy sinh sản.
- Thứ 3: Là quyền được quyết định liên quan đến thai nghén và sinh đẻ, nạo
thai an toàn và hợp pháp.
- Thứ 4: Là được chữa các bệnh về tình dục và vô sinh để được hưởng quyền
lợi.
Vì vậy SKSS cũng hàm ý là mọi người đều có thể:
+ Có cuộc sống tình dục thoải mái, an toàn.
+ Tự do quyết định sinh con.
+ Tiếp cận các thông tin và các biện pháp KHHGĐ, an toàn, hiệu quả.

dung rộng hơn, không chỉ liên quan đến khả năng sinh sản của con người mà
còn liên quan đến những quyền cơ bản của con người như : Quyền được lựa
chon bạn tình, quyền được làm chủ cơ thể, quyền được có hạnh phúc tình dục,
quyền không bị lạm dụng tình dục, quyền được tiếp cận với các biện pháp
phòng ngừa bệnh LTQĐTD.[1]
1.2.3.

Nhận thức về tầm quan trọng của sức khỏe sinh sản và sức

khỏe tình dục.

1.2.3.1. Tại sao sức khỏe sinh sản và sức khỏe tình dục lại quan trọng?
Trong mọi xã hội và ở mọi nền văn hóa, SKS S và SKTD bao giờ cũng là
phần trung tâm của tổng thể sức khỏe của con người cho cả cuộc đời. Đó là
phần quyết định nhất cho sự phát triển của con người. Hành vi sinh sản và tình
dục lành mạnh tạo điều kiện thuận lợi để có sức khỏe tốt cho cả nam và nữ
trong những năm của thời kỳ sinh sản và sau đó, nó làm cho cuộc sống của
con người trong xã hội trở nên thú vị và huyền diệu. Đồng thời nó còn ảnh
hưởng quan trọng đến sức khỏe của các thế hệ sau.[1]
1.2.3.2. Tại sao sức khỏe sinh sản và sức khỏe tình dục lại đặc biệt quan
trọng đối với phụ nữ?
Trong khi SKSS và SKTD là nhu cầu phổ biến của tất cả mọi người thì đối
với phụ nữ lại có tầm quan trọng đặc biệt, nhất là trong những tháng năm độ
tuổi sinh sản. Phụ nữ phải chịu gánh nặng lớn nhất về vấn đề sức khỏe liên
quan đến sinh sản và tình dục do nhiều lí do như : Đặc điểm sinh lí, chức năng
giới tính phải mang thai sinh đẻ và nhiều khi còn do tâm lí thụ động trong đời
sống tình dục.


Khóa luận tốt nghiệp

những trường hợp đáng tiếc đã xảy ra.[5]


Khóa luận tốt nghiệp

Nông Thị Trinh k29c Sinh- KTNN

Mỗi ngày trên thế giới có ít nhất 1600 phụ nữ chết do biến chứng của thai
nghén và sinh đẻ. Biến chứng do thai nghén sinh đẻ và nạo phá thai không an
toàn là nguyên nhân dẫn đến tử vong hoặc vô sinh.[5]
1.2.3.6. Thế nào là quyền sinh sản?
Quyền sinh sản(nêu trong chương trình hành động của hội nghị quốc tế về
dân số và phát triển năm 1994 tại Cairo viết tắt là ICPD), được nêu lên dựa
trên những phát biểu về nhân quyền. Bao gồm quyền có một đời sống về tình
dục an toàn và thỏa mãn, có khả năng sinh đẻ và được tự do quyết định muốn
đẻ hay không, đẻ khi nào và đẻ bao nhiêu. Điều cuối của phát biểu trên muốn
nói rằng phụ nữ, nam giới và VTN có quyền được biết và tiếp cận với mọi loại
dịch vụ y tế có chất lượng cao, có quyền có được những thông tin về SKSS để
có thể chủ động tiếp cận với các biện pháp sinh sản an toàn và có hiệu quả, có
thể chấp nhận và lựa chọn các dịch vụ điều khiển sinh sản trong giới hạn của
luật pháp. Những quyền này cũng bao gồm cả sự không phải chịu đựng mọi
loại hình bạo lực, ép buộc và phân biệt nào.[16]
1.2.3.7. Thế nào là chăm sóc sức khỏe toàn diện?
Điều này cũng được nêu lên trong chương trình hành động ICPD - 1994
nói trên. Một hệ thống chăm sóc SKSS được coi là toàn diện bao gồm những
công việc như sau: Dịch vụ, thông tin và tư vấn có chất lượng cao về KHHGĐ,
chăm sóc trước, trong và sau khi đẻ. Chăm sóc sức khỏe cho trẻ em, kể cả
tuyên truyền nuôi con bằng sữa mẹ, phòng ngừa và điều trị các bệnh
LTQĐTD và nhiễm khuẩn ở đường sinh sản, nạo phá thai an toàn và sử lí các
biến chứng liên quan đến nạo phá thai, điều trị vô sinh, thông tin giáo dục và

- Các hiểu biết về sinh lí thụ thai, các biện pháp tránh thai chưa đầy đủ hoặc
chưa được hướng dẫn đầy đủ.
- Khi có thai có các biểu hiện tâm lí bất thường như : Xấu hổ, lúng túng sợ
tai tiếng nên không đến các cơ sở y tế KHHGĐ để có những lời khuyên thích
đáng, dẫn đến phá thai muộn thường gây hậu quả không tốt.
- Tỷ lệ tai biến do xảy thai cao hơn lứa tuổi ngoài 20
- Nguy cơ tử vong do sinh đẻ cao
- Tỷ lệ phải can thiệp khi sinh cao
- Nạo hút thai không an toàn dẫn đến tăng tỷ lệ tử vong
- Tăng tỷ lệ nhiễm độc thai nghén


Khóa luận tốt nghiệp

Nông Thị Trinh k29c Sinh- KTNN

- Mẹ thiếu máu, suy dinh dưỡng.
- Tỷ lệ trẻ em thiếu cân tăng.

1.5. Nguy cơ lây nhiễm bệnh lây truyền qua đường tình dục và
HIV/AIDS.

Theo tổ chức y tế thế giới, hàng năm có 250 triệu người mới bị nhiễm các
bệnh LTQĐTD mà hàng đầu là ở lứa tuổi 20 - 24, sau đó là 15 - 19 tuổi.[10]
Lí do lây nhiễm bệnh LTQĐTD cao ở lứa tuổi VTN là :
- Không hoặc ít dùng bao cao su khi quan hệ tình dục
- Do có những cuộc tình ngẫu hứng nên không phòng hộ hoặc không biết
cách phòng hộ
- Nguy cơ lớn nhất là có quan hệ tình dục với nhiều đối tượng hoặc 1 đối
tượng nhưng họ có nhiều bạn tình.

Trước hết phải đáp ứng đầy đủ yêu cầu hiểu biết những dịch vụ mà VTN
cần biết.
Xác định vai trò của gia đình và xã hội đối với VTN. Do đó, việc giáo dục
giới tính có vai trò quan trọng đối với tuổi vị thành niên.
1.8.1.1. Mục đích của việc giáo dục giới tính

Xây dựng nhân cách cho VTN để nhân cách ấy phát triển phù hợp với yêu
cầu, nguyện vọng của xã hội. Biểu hiện cụ thể :
+ Sự hài hòa giữa quyền lợi cá nhân và trách nhiệm xã hội
+ Xây dựng mối quan hệ nhân văn có trách nhiệm, bình đẳng giữa nam, nữ.
+ Yêu đương lành mạnh trong sáng.
1.8.1.2.Nội dung thông tin giáo dục truyền thông.

- Giáo dục về giới tính, SKSS và SKTD ở tuổi VTN
- Những nguy cơ do thai sản ở tuổi VTN
- Cung cấp các thông tin và cách phòng chống các bệnh LTQĐTD
- Phổ biến vệ sinh kinh nguyệt, vệ sinh bộ phận sinh dục
- Những nguy cơ dẫn đến vô sinh
- Giải thích những đồn đại không đúng về tuổi VTN
1.8.2. Nội dung về tư vấn
- Nguy cơ và ảnh hưởng có thai sớm
- Cung cấp và sử dụng các biện pháp tránh thai
- Nạo hút thai an toàn
- Vệ sinh kinh nguyêt, vệ sinh bộ phận sinh dục


Khóa luận tốt nghiệp

Nông Thị Trinh k29c Sinh- KTNN


Khóa luận tốt nghiệp

Nông Thị Trinh k29c Sinh- KTNN

- Vòng tránh thai : Được làm bằng kim loại, có tác dụng làm thể vàng tiêu
nhanh dẫn đến hiện tượng làm giảm hoocmon trợ thai làm cho phôi không
phát triển và làm tổ được.
Chương II: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
2.1.đối tượng
Đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là các em học sinh lớp 8 THCS thuộc
2 trường của huyện Hoà An tỉnh Cao Bằng, với tổng số đối tượng nghiên cứu
là 302 em ở lứa tuổi 13,14, 15.
- Trường THCS Nước Hai huyện Hoà An tỉnh Cao Bằng gồm 3 lớp : 8A,
8B, 8C với 140 em học sinh, trong đó có 68 nam và 72 nữ (Lớp 8A,8B thuộc
khối thực nghiệm và 8C thuộc khối đối chứng)
- Trường THCS Đức Long huyện Hoà An tỉnh Cao Bằng gồm 162 em học
sinh, trong đó có 79 nam và 83 nữ (Lớp 8A, 8B thuộc khối đối chứng và lớp
8C thuộc khối thực nghiệm)
2.2. Phương pháp nghiên cứu
-Phương pháp chọn đối tượng nghiên cứu : Các đối tượng được chọn theo
phương pháp điều tra ngang. Điều tra trên hàng loạt các em học sinh ở cùng
một lứa tuổi, trong cùng 1 thời gian tại khu vực được chọn
-Phương pháp tiến hành giảng dạy :
+ Đọc và nghiên cứu tài liệu, bổ sung kiến thức giáo dục SKSS vào bài giảng
SH 8
+Tiến hành giảng các bài trong chương trình SH 8 có kiến thức bổ sung cho
khối thực nghiệm và giảng chương trình bình thường cho khối đối chứng
- Phương pháp trắc nghiệm
+ Nghiên cứu tài liệu, soạn các câu hỏi trắc nghiệm dựa vào nội dung giảng
dạy


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status