Khoá luận tốt nghiệp
Vũ Thị Chi - 29A Ngữ văn
Lời cảm ơn
Khoá luận được hoàn thành dưới sự chỉ bảo giúp đỡ tận tình
của cô giáo Phạm Kiều Anh - giáo viên tổ Phương dạy học Ngữ
văn. Em xin được gửi tới cô lời cảm ơn chân thành sâu sắc.
Em cũng xin trân trọng cảm ơn các thầy, các cô trong tổ
Phương pháp dạy học Ngữ văn, các thầy, các cô giáo trong khoa
Ngữ Văn - Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện
giúp đỡ em trong quá trình làm khoá luận.
Hà Nội, ngày 14 tháng 5 năm 2007
Sinh viên
Vũ Thị Chi
1
Khoá luận tốt nghiệp
Vũ Thị Chi - 29A Ngữ văn
Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng
tôi. Các số liệu trong khoá luận là trung thực. Khoá luận này
chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào. Nếu những
lời cam đoan trên là sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
9
5. Đối tượng phạm vi nghiên cứu
9
6. Phương pháp nghiên cứu
9
Nội dung
Chương 1. Các Phương pháp thuyết minh trong văn bản
10
thuyết minh
1.1. Văn bản thuyết minh
10
1.2. Phương pháp thuyết minh
11
1.2.1. Phương pháp nêu định nghĩa giải thích
11
22
sách giáo khoa Ngữ văn 8 và Ngữ văn 10
2.1. Các phương pháp thuyết minh được tổ chức dạy
3
22
Khoá luận tốt nghiệp
Vũ Thị Chi - 29A Ngữ văn
học trong sách giáo khoa Ngữ văn 8 và Ngữ văn 10
2.2. Thực trạng dạy học cuả giáo viên và học sinh
23
2.2.1. Thực trạng dạy của giáo viên
23
2.2.2. Thực trạng học của học sinh
24
2.3. Thiết kế giáo án giảng dạy
25
Kết luận
60
Tài liệu tham khảo
62
4
Khoá luận tốt nghiệp
Vũ Thị Chi - 29A Ngữ văn
Bảng các chữ viết tắt
CH
:
Câu hỏi.
GV
:
Giáo viên.
Mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Những năm gần đây nền giáo dục Việt Nam đang có những thay
đổi nhất định. Biểu hiện rõ nhất của sự thay đổi ấy là việc Bộ Giáo dục và Đào
tạo tiến hành xây dựng lại nội dung chương trình cho tất cả các môn học ở tất
cả các cấp học, bậc học. Không là ngoại lệ, phân môn Làm văn ở trường phổ
thông cũng có nhiều thay đổi. Khác với nội dung Làm văn ở các chương trình
trước đây, nội dung phân môn Làm văn trong SGK Ngữ văn hiện nay giới
thiệu rất nhiều kiểu văn bản, trong đó có văn bản thuyết minh - một kiểu văn
bản còn khá mới mẻ.
1.2. Thuyết minh là một trong những phương thức biểu đạt quan trọng
trong đời sống con người, tồn tại bên cạnh những phương thức biểu đạt khác
như: tự sự, miêu tả, nghị luận... Nó được sử dụng phổ biến trong giao tiếp
nhằm phục vụ những nhu cầu trao đổi thông tin của con người. Cho nên việc
triển khai nội dung dạy học văn bản thuyết minh là rất thiết thực. Vì đó là cơ
sở giúp giáo viên có thể rèn luyện cho học sinh khả năng xây dựng được bài
văn thuyết minh khi có nhu cầu giới thiệu một vấn đề gì đó của đời sống cho
mọi người xung quanh.
Tuy nhiên, để có thể tạo lập được những văn bản thuyết minh có giá trị
thì một trong những yếu tố quan trọng chính là phương pháp thuyết minh.Có
thể nói, phương pháp thuyết minh là cơ sở để người viết có được cách thức tổ
chức nội dung cần thuyết minh nhằm đạt được những mục đích giao tiếp nhất
định. Đáp ứng yêu cầu này, SGK Ngữ văn từ lớp 8 đến lớp 10 đã giới thiệu
những kiến thức cơ bản về phương pháp thuyết minh nhằm đáp ứng được mục
tiêu rèn cho học sinh kỹ năng tạo lập những bài văn thuyết minh hay, có giá
trị.
6
7
Khoá luận tốt nghiệp
Vũ Thị Chi - 29A Ngữ văn
2.3. Các cuốn Sách giáo viên Ngữ văn 8, 9, 10 của Bộ Giáo dục và Đào
tạo đã bước đầu giới thiệu về phương pháp thuyết minh theo những nội dung
được trình bày trong SGK Ngữ văn.
3.4. Trong cuốn: Hướng dẫn Tập làm văn 8, tác giả Vũ Nho đã đưa ra
cách làm một bài văn thuyết minh, ngoài tri thức và quy trình của bài văn
thuyết minh tác giả cũng chỉ ra một số phương pháp thuyết minh có thể sử
dụng khi tạo lập kiểu văn bản này.
2.5. Cũng bàn về phương pháp thuyết minh, trong cuốn Hướng dẫn tự
học Ngữ văn 8, các tác giả Nguyễn Xuân Lạc, Bùi Tất tươm đã nêu ra một số
phương pháp thuyết minh thường gặp và tác dụng của chúng. Các tác giả cũng
khẳng định: ... để bài văn thuyết minh có sức thuyết phục, dễ hiểu, sáng rõ,
người ta có thể sử dụng phối hợp nhiều phương pháp thuyết minh...
2.6. Trong cuốn: Để học tốt Ngữ văn 10 của Thái Quang Vinh, Thảo
Bảo My, hay cuốn: Học tốt ngữ văn 10 tập 2 của Nguyễn Thục Phương...
các tác giả đã khẳng định mối quan hệ qua lại giữa phương pháp thuyết minh
và mục đích thuyết minh, đồng thời chỉ ra các phương pháp thuyết minh (8
phương pháp) thường được sử dụng trong bài văn thuyết minh.
Như vậy, có thể nói rằng: Cho đến nay, việc nghiên cứu văn bản thuyết
minh là khá đa dạng. Trong các công trình ấy, hầu hết các nhà nghiên cứu đề
đề cập đầy đủ những kiến thức và kĩ năng xây dựng văn bản thuyết minh song
các công trình này vẫn chưa trình bày một cách cụ thể về các phương pháp
thuyết minh.
- Phương pháp tổng hợp các vấn đề lý thuyết.
- Phương pháp so sánh, đối chiếu.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm.
- Phương pháp thống kê.
9
Khoá luận tốt nghiệp
Vũ Thị Chi - 29A Ngữ văn
Nội dung
Chương 1
Các phương pháp thuyết minh
trong văn bản thuyết minh
1.1. Văn bản thuyết minh
Trong cuộc sống hàng ngày, muốn cung cấp cho người khác những
thông tin về thế giới xung quanh, chúng ta phải sử dụng ngôn ngữ để trình
bày, giới thuyết về chính sự vật hiện tượng ấy. Việc trình bày, giới thuyết bằng
ngôn ngữ như vậy là cơ sở tạo ra kiểu văn bản thuyết minh. Vì vậy, có thể
quan niệm rằng:
Văn bản thuyết minh là kiểu văn bản thông dụng trong mọi lĩnh vực
của đời sống nhằm cung cấp những tri thức (kiến thức) về đặc điểm, tính chất,
nguyên nhân,... của các hiện tượng và sự vật trong tự nhiên, xã hội bằng
phương thức trình bày, giới thiệu, giải thích... (SGK Ngữ văn 8 tập I).
Xuất phát từ những mục đích thuyết minh khác nhau nên văn bản
thuyết minh có nhiều loại. Có loại chủ yếu để trình bày về một sự vật, sự việc,
có loại được dùng để miêu tả một hiện tượng, cũng có văn bản được dùng để
giới thuyết về một vấn đề gì đó của thế giới xung quanh...
bản thuyết minh còn được gọi là văn bản giới thiệu, thuyết trình.
Tương xứng với mỗi mục đích thuyết minh khác nhau, người viết có
những cách thức tổ chức nội dung thuyết minh khác nhau. Vì vậy, trong văn
bản thuyết minh, hệ thống phương pháp thuyết minh rất đa dạng và phong
phú. Trong văn bản thuyết minh, chúng ta thường gặp những phương pháp
thuyết minh cơ bản sau:
1.2.1. Phương pháp nêu định nghĩa, giải thích
Để cung cấp cho người đọc, người nghe những kiểu cơ bản và ngắn gọn
nhất về đối tượng cần thuyết minh, người viết thường sử dụng phương pháp
nêu định nghĩa giải thích.
11
Khoá luận tốt nghiệp
Vũ Thị Chi - 29A Ngữ văn
Bản chất của phương phápnày là người viết sử dụng ngôn ngữ, câu văn
hoặc đoạn văn để làm rõ bản chất, đặc điểm của sự vật, hiện tượng cần thuyết
minh.
Ta có thể bắt gặp phương pháp nêu định nghĩa, giải thích trong câu văn
thuyết minh sau:
VD1: Huế là một trong những trung tâm văn hoá nghệ thuật lớn của
Việt Nam.
(Trích Huế -Dẫn theo Tiếng Việt thực hành)
Để giới thiệu về một danh lam thắng cảnh (Huế), người viết đã trực tiếp
nêu bản chất của danh thắng ấy, đó là trung tâm văn hoá nghệ thuật lớn của
Việt Nam. Chính nhờ cách giải thích Huế - với đặc trưng cơ bản của nó như
vậy đã giúp cho người tiếp nhận hiểu rõhơn về một thành phố du lịch - một
B: đặc trưng bản chất hay một đặc điểm nào đó của đối tượng
thuyết minh
Khi sử dụng, người thuyết minh cần lưu ý không nên định nghĩa một
cách chung chung quá rộng hoặc quá hẹp. Chẳng hạn:
- Thức ăn là lương thực.
hay:
- Bão là một hình thức vận động của không khí.
Những cách thuyết minh như vậy sẽ không định hướng rõ, không làm rõ
nội dung vấn đề cần thuyết minh, không tạo ra nội dung thông tin mới khi
thuyết minh.
1.2.2. Phương pháp chú thích
Trong văn bản thuyết minh, người viết còn có thể sử dụng một phương
pháp thuyết minh - tuy có hình thức giống phương pháp nêu định nghĩa, giải
thích - nhưng trên thực tế nó lại là một phương pháp khác. Đó là phương pháp
chú thích.
Trong văn bản thuyết minh, chú thích là người viết đặt đối tượng cần
thuyết minh vào loại lớn hơn, không phải để chỉ ra các yếu tố bản chất của
chúng, không phân biệt chúng với các yếu tố cùng loại mà làm rõ, chú thích
thêm một điều gì đó về đối tượng cần thuyết minh. Chẳng hạn:
Basô là một thi sĩ - người hành hương danh tiếng sống ở Nhật vào thế
kỷ VXIII. Basô là bút danh.
(Theo Hàn Thuỷ Giang - Thi sĩ Basô và con đường hẹp
thiên lý, Báo Vietnamnet, ngày 20 - 11 - 2005).
Trong ví dụ này, câu: Basô là bút danh là sự chú thích về Basô. Chú
thích là bởi người viết không chỉ ra đặc điểm bản chất của danh từ Basô mà
13
Khoá luận tốt nghiệp
14
Khoá luận tốt nghiệp
Vũ Thị Chi - 29A Ngữ văn
thắt trên mình một dải lụa xanh nằm gối đầu vào thân rồng. Rồi núi mẹ núi
con như hình hai quả trứng, có núi Phả Ao, vũng Sao Sa có nước trong vắt
quanh năm. Rồi núi con mèo, núi cánh tiên đều có hình thù như tên gọi.
(Lâm Bằng - Hàm Rồng. Báo Nhân dân Chủ nhật)
Văn bản trên thuyết minh về một danh lam thắng cảnh (Hàm Rồng).
Để cho người đọc có cái nhìn toàn diện về phong cảnh chung quanh núi Rồng
có nhiều ngọn núi trông rất ngoạn mục, tác giả Lâm Bằng đã liệt kê một loạt
các ngọn núi với những hình thù riêng của nó: Ngũ Hoa Phong có hình năm
đoá hoa sen,... ngọn Phù Thi Sơn trông xa như một người đàn bà thắt trên
mình một dải lụa xanh..., ... Chính cách liệt kê như vậy giúp người đọc có thể
hình dung rõ hơn không gian hùng vĩ mà nên thơ của Hàm Rồng. Ta có thể
thấy rõ tác dụng của phương pháp liệt kê trong ví dụ sau:
Cây dừa gắn bó với người dân Bình Định chặt chẽ như vây tre đối với
người dân miền Bắc. Cây dừa cống hiến tất cả của cải của mình cho con
người, thân cây làm máng, lá làm tranh, cọng lá chẻ nhỏ làm vách, gốc dừa
già làm chõ đồ xôi, nước dừa để uống, để kho cá, kho thịt, nấu canh, làm nước
mắm, cùi dừa ăn sống với bánh đa, làm mứt, làm bánh kẹo, ép lấy dầu dùng
để thắp, để ăn, để chải đầu, nấu xà phòng.
(Cây dừa Bình Định - Hoàng Văn Huyền)
ở văn bản này, để nói về sự gắn bó của cây dừa với người dân Bình
Định và tác dụng cống hiến tất cả của cải của mình cho con người của cây
dừa, tác giả đã liệt kê một loạt các bộ phận của cay dừa và tác dụng của chúng
người viết tách ra thành những kiểu loại, những khía cạnh khác nhau để giới
thiệu. Ta có thể thấy rõ điều này trong bài thuyết minh về nhạc cụ trong điệu
hát trống quân của tác giả Vũ Bằng. Lấy cơ sở là sự giản dị, tác giả đã phân
tích, chỉ ra những đặc điểm thể hiện sự giản dị của nhạc cụ hát trống quân. Đó
là:
Nhạc cụ của điệu hát này (hát trống quân - NBS) giản dị hết chỗ nói:
đàn kìm, đàn nhị, đàn sến,... hết thảy đều là đồ bỏ. Tất cả nhạc cụ chỉ gồm
một cái hố sâu, có cái thùng bằng thiếc úp trên, trên thùng có một sợi dây kẽm
dài chừng năm, sáu thước căng giữa hai cái cọc. Cầm mảnh gỗ gõ khẽ một
16
Khoá luận tốt nghiệp
Vũ Thị Chi - 29A Ngữ văn
chút vào đầu dây, cái dây bật vào thùng phát ra một thứ âmthanh giòn giã
nhịp theo tiếng hát thật duyên dáng.
(Theo Vũ Bằng, Thương nhớ mười hai, Nxb Văn Học Hà Nội 1993)
Tuy cùng gợi ra một loạt các biểu hiện của đối tượng thuyết minh
nhưng giữa phương pháp phân loại, phân tích và phương pháp liệt kê có những
điểm giống và khác nhau. Cả hai phương pháp này đều đòi hỏi người thuyết
minh phải kể ra những bộ phận nhỏ, cụ thể được chứa đựng trong bộ phận lớn
hơn hoặc trong toàn thể. Tuy nhiên, khi sử dụng phương pháp phân loại phân
tích, người viết còn phải tiếp tục giới thiệu, trình bày về những bộ phận được
phân chia ra đó. Yêu cầu này không có ở phương pháp liệt kê.
Lưu ý: Đối tượng thuyết minh khi sử dụng phương pháp này phải có
cấu tạo gồm nhiều thành phần, nhiều cá thể, chia tách phải theo một trình tự
nhất định từ khái quát đến cụ thể. Hai thao tác phân loại và phân tích phải
như Dã Tượng, Yết Kiêu là gia thần của ông, có dự công dẹp giặc Ô Mã Nhi,
Toa Đô. Bọn Phạm Ngũ Lão, Trần Thì Kiến, Trương Hán Siêu, Phạm Lãm,
Trịnh Dũ, Ngô Sỹ Thường, Nguyễn Thế Trực vốn là môn khách của ông đều
nổi tiếng thời đó về văn chương và chính sự.
(Trích Đại việt sử ký toàn thư, Ngô Sỹ Liên)
Để chứng minh cho Trần Quốc Tuấn khéo tiến cử người giỏi tác giả
đã nêu những ví dụ cụ thể về những gia thần của Trần Quốc Tuấn có dự công
dẹp Ô Mã Nhi, Toa Đô và về những môn khách của ông nổi tiếng thời đó về
văn chương và chính sự. Sau đó kết hợp với liệt kê các tên tuổi: Dã Tượng, Yết
Kiêu, Phạm Ngũ Lão, Trần Thì Kiến nhằm làm cho đối tượng thuyết minh
thêm rõ ràng, cụ thể và xác thực hơn.
1.2.6. Phương pháp dùng số liệu
Sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan rất phong phú, đa dạng.
Khi đối tượng thuyết minh là sự phát triển dân số, gia tăng GDP,... tức có liên
quan đến các số liệu thì việc thuyết minh sẽ thành suy diễn nếu người viết chỉ
dùng lý lẽ, căn cứ. Do đó trong những trường hợp này người viết thường dùng
thêm phương pháp dùng số liệu. Nhờ những con số cụ thể, nội dung vấn đề
thuyết minh sẽ chính xác hơn, chân thực hơn. Và do đó cũng là một cơ sở tạo
ra sự hấp dẫn, tính thuyết phục, khoa học cho vấn đề cần thuyết minh.
18
Khoá luận tốt nghiệp
Vũ Thị Chi - 29A Ngữ văn
Phương pháp dùng số liệu là phương pháp mà người viết đưa ra các con
số cụ thể, chính xác để minh hoạ cho đối tượng cần thuyết minh.
VD1: Các nhà khoa học cho biết: trong không khí, dưỡng khí chiếm
Vũ Thị Chi - 29A Ngữ văn
Trong văn bản trên, tác giả đã sử dụng phương pháp so sánh: sông
Hương - dải lụa xanh, núi Ngự Bình - cái yên ngựa, những vườn cây ở Huế với
những viên ngọc làm cho vẻ đẹp của Huế trở nên sống động và có hồn hơn.
Lưu ý: Hai sự vật đem ra so sánh là khác nhau nhưng phải có nét tương
đồng nào đó.
1.2.8. Phương pháp giảng giải nguyên nhân, kết quả
Mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan đều có nguyên nhân
và kết quả của nó. Do đó, khi thuyết minh về một đối tượng nào đó, người viết
có thể dùng phương pháp giảng giải nguyên nhân - kết quả nhằm làm cho
người nghe, người đọc thêm hiểu biết sâu sắc hơn về đối tượng cần thuyết
minh.
Giảng giải nguyên nhân, kết quả là phương pháp mà người thuyết minh
đưa ra hiện tượng và dùng lý lẽ, căn cứ để giảng giải nguyên nhân, kết quả của
hiện tượng đó.
VD: Bên kia sông có hòn núi Ngọc, tên chữ là Hoả Châu Phong hay
còn gọi là núi Nít, ngọn núi này tròn trặn, các lớp đá chen dày tua tủa như
ngọn núi lửa từ trong lòng đất bốc lên. Bởi vậy mà gọi là Hoả Châu Phong:
Chín mươi chín ngọn bên đông
Còn hòn núi Nịt bên sông chưa về
(Hàm Rồng - Lâm Bằng)
Trong ngữ liệu trên, tác giả đã lý giải vì sao có tên gọi Hoả Châu Phong
bằng cách miêu tả ngọn núi này thông qua những hình ảnh: tròn trặn, các
lớp đá chen dày tua tủa như ngọn núi lửa từ trong lòng đất bốc lên. Cách lý
giải như vậy thực chất là người viết đã giảng giải nguyên nhân về tên gọi Hoả
Châu Phong.
20
ở lớp 8 Trung học cơ sở, ngay sau khi làm quen với kiểu văn bản
thuyết minh thì học sinh cũng được giới thiệu một số phương pháp thuyết
minh. Chỉ trong một tiết học, học sinh được tìm hiểu về các phương pháp
thuyết minh:
+ Phương pháp nêu định nghĩa, giải thích.
+ Phương pháp liệt kê.
+ Phương pháp nêu ví dụ.
+ Phương pháp dùng số liệu.
+ Phương pháp so sánh.
+ Phương pháp phân loại phân tích.
Các phương phápnày được trình bày theo lối quy nạp. Giáo viên đi từ
ngữ liệu cụ thể rồi thông qua hệ thống câu hỏi hướng dẫn học sinh rút ra khái
niệm của từng phương pháp. Sau tiết lý thuyết này không có giờ thực hành
riêng về các phương pháp thuyết minh mà chỉ lồng ghép kỹ năng thực hành
qua tiết học về văn bản thuyết minh như: Đề văn thuyết minh và cách làm bài
22
Khoá luận tốt nghiệp
Vũ Thị Chi - 29A Ngữ văn
văn thuyết minh; Luyện nói: thuyết minh về một thứ đồ dùng; Thuyết minh về
một thể loại văn học,...
Đến lớp 10 THPT, phương pháp thuyết minh lại tiếp tục được đưa vào
giảng dạy. Với dung lượng một tiết, chương trình vừa hệ thống lại cho học
sinh kiến thức về phương pháp thuyết minh đã học, vừa cung cấp cho học sinh
hai phương pháp thuyết minh mới là:
+ Phương pháp chú thích.
phân tích ngữ liệu theo phần nội dung của SGK, học sinh nghe, trả lời, nhận
xét, bổ sung, sau đó giáo viên nhận xét, nhấn mạnh nội dung bài học để hướng
đến đích cuối cùng là giúp học sinh hiểu nội dung kiến thức cơ bản trong bài
học, đồng thời biết cách vận dụng kiến thức lý thuyết đó vào giải quyết bài tập
SGK đưa ra và trong phạm vi thực tiễn đời sống.
Khi khảo sát chương trình, chúng tôi cũng nhận thấy thời gian dành cho
bài dạy phương pháp thuyết minh chỉ có một tiết theo phân phối nên GV chưa
có điều kiện để mở rộng và luyện tập sử dụng các phương pháp thuyết minh
như thế nào cho phù hợp với mục đích thuyết minh. Khi dạy , GV dường như
chưa chú trọng nhiều đến việc chữa lỗi về sử dụng phương pháp thuyết minh
và coi phương pháp thuyết minh là một tiêu chí quan trọng trong bài văn
thuyết minh nhằm đánh giá năng lực của học sinh. Bởi vậy khi thực hành làm
văn, học sinh vẫn chưa sử dụng các phương pháp thuyết minh một cách có
hiệu quả.
2.2.2. Thực trạng họccủa học sinh
Nhìn chung học sinh còn thụ động trong quá trình học. Mặc dù GV khi
lên lớp đã cố gắng thực hiện đổi mới phương pháp dạy - học, lấy học sinh làm
trung tâm, dạy học tích cực hoá nhằm tổ chức hướng dẫn học sinh tự tìm hiểu
để chiếm lĩnh tri thức phát huy tinh thần chủ động, sáng tạo của học sinh
nhưng học sinh chưa thực sự tiếp thu một cách chủ động, sáng tạo. Phần lớn
các em vẫn theo kiểu học cũ: nghe, ghi, chép, nhớ và tái hiện những gì GV nói
mà chưa có thói quen chủ động tìm hiểu, khám phá bài học.
Trong các bài viết văn thuyết minh của học sinh, do không được tổ
chức, thực hành luyện tập các phương pháp thuyết minh cộng với sự tự học và
rèn luyện của cácem còn hạn chế nên khi tạo lập văn bản thuyết minh phần
lớn các em chưa vận dụng tốt các phương pháp thuyết minh vào bài làm một
cách linh hoạt, sáng tạo để làm nổi bật được đối tượng thuyết minh. Nhiều bài
24
thuyết minh, từ đó giúp các em biết cách tạo lập môn văn bản thuyết minh
trên cơ sở nắm được yêu cầu và phương pháp thuyết minh.
25