Kho¸ luËn tèt nghiÖp
NguyÔn ThÞ May – K31B V¨n
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA: NGỮ VĂN
**********
NGUYỄN THỊ MAY
TÌM HIỂU TƯ TƯỞNG TÀI MỆNH
TƯƠNG ĐỐ TRONG SÁNG TÁC CỦA
NGUYỄN DU
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
HÀ NỘI – 2009
-1-
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
NguyÔn ThÞ May – K31B V¨n
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA: NGỮ VĂN
***********
NGUYỄN THỊ MAY
Tác giả khoá luận
Nguyễn Thị May
-3-
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị May K31B Văn
Lời cam đoan
Đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của cô
Nguyễn Thị Việt Hằng. Tôi xin cam đoan khoá luận này chưa từng được
công bố trong một công trình nghiên cứu nào khác. Nếu sai tôi xin hoàn toàn
chịu trách nhiệm.
Hà Nội, ngày 11 tháng 5 năm 2009
Tác giả khoá luận
Nguyễn Thị May
-4-
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị May K31B Văn
Mục lục
Mở đầu
1. Lý do chọn đề tài1
2.2.2. Hình tượng nghệ thuật..21
2.2.2.1. Nhân vật Thuý Kiều....21
2.2.2.2. Các nhân vật khác.36
2.2.3. Kết cấu cốt truyện......48
2.3. Tư tưởng tài mệnh tương đố trong thơ chữ Hán....53
2.3.1. Nhân vật hồng nhan...53
2.3.2. Nhân vật khách văn chương...58
Kết luận
64
Tài liệu tham khảo
Mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
-6-
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị May K31B Văn
Hơn mười thế kỉ trải dài của Văn học Việt Nam không ai có thể vượt
được Nguyễn Du - đó là điều có thể khẳng định cho đến thời điểm hôm
nay(Phong Lê). Nguyễn Du đã trở thành cây đại thụ mà bóng mát của nó đã
trải dài xuống cánh đồng Văn học Việt Nam và là tên tuổi được thế giới biết
đến nhiều nhất. Như một mạch nguồn không bao giờ vơi cạn, cuộc đời, sự
nghiệp văn chương của ông vẫn là đối tượng quan tâm nghiên cứu của nhiều
Trên đây là những lí do chính khiến chúng tôi lựa chọn đề tài Tìm hiểu
tư tưởng tài mệnh tương đố trong sáng tác của Nguyễn Du để nghiên cứu,
xem xét.
2. Lịch sử vấn đề
Tư tưởng tài mệnh tương đố trong sáng tác của Nguyễn Du không phải
là một vấn đề mới mẻ. Đã có rất nhiều công trình, bài viết đề cập đến vấn đề
này. Có thể kể ra một số công trình bài viết tiêu biểu như:
Phạm Quý Thích (1759 - 1825), một nhà nho cùng thời với Nguyễn Du
trong bài Đoạn trường tân thanh đề từ cho rằng cuộc đời của Thuý Kiều chịu
sự ảnh hưởng của tư tưởng tài mệnh tương đố:
Đoạn trường mộng lí căn duyên liễu
Bạc mệnh cầm chung oán hận trường
Nhất phiến tài tình thiên cổ luỵ
Tân thanh đáo để vị thuỳ thương.
(Nửa giấc đoạn trường tan gối điệp
Một dây bạc mệnh dứt cầm loan
Cho hay những kẻ tài tình lắm
Trời bắt làm gương để thế gian.)
Còn Mộng Liên Đường chủ nhân, một người gần như đồng thời với
Nguyễn Du khi viết Tựa tập Đoạn trường tân thanh đã xem tài mệnh tương đố
là câu chuyện quan trọng nhất của Truyện Kiều: Thúy Kiều khóc Đạm Tiên,
Tố Như Tử làm Truyện Thúy Kiều, việc tuy khác nhau mà lòng thì là một,
người đời sau thương người đời nay, người đời nay thương người đời xưa, hai
chữ tài tình thật là một cái thông lụy của bọn tài tử trong khắp gầm trời và
suốt cả xưa nay vậy [20, tr.169]. Quan sát này của Mộng Liên Đường chủ
nhân còn giúp chúng ta hiểu đúng bài thơ chữ Hán Độc Tiểu Thanh kí của
Nguyễn Du và nhìn thấy sự liền mạch trong suy nghĩ, cảm xúc của nhà thơ từ
-8-
Năm 1997, Đặng Thanh Lê trong cuốn Giảng văn Truyện Kiều, phân
tích về nội dung Truyện Kiều cũng cho rằng có một mối quan hệ giữa con
-9-
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị May K31B Văn
người với thế lực siêu hình - đó là mệnh trời - một trong những học thuyết cơ
bản của Nho gia mà Nguyễn Du đã nêu ra ở đoạn đầu và tiếp tục thuyết minh
ở đoạn kết thúc [11, tr.17].
Đến những năm gần đây, đa số những nhà nghiên cứu lại có cách nhìn
khác nhau đối với câu chuyện tài mệnh ghét nhau trong sáng tấc của Nguyễn
Du. Năm 2001, Phan Ngọc trong cuốn Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong
Truyện Kiều, khi nói về câu chuyện tài mệnh tương đố đã chứng minh tư
tưởng này là một sáng tạo độc đáo của Nguyễn Du so với Kim Vân Kiều
truyện. Ông chứng minh tài mệnh tương đố là vấn đề của riêng thời đại của
Nguyễn Du chứ không phải của nguyên tác: Kim Vân Kiều truyện , tác phẩm
Nguyễn Du dựa vào để viết Truyện Kiều, không hề xây dung trên thuyết tài
mệnh tương đố. Trái lai, tư tưởng chủ đạo của nó là tình và khổ Tư tưởng
gắn liền tình với khổ không phải là tư tưởng chủ đạo của Truyện Kiều [19,
tr.42]. Phan Ngọc đếm thấy thuyết tài mệnh tương đố được nhắc lại 16 lần
trong tác phẩm. Qua phân tích lịch sử xã hội Việt Nam giai đoạn thế kỷ XVIII
đầu thế kỷ XIX, ông chỉ ra rằng: Truyện Kiều phản ánh thời đại của nó và tư
tưởng tài mệnh tương đố là vay mượn ở chính thời đại chứ không phải là một
sáo ngữ như ta vẫn tưởng [19,tr.66].
Năm 2002, Trần Đình Sử trong cuốn Thi pháp Truyện Kiều cho rằng
thân mệnh tương đố mới là cảm hứng chủ đạo của Truyện Kiều chứ không
dừng lại ở Truyện Kiều mà chưa nói nhiều đến thơ chữ Hán. Trên cơ sở tiếp
thu những thành tựu ấy, chúng tôi sẽ đi vào nghiên cứu, sắp xếp thành một hệ
thống để thấy được tư tưởng tài mệnh tương đố đã chi phối rất lớn đến thế giới
quan đến toàn bộ sáng tác của Nguyễn Du từ Truyện Kiều đến thơ chữ Hán.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Làm sáng tỏ cơ sở lý luận của thuyết tài mệnh tương đố.
- 11 -
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị May K31B Văn
Nghiên cứu một cách sâu sắc và có hệ thống hơn tư tưởng tài mệnh
tương đố trong sáng tác của Nguyễn Du. Từ đó thấy được tài năng và phong
cách độc đáo của Nguyễn Du trong sáng tạo nghệ thuật.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Xây dựng cơ sở lý luận của thuyết tài mệnh tương đố.
Tìm hiểu sự thể hiện tưởng tài mệnh tương đố trong sáng tác của
Nguyễn Du.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khoá luận là Truyện Kiều và thơ chữ Hán của
Nguyễn Du.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Khoá luận tập trung nghiên cứu tư tưởng tài mệnh tương đố trong sáng
tác của Nguyễn Du. Tuy nhiên, để làm sáng tỏ hơn vấn đề mà bài viết đặt ra
Nội Dung
Chương 1
- 13 -
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị May K31B Văn
Tác giả - Tác phẩm
1.1. Tác giả
1.1.1. Hoàn cảnh lịch sử
Nguyễn Du sống và sáng tác vào nửa cuối thế kỉ XVIII nửa đầu thế kỉ
thứ XIX. Đây là thời kì chế độ xã hội phong kiến Việt Nam rơi vào tình trạng
khủng hoảng trầm trọng không có lối thoát. Những mâu thuẫn chất chứa trong
lòng xã hội phong kiến đến giai đoạn này bộc lộ gay gắt. Đó là mâu thuẫn
trong nội bộ giai cấp thống trị và mâu thuẫn giữa nông dân với vua chúa
phong kiến. Giai cấp thống trị lúc này lao vào ăn chơi sa đoạ, không chăm lo
đến việc triều chính mà tranh giành chém giết lẫn nhau. Chúa Trịnh tiếm
quyền vua Lê, đặt ra Trịnh phủ để giải quyết mọi việc chính sự còn vua Lê chỉ
ngồi làm vì. Vua tôi lẫn lộn, cương thường đảo ngược, mọi giá trị văn hoá bị
đứt tung. Nho giáo là sợi dây để cố kết xã hội cũng bị lung lay. Các giá trị văn
hoá mới chưa hình thành hoặc hình thành yếu ớt nên chúng chưa có vai trò,
tác dụng trong việc xây dựng một hệ giá trị tinh thần mới cho dân tộc. Trong
bối cảnh đó, các nhà văn, nhà thơ thời kì này không còn cách nào khác là phải
quay về các giá trị truyền thống. Nguyễn Du là một trường hợp tiêu biểu.
Những học thuyết của Nho giáo vẫn được Nguyễn Du tập trung thể hiện trong
sáng tác của mình. Tư tưởng tài mệnh tương đố là một trong những tư tưởng
được Nguyễn Du vận dụng để lý giải nguyên nhân gây ra số phận bất hạnh
làm xuất hiện tư tưởng định mệnh trong các sáng tác của ông mà chủ yếu là
thuyết tài mệmh tương đố.
1.1.2. Gia thế và bản thân
Nguyễn Du sinh ra trong một gia đình đại quý tộc có truyền thống khoa
bảng và làm quan to trong triều đình. Nhân dân Hà Tĩnh cho đến nay vẫn còn
lưu truyền câu ca dao ca ngợi về dòng họ này:
Bao giờ Ngàn Hống hết cây
Sông Rum hết nước họ này hết quan.
Thân phụ thân sinh ra Nguyễn Du là Nguyễn Nghiễm đậu nhị giáp tiến
sĩ, làm quan đến chức Đại tư đồ (Tể tướng), phong chức Xuân quận công,
thường xuyên được thăng thưởng bổng lộc. Anh đầu của Nguyễn Du là
Nguyễn Khản, đậu đồng tiến sĩ, làm quan đến chức tham tụng. Các anh khác
của ông như Nguyễn Điều, Nguyễn Dao, Nguyễn Luyện, Nguyễn Nễ đều
làm quan dưới triều nhà Lê.
- 15 -
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị May K31B Văn
Dòng họ Nguyễn Tiên Điền không chỉ nổi tiếng về truyền thống khoa
bảng mà còn đứng đầu về truyền thống văn học. Nguyễn Quỳnh, ông nội của
Nguyễn Du là một nhà triết học chuyên nghiên cứu Kinh Dịch. Nguyễn
Nghiễm là một sử gia đồng thời cũng là một nhà thơ. Cho đến nay, ông còn để
lại cuốn Việt sử bị lãm và hai tập thơ Xuân đình tạp vịnh và Quân trung liên
vịnh. Anh cả Nguyễn Khản giỏi thơ Nôm, hay làm thơ đối đáp với Trịnh Sâm.
Tương truyền Nguyễn Khản cũng là một trong những người dịch Chinh phụ
ngâm của Đặng Trần Côn ra tiếng Việt. Những người anh em khác của
quen.
Chứng kiến những cảnh tượng ấy, tự đáy lòng mình Nguyễn Du đã xót
thương và đồng cảm với những kiếp cầm ca. Đây cũng là cơ sở làm nảy sinh
tư tưởng tài mệnh tương đố trong các sáng tác của ông.
Gia đình Nguyễn Khản suy sụp, Nguyễn Du phải tha phương lưu lạc bươn
trải với sóng gió cuộc đời. Sau mười năm gió bụi ở đất Thái Bình quê vợ, sau đó lại
về sống ẩn dật ở Hà Tĩnh, cuộc sống long đong chìm nổi nghèo khó này đã cho
Nguyễn Du chứng kiến bao cảnh đời, bao kiếp người. Từ sự trải nghiệm của bản
thân và những điều thu lượm được từ chính cuộc sống đã khiến nhà thơ cố gắng đi
tìm câu trả lời để lý giải cho những nguyên nhân gây ra số phận bất hạnh cho con
người và bản thân. Nhưng do lối suy nghĩ còn hạn chế - đây là hạn chế chung của
thời đại Nguyễn Du - nên ông cho rằng nguyên nhân gây ra bất hạnh cho con
người đó là một thế lực siêu hình thần bí, là số mệnh.
Nguyễn Du chấp nhận cuộc sống lưu lạc nghèo khó chứ không chịu ra
làm quan cho triều Tây Sơn khi nhà Lê đã mất. Năm 1802, Gia Long lên ngôi
Nguyễn Du ra làm quan nhưng ông coi chuyện đó như đi tha hương ở
phương trời xa lạ. Ta thấy rõ điều này trong các sáng tác bằng chữ Hán của
ông: Tha hương thân thế thác phù vân (Thu nhật ký hứng - Nam trung tạp
ngâm) hay Tha hương bạch phát bất lão tử (Tạp ngâm - Nam trung tạp
ngâm). Tâm trạng u uẩn này cộng với chốn quan trường ganh ghét, đố kỵ
khiến cho Nguyễn Du nhìn thế giới, nhìn cuộc đời đầy bế tắc, ảm đạm.
Trong thời gian làm quan dưới triều Nguyễn, Nguyễn Du được cử làm
chánh sứ sang Trung Quốc. Trong chuyến đi ấy, nhà thơ được tiếp xúc nhiều với
nền văn hoá Trung Hoa, hiểu thêm về số phận bất hạnh của các nhân vật lịch sử
như: Khuất Nguyên, Đỗ Phủ, Lý Bạch Đây là những con người tài hoa nhưng
- 17 -
Khoá luận tốt nghiệp
của xã hội xưa thông qua nhân vật Thuý Kiều. Đó là bi kịch tài sắc, nhân
- 18 -
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị May K31B Văn
phẩm bị chà đạp, bi kịch tình yêu, bi kịch hạnh phúc gia đình tan vỡ. Qua đó,
tác giả thể hiện niềm cảm thông và trân trọng với những con người bất hạnh
trong xã hội xưa, đề cao phẩm giá con người. Đồng thời thể hiện những ước
mơ, khát vọng về nhu cầu giải phóng tình cảm cá nhân của con người, ước mơ
về công lý, công bằng sẽ được thực hiện trong xã hội.
Về mặt nghệ thuật, tác phẩm sử dụng thành công thể thơ lục bát, có sự
kết hợp nhuần nhuyễn giữa ngôn ngữ bình dân và ngôn ngữ bác học làm giàu
có và sinh động cho kho tàng ngôn ngữ dân tộc. Nguyễn Du còn đặc biệt
thành công trong nghệ thuật dẫn truyện và nghệ thuật miêu tả khắc hoạ chân
dung nhân vật tạo nên một thế giới nghệ thuật sinh động với đủ các loại người,
hạng người.
Bởi vậy, đọc Truyện Kiều không chỉ thấy được những vấn đề cốt lõi của
thời đại Nguyễn Du mà còn thấy cả bộ mặt của xã hội ngày nay, thấy cả mình
trong đó như nhà nghiên cứu Phong Lê từng nhận xét: Đọc Truyện Kiều
dường như ai cũng thấy mình trong đó, rất hiện đại, rất đương thời mà vẫn
trong khuôn hình cổ điển; rất cổ điển mà vẫn có sức vượt thời gian đến thời
hiện đại với người hôm nay, người bây giờ.
Nguyễn Du viết Truyện Kiều bằng tất cả tài năng và tâm huyết của
mình, dường như có máu chảy ở đầu ngọn bút, nước mắt thấm ở trên tờ
giấy( Mộng Liên Đường chủ nhân). Tác phẩm không chỉ là bản án đanh thép
tố cáo những thế lực đã chà đạp lên nhân phẩm con người mà còn là tiếng nói
Như vậy, đọng lại trên những sáng tác của Nguyễn Du là tình yêu
thương con người, vì con người. Đây là cơ sở để chúng ta có thể khẳng định
ông là một nhà thơ lớn, một nhà nhân đạo chủ nghĩa.
Chương 2
Tư tưởng tài mệnh tương đố trong sáng tác
của Nguyễn Du
- 20 -
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị May K31B Văn
2.1. Khái quát về tư tưởng tài mệnh tương đố
2.1.1. Tư tưởng tài mệnh tương đố trong quan niệm của Nho giáo
Trung Quốc
Tư tưởng tài mệnh tương đố bắt nguồn từ học thuyết thiên mệnh của
Nho giáo Trung Quốc. Khi nhận thức về thế giới, do quan điểm duy tâm thần
bí, Nho giáo tin có trời làm chủ tể cả vũ trụ. Trời là đấng tối cao, đấng chí tôn,
đấng tối thượng có ý chí rất mạnh chi phối vạn vật, điều khiển sự biến hoá của
thế gian cho hợp lẽ điều hoà. Cái ý chí của trời gọi là thiên mệnh. Khổng Tử người sáng lập ra học thuyết thiên mệnh của Nho giáo - tin có trời và có thiên
mệnh nên người khẳng định: Bất tri mệnh vô dĩ vi quân tử dã (Không biết
mệnh trời thì không lấy gì làm quân tử). Khi đến thăm người học trò của mình
là Bá Ngưu bị một ác tật, ông đã nắm tay và than rằng: Vô lí! Do mệnh trời
chăng? Con người như vậy mà bị bệnh đó! Con người như vậy mà bị bệnh
đó! [12, tr.217]. Mệnh ở đây là số mệnh, định mệnh, là sự tiền định sức
người không thể thay đổi được như có người sinh ra vốn thông minh, có kẻ
vốn ngu độn, người thì thọ, kẻ thì yểu. Cũng theo nghĩa đó Khổng Tử cho
Bởi vậy, dễ hiểu tại sao quan niệm của Nho giáo nhất là vấn đề thiên mệnh lại
thấm nhuần trong tư tưởng các nhà nho Việt Nam.
Tư tưởng tài mệnh tương đố phổ biến trong hầu khắp các tác phẩm thơ
văn, từ Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm đến Truyện Kiều.
Mở đầu tác phẩm Chinh phụ ngâm, Đặng Trần Côn viết:
Thiên địa phong trần
Hồng nhan đa truân.
(Thuở trời đất nổi cơn gió bụi
Khách má hồng lắm nỗi truân chuyên)
Trong Cung oán ngâm khúc, Nguyễn Gia Thiều cũng viết:
Oan chi những khách tiêu phòng
Mà xui bạc mệnh nằm trong má đào.
Sau này đến các truyện Nôm đặc biệt là truyện Nôm viết về các tài tử
giai nhân thì câu chuyện tài mênh tương đố được thể hiện rõ hơn. Trong Ngọc
Kiều Lê tân truyện và Truyện Tây Sương, Lý Văn Phức cũng đề cập đến vấn
đề này:
- 22 -
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị May K31B Văn
Tiếc cho cũng phận hồng nhan
Có khi tụ, có khi tan thiệt thòi.
(Ngọc Kiều Lê tân truyện)
ở trần dầu chẳng nợ trần
Song đà lỡ bước gian truân thế mà.
(Truyện Tây Sương)
đã được định sẵn từ trước do một lực lượng tối cao, một đấng siêu nhiên là ông
trời quyết định. Số mệnh đã định cho người tài hoa là bạc mệnh, gặp nhiều
gian truân, vất vả trong cuộc đời. Nhưng đằng sau những lực lượng thần bí ấy
là một hiện thực phức tạp.
2.2. Tư tưởng tài mệnh tương đố trong Truyện Kiều.
( Từ lý thuyết đến hình tượng nghệ thuật và kết cấu cốt truyện)
2.2.1. Lý thuyết
Trong Truyện Kiều, tư tưởng tài mệnh tương đố, hồng nhan bạc mệnh,
tạo vật đố toàn, phong thừa bỉ sắc được Nguyễn Du nhắc đi nhắc lại nhiều
lần. Đó là những lời triết lí ngoại đề có tính chất khái quát thể hiện hiểu biết,
quan điểm, tư tưởng của tác giả về vấn đề tài mệnh tương đố. Vấn đề này được
phát biểu thành một hệ thống.
Ngay phần mở đầu Truyện Kiều, Nguyễn Du đã nhắc đến mâu thuẫn
giữa Tài và Mệnh:
Trăm năm trong cõi người ta,
Chữ Tài, chữ Mệnh, khéo là ghét nhau.
Lạ gì bỉ sắc tư phong,
Trời xanh quen thói mứ hồng đánh ghen.
[3, tr.41- 42]
Nguyễn Du khái quát về quy luật tài mệnh tương đố, Tài Mệnh hai
thái cực luôn đối chọi với nhau. Tài năng bị số mệnh ghen ghét. Những người
có tài thường gặp mệnh bạc, gặp nhiều tai hoạ trong cuộc đời. Tư tưởng này
không chỉ được phát biểu ở phần mở đầu mà còn được nhắc lại liên tiếp như
một điệp khúc rùng rợn (Phan Ngọc) trong tác phẩm.
Mỗi khi nhân vật chính rơi vào một bất hạnh mới, Nguyễn Du lại thiên
vấn (hỏi trời):
- Trời làm chi cực bấy trời
- 24 -
Làm cho, cho hại, cho tàn, cho cân.
- 25 -