Khóa luận tốt nghiệp
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT
Các từ viết tắt
Viết đầy đủ
1
ĐV
Động vật
2
ĐVNS
Động vật nguyên sinh
3
HS
Học sinh
4
SGK
Khoa Sinh - KTNN
Khóa luận tốt nghiệp
PHẦN MỘT: MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Thế kỉ XXI, thế kỉ của nền văn minh nhân loại, thế kỉ của cuộc cách mạng
lớn của thời đại như: cách mạng truyền thông, cách mạng tin học, cách mạng
công nghệ… và sự phát triển như vũ bão của khoa học kĩ thuật đang tác động
mạnh mẽ đến toàn bộ đời sống xã hội, sự nghiệp giáo dục phải luôn gắn liền
với thực tiễn đời sống xã hội.
Nhận thức được xu thế đó, Đảng ta khẳng định: “ Giáo dục và đào tạo là
quốc sách hàng đầu”. Để thực hiện quan điểm này nhà nước đã xây dựng
chiến lược phát triển GD – ĐT 2001 – 2010. Trong đó mục tiêu quan trọng
trong chiến lược phát triển giáo dục đến năm 2010 chính là: “Đổi mới mục
tiêu, nội dung, phương pháp và chương trình giáo dục”. Nhằm nâng cao dân
trí, bồi dưỡng nhân tài, đào tạo nguồn lực chất lượng cao phục vụ sự công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Trong khi đó phần lớn GV ở vùng sâu vùng xa vẫn dạy học theo phương
pháp cũ: GV truyền đạt kiến thức, HS nghe và ghi nhớ, HS học một cách máy
móc, thụ động. Vậy làm thế nào để HS có thể học tích cực bằng hành động
của chính mình trước những tình huống, những vấn đề cụ thể, đặc biệt là
những vấn đề thực tế cuộc sống vô cùng phong phú. Người học phải tự mình
tìm hiểu, phân tích, xử lý tình huống, giải quyết vấn đề để tạo ra những con
người năng động sáng tạo, đáp ứng nhu cầu xã hội.
Do đó đổi mới phương pháp dạy học là vấn đề cấp bách, có thể đổi mới
nhiều phương pháp khác nhau như ứng dụng công nghệ thông tin. Xuất thân
từ vùng miền núi còn khó khăn, cơ sở vật chất còn thiếu thốn thì phương pháp
dạy học truyền thống vẫn là một ưu thế. Trong các phương pháp dạy học
5.2. Nghiên cứu thực trạng xây dựng và sử dụng câu hỏi thuộc chương
II - Cấu trúc tế bào, Sinh học 10 - THPT (Ban cơ bản) của một số GV ở một
số trường THPT
Lê Thị Tám
3
Khoa Sinh - KTNN
Khóa luận tốt nghiệp
5.3. Phân tích cấu trúc các bài thuộc chương II - Cấu trúc tế bào, Sinh
học 10 – THPT (Ban cơ bản) làm cơ sở cho việc xây dựng và sử dụng câu
hỏi
5.4. Xây dựng hệ thống câu hỏi để dạy chương II - Cấu trúc tế bào,
Sinh học 10 – THPT (Ban cơ bản)
5.5. Thiết kế giáo án có sử dụng một số câu hỏi đã xây dựng vào một số
bài cụ thể thuộc chương II - Cấu trúc tế bào, Sinh học 10 – THPT (Ban cơ
bản)
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Nghiên cứu lí thuyết
Nghiên cứu tài liệu có liên quan làm cơ sở lí luận cho đề tài như: Lí
luận dạy học sinh học, phương pháp dạy học tích cực, Kĩ thuật dạy học …các
tài liệu về câu hỏi khác như: SGK, sách giáo viên, sách thiết kế bài giảng…
6.2. Điều tra
Điều tra tình hình xây dựng và sử dụng câu hỏi thuộc chương II - Cấu
trúc tế bào, Sinh học 10 – THPT (Ban cơ bản) của một số GV ở trường
THPT làm cơ sở thực tiễn cho đề tài.
6.3. Phương pháp chuyên gia
1.1.1. Khái niệm câu hỏi trong dạy học
1.1.1.1. Bản chất câu hỏi
“Hỏi” là nêu ra điều mình muốn người khác trả lời về vấn đề nào đó.
Trong dạy học, Aristotle là người đầu tiên biết phân tích câu hỏi dưới góc độ
logic và lúc đó ông cho rằng đặc trưng câu hỏi là buộc người hỏi phải lựa
chọn các biện pháp có tính trái ngược nhau. Do đó con người phải có phản
ứng lựa chọn hoặc cách hiểu này hoặc cách hiểu khác. Tư tưởng quan trọng
bậc nhất của ông còn nguyên giá trị đó là “Câu hỏi là một mệnh đề trong đó
chứa đựng cái đã biết và cái chưa biết ”
Câu hỏi = Cái đã biết + Cái chưa biết
Như vậy trong đời sống cũng như nghiên cứu khoa học con người chỉ
nêu ra những thắc mắc tranh luận khi biết chưa đầy đủ cần biết thêm. Còn khi
không biết gì hoặc biết tất cả về sinh vật nào đó thì không có gì để hỏi về sinh
vật đó nữa. Do đó tương quan giữa cái đã biết và cái chưa biết thúc đẩy mở
rộng hiểu biết của con người. Con người muốn biết một sự vật hiện tượng nào
đó dứt khoát chỉ biết khi người đó đặt được câu hỏi: Đó là cái gì? Nó Như thế
nào? Vì sao?...
Đề Các cho rằng, không có câu hỏi thì không có tư duy cá nhân cũng
như tư duy nhân loại. Ông cũng nhấn mạnh dấu hiệu bản chất của câu hỏi là
phải có mối liên hệ giữa cái đã biết và cái chưa biết. Phải có tỉ lệ phù hợp
giữa hai đại lượng đó thì chủ thể nhận thức mới xác định phương hướng mình
Lê Thị Tám
6
Khoa Sinh - KTNN
Khóa luận tốt nghiệp
Khóa luận tốt nghiệp
- Dạy học bằng câu hỏi giúp GV đánh giá HS về mặt kiến thức, thái độ,
vì câu hỏi là biện pháp phát hiện, tự phát hiện thông tin ngược về kết quả
nhận thức.
- Dạy học bằng câu hỏi khắc phục được tình trạng nhớ máy móc, HS
được tham gia với vai trò như những nhà khoa học phát hiện ra kiến thức. Do
đó giờ học không còn trở nên nặng nề, giảm tải cho HS.
Như vậy dạy học bằng câu hỏi vừa giúp HS lĩnh hội được tri thức một
cách chủ động, vừa rèn cho các em các thao tác tư duy độc lập, tích cực, sáng
tạo, vừa rèn luyện phương pháp học tập. Câu hỏi là phương tiện tổ chức dạy
học tích cực. Do đó, GV khi tổ chức dạy học bằng bất kì phương pháp tích
cực nào thì đều rất cần chuẩn bị câu hỏi gợi mở giúp HS tự lực đối với mục
tiêu hoạt động.
1.1.1.3. Các loại câu hỏi
Câu hỏi và bài tập rất đa dạng và được phân loại theo nhiều cách khác
nhau dựa vào các tiêu chí khác nhau. Trong dạy học, khi xây dựng và lựa
chọn câu hỏi phù hợp với nội dung dạy học để có thể phát huy được tính tích
cực học tập của HS thì GV phải nắm vững các loại câu hỏi.
* Dựa vào năng lực nhận thức người ta có thể có nhiều cách phân loại
khác nhau:
- Cách một: có hai loại chính
+ Loại câu hỏi đòi hỏi tái hiện các kiến thức, sự kiện, nhớ và trình bày
một cách có hệ thống, có chọn lọc.
+ Loại câu hỏi đòi hỏi sự thông hiểu, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa,
hệ thống hóa, vận dụng kiến thức.
Lê Thị Tám
Lê Thị Tám
9
Khoa Sinh - KTNN
Khóa luận tốt nghiệp
4- Phân tích: Câu hỏi yêu cầu HS phân tích nguyên nhân hay kết quả của
một hiện tượng, tìm kiếm bằng chứng cho một luận điểm.
Ví dụ: Giải thích tại sao Ti thể lại được coi là nhà máy năng lượng của tế
bào?
5- Tổng hợp: Câu hỏi yêu cầu HS vận dụng phối hợp các kiến thức đã có để
giải đáp các vấn đề khái quát hơn bằng suy nghĩ sáng tạo của bản thân.
Ví dụ: Làm thế nào để khi xào rau muống không bị quắt dai mà vẫn xanh
dòn?
6- Đánh giá: Câu hỏi yêu cầu HS nhận định, phán đoán về ý nghĩa kiến thức,
giá trị của tư tưởng, vai trò của một học thuyết…
Ví dụ: Kích thước nhỏ đem lại ưu thế gì cho tế bào nhân sơ?
Thực tế phổ biến là đa số GV đang sử dụng câu hỏi ở mức 1 và 2.
Muốn phát huy tính tích cực của học tập của HS, cần phát triển loại câu hỏi ở
các mức từ 3-6.
1.1.2. Xây dựng câu hỏi
1.1.2.1. Nguyên tắc xây dựng câu hỏi
Hiệu quả của câu hỏi trong dạy học phụ thuộc rất nhiều vào việc xây
dựng câu hỏi như thế nào. Do đó khi xây dựng câu hỏi trong khâu nghiên cứu
tài liệu mới cần chú ý một số nguyên tắc sau:
1. Đảm bảo nội dung khoa học, cơ bản, chính xác của kiến thức.
Câu hỏi, bài tập dùng để mã hóa nội dung bài học nên chúng cần được
logic hệ thống cho từng nội dung SGK, cho một bài, chương, một phần, cả
chương trình môn học.
Mỗi câu hỏi hay một nhóm câu hỏi xây dựng sao cho khi trả lời HS sẽ
nhận được một lượng kiến thức nhất định theo một hệ thống và một chủ đề
trọn vẹn.
4. Phù hợp với trình độ, đối tượng HS
Tùy trình độ, đối tượng HS mà xác định câu hỏi về số lượng và chất
lượng cho phù hợp. Nói cách khác câu hỏi phải vừa sức với HS để hạn chế sự
Lê Thị Tám
11
Khoa Sinh - KTNN
Khóa luận tốt nghiệp
chán nản từ phía người học. Trong mỗi tiết học hay phần học câu hỏi đặt ra
phải đi từ dễ đến khó, nội dung yêu cầu của câu hỏi phải ngắn gọn, rõ ràng,
chính xác.
1.1.2.2. Quy trình xây dựng câu hỏi
Để xây dựng được câu hỏi phục vụ cho dạy học có thể thực hiện theo
quy trình gồm 5 bước sau:
Bước 1: Xác định rõ mục tiêu kiến thức
Bước2 : Liệt kê và sắp xếp cái cần hỏi
Bước 3: Diễn đạt cái cần hỏi bằng câu hỏi hoặc bài tập
Bước 4: Xác định nội dung trả lời cho từng câu hỏi
Bước 5: Chỉnh sửa lại nội dung và hình thức diễn đạt của câu hỏi để đưa
vào sử dụng
1.1.3. Yêu cầu sư phạm của câu hỏi
Dùng câu hỏi để định hướng vấn đề học tập.
Khi nghiên cứu một vấn đề chứa đựng nhiều nội dung, GV cần định
hướng cho người học bằng câu hỏi giúp người học xác định được vấn đề nào
là cơ bản, đặc điểm nào là bản chất, cần tập trung đi sâu vào những khía cạnh
nào của vấn đề,…
Ví dụ: Khi dạy bài 11, Sinh học 10 – THPT (Ban cơ bản) “ Vận chuyển
các chất qua màng sinh chất”, GV có thể định hướng vấn đề học tập như sau:
chúng ta đã biết cấu trúc của màng tế bào, vậy cấu trúc đó phù hợp với chức
năng vận chuyển qua màng sinh chất như thế nào? Có những hình thức vận
chuyển nào qua màng? Các hình thức vận chuyển đó có gì giống và khác
nhau? Chúng ta cùng nhau tìm câu trả lời khi học bài hôm nay.
Dùng câu hỏi để hướng dẫn HS quan sát.
Để định hướng cho HS trong quá trình quan sát, GV cần xây dựng các
câu hỏi để người học biết mình cần phải quan sát cái gì và cần rút ra kết luận
gì khi quan sát.
Lê Thị Tám
13
Khoa Sinh - KTNN
Khóa luận tốt nghiệp
Ví dụ: Khi dạy bài 8, Sinh học 10 – THPT (Ban cơ bản) “ Tế bào nhân
thực”, GV có thể sử dụng câu hỏi để hướng dẫn HS quan sát.
+ Quan sát hình 8.1a, liệt kê các bào quan của tế bào động vật từ ngoài
vào trong?
+ Quan sát hình 8.1, cho biết vị trí của lưới nội chất hạt và lưới nội chất
trơn? Chúng có thông thương với nhau không?
Ví dụ:
Quan sát hình 8.2 SGK cho biết chức năng quan trọng của bộ máy Gôngi?
Dựa vào SGK hãy cho biết cấu trúc và chức năng của không bào?
1.1.4.3. Sử dụng câu hỏi trong bài lên lớp
* Chuẩn bị câu hỏi trong bài soạn
Để phát triển các phương pháp dạy học tích cực, trong khâu soạn bài cần
coi trọng khâu chuẩn bị câu hỏi. Tùy đặc điểm trình độ HS, tùy phương pháp
được chọn mà quyết định số lượng và chất lượng câu hỏi cho phù hợp.
Cần tránh khuynh hướng hình thức, đặt câu hỏi ở những vấn đề dễ hỏi
chứ không phải ở chỗ cần hỏi. Cũng cần tránh tùy tiện đặt câu hỏi tức thì tại
lớp mà không chuẩn bị. Mỗi bài học cần có câu hỏi then chốt nhằm vào mục
đích nhận thức xác định, trên cơ sở đó, khi lên lớp sẽ phát triển thêm câu hỏi
phụ tùy theo diễn biến của tiết học.
Những đặc điểm sau đây cần chú ý về mặt kĩ thuật:
- Đặt câu hỏi cho khớp với nội dung chính trong bài
- Cần quan tâm đến trình tự logic của câu hỏi đặc biệt khi áp dụng
phương pháp vấn đáp phát hiện. Ở giai đoạn đầu có thể bố trí các câu hỏi
kiểm tra sự kiện trước, tiếp đó là những câu hỏi có yêu cầu cao về năng lực
nhận thức. Như vậy bài học dễ thành công hơn, nhất là khi HS chưa quen với
phương pháp dạy học tích cực.
- Sau khi soạn bài xong nên kiểm tra lại xem câu hỏi có phù hợp với
trình độ HS không, có đủ rõ ràng chính xác không. Những GV chưa có kinh
nghiệm cần coi trọng khâu này…
Lê Thị Tám
15
Khoa Sinh - KTNN
Khoa Sinh - KTNN
Khóa luận tốt nghiệp
- Tạo ra một không khí trong lớp học chấp nhận có thể thiếu sót để HS
không quá sợ khi trả lời, các HS yếu kém không mặc cảm về trình độ của
mình.
- Khuyến khích, động viên sự cố gắng của HS. Nếu GV tin ở sự cố gắng
của HS thì các em thêm nỗ lực phấn đấu không nản chí.
- GV nên trân trọng mỗi tiến bộ nhỏ của HS tuy nhiên không nên lạm
dụng quá lời khen.
1.2. Cơ sở thực tiễn
Để xác định được thực trạng của việc xây dựng và sử dụng câu hỏi
trong dạy học chúng tôi đã điều tra kĩ năng xây dựng và sử dụng câu hỏi của
GV dạy Sinh học tại một số trường THPT.
* Nội dung điều tra
- Phương pháp dạy học của GV.
- Kĩ năng xây dựng câu hỏi của GV.
- Kĩ năng sử dụng câu hỏi của GV.
- Những khó khăn khi xây dựng và sử dụng câu hỏi.
* Đối tượng điều tra
Điều tra một số giáo viên ở một số trường THPT ở Tuyên Quang ( trường
THPT Tân Trào, THPT Nguyễn Văn Huyên).
* Phương pháp điều tra
Sử dụng phiếu thăm dò (nội dung phiếu thăm dò xem ở phụ lục). Ngoài ra tôi
còn tiến hành dự giờ, tìm hiểu giáo án, trao đổi với một số giáo viên.
* Kết quả điều tra
- Phương pháp dạy học mà phần lớn GV vẫn sử dụng phương pháp
thuyết trình, một số giáo viên sử dụng phương pháp vấn đáp, một số giáo viên
* Nguyên nhân
- Nguyên nhân chủ quan:
+ Nhiều GV còn ngại khó, sợ mất thời gian, ngại suy nghĩ đầu tư cho
chuyên môn của mình.
Lê Thị Tám
18
Khoa Sinh - KTNN
Khóa luận tốt nghiệp
+ Nhiều GV cho rằng chỉ nên đặt câu hỏi cho HS giỏi, còn HS bình
thường thì hỏi chỉ làm mất thời gian.
- Nguyên nhân khách quan:
+ Mâu thuẫn giữa khối lượng kiến thức của mỗi bài học với thời gian
của mỗi tiết dạy.
+ Tâm lí của HS coi Sinh học là môn phụ nên không hứng thú và lười
học, lười suy nghĩ. Mặt khác, HS đã quen học thuộc nội dung mà chưa chú ý
phân tích nội dung, chứng minh bản chất nội dung.
Như vậy, từ thực trạng về kĩ năng xây dựng và sử dụng câu hỏi của GV
dạy phổ thông và từ nguyên nhân của thực trạng đó tôi đã tiến hành nghiên
cứu đề tài này nhằm xây dựng và sử dụng câu hỏi để làm phương tiện tổ chức
các hoạt động dạy học trong Chương II - Cấu trúc tế bào, Sinh học 10 –
THPT (Ban cơ bản) nhằm góp phần nâng cao hiệu quả dạy học.
Lê Thị Tám
19
Lê Thị Tám
20
Khoa Sinh - KTNN
Khóa luận tốt nghiệp
Chương IV: Phân bào
Cơ thể sinh trưởng và phát triển được là nhờ các quá trình phân bào của
tế bào. Phân bào gồm hai hình thức trực phân (không có tơ vô sắc) và giảm
phân (có tơ vô sắc) bao gồm nguyên phân và giảm phân, hình thức phân bào
chủ yếu của tế bào nhân chuẩn. Nhờ nguyên phân mà số lượng tế bào tăng lên
qua các thế hệ tế bào. Đồng thời vẫn duy trì ổn định được bộ nhiễm sắc thể
lưỡng bội (2n) của loài. Giảm phân tạo ra các giao tử đơn bội (n) tham gia
vào quá trình thụ tinh. Thụ tinh phục hồi bộ NST 2n của loài thông qua sự kết
hợp của hai giao tử đực và cái.
2.1.2. Phân tích nội dung chương II
a. Vị trí của chương
Đây là chương thứ hai của phần Sinh học tế bào, được sắp xếp sau
chương I– Thành phần hoá học của tế bào.
Kiến thức chương II liên quan mật thiết với kiến thức chương I. Sau khi
HS đã biết được các thành phần tham gia vào cấu tạo tế bào và chức năng của
từng phần đó, thì sang chương II các em sẽ rõ hơn chức năng của chúng trong
việc cấu trúc nên từng thành phần của tế bào, các bào quan. Các thành phần
đó liên hệ với nhau như thế nào. Đồng thời kiến thức chương II đặc biệt các
bài 8, 9, 10, 11 còn là kiến thức cơ sở để HS tiếp thu kiến thức chương III,
IV.
b. Logic chương.
Để nghiên cứu về tế bào nhân sơ, trước hết phải nắm các đặc điểm
chung của tế bào nhân sơ. GV cần lưu ý HS hiểu tại sao tế bào lại cần có kích
thước nhỏ. Cấu tạo của tế bào nhân sơ, GV cần lưu ý giúp HS nắm đựơc tế
bào nhân sơ có cấu tạo đơn giản thể hiện ở đặc điểm. Trong tế bào chất không
có hệ thống nội màng chia tế bào thành các khoang nhỏ. Tế bào không có các
bào quan bao bọc mà chỉ có ribôxôm với kích thước nhỏ.
Ngoài ra, cũng cần cho HS thấy hầu hết các loài vi khuẩn đều có các
thành tế bào. Biết được các đặc điểm khác nhau này, chúng ta có thể lấy các
Lê Thị Tám
22
Khoa Sinh - KTNN
Khóa luận tốt nghiệp
loại thuốc kháng sinh để tiêu diệt vi khuẩn gây bệnh, mà không làm tổn
thương đến tế bào người.
Bài 8. Tế bào nhân thực
Đây là bài thứ hai của chương, nhưng là bài có kiến thức khác so với bài
đầu tiên của chương. Sau khi học xong bài này một phần sẽ giúp HS so sánh
được điểm khác biệt giữa tế bào nhân sơ và tế bào nhân thực.
GV có thể giải thích cho HS hiểu tại sao lại gọi là tế bào nhân thực. Tế
bào nhân thực là tế bào có vật chất di truyền được bao bọc bởi màng nhân.
Trong bài này GV không nên chú trọng đến việc truyền thụ kiến thức,
mà nên tập trung vào rèn luyện kĩ năng cho HS. Về nội dung kiến thức HS có
thể tự đọc SGK. GV có thể giới thiệu sơ qua về đặc điểm, chức năng của:
Nhân tế bào, hệ thống lưới nội chất, ribôxôm và bộ máy gôngi. GV cần chú ý
tạo ra các hoạt động về thí nghiệm chuyển nhân. Để HS thấy đựơc bằng cách
Khi tế bào bị tổn thương không thể phục hồi được thì Liôxôm
tự vỡ và giải phóng các enzim phân huỷ luôn tế bào, hoặc khi tế bào bạch cầu
của người bắt giữ vi khuẩn lây bệnh bằng con đường thực bào thì sau đó
Lizôxôm giải phóng enzim phân huỷ tế bào vi khuẩn.
Bài 10. Tế bào nhân thực (tiếp theo)
Là bài tiếp theo của bài 9 Tế bào nhân thực. Bài 10 sẽ hoàn thiện kiến
thức cơ bản về tế bào nhân thực
Đây cũng là một bài quan trọng, giúp HS có cái nhìn hoàn chỉnh về
toàn bộ cấu trúc và chức năng của các thành phần cấu tạo nên tế bào nhân
thực.
Trọng tâm chính của bài là màng sinh chất. Các bộ phận như khung
xương tế bào và thành tế bào chỉ cần giới thiệu sơ qua.
Khung xương tế bào chỉ có ở tế bào nhân thực. Cấu trúc này có thể ví
như 1 hệ thống khung giàn giáo được tạo thành từ vi ống, vi sợi và sợi trung
gian.
Chức năng của khung xương tế bào là làm giá đỡ cho các bào quan của
tế bào, tạo hình dạng cho tế bào động vật. Các vi ống còn là con đường cao
tốc vận chuyển các chất trong tế bào từ nơi nọ đến nơi kia. Các chất sau khi
Lê Thị Tám
24
Khoa Sinh - KTNN
Khóa luận tốt nghiệp
tổng hợp được bao gói trong túi tiết rồi vận chuyển vào vi ống. Các Vi ống và
Vi sợi cũng như sợi trung gian còn giúp tế bào di chuyển và qua đó tế bào có