BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
....................
NGUYỄN KIM TUYẾN
NGHIÊN CỨU DẠY HỌC BÀI TẬP CHƯƠNG
“MẮT. CÁC DỤNG CỤ QUANG” VẬT LÝ 11
THPT, BAN CƠ BẢN THEO LÝ THUYẾT PHÁT
TRIỂN BÀI TẬP VẬT LÝ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học Vật lý
Mã số: 60.14.01.11
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS PHẠM THỊ PHÚ
Nghệ An, năm 2013
1
Lời cảm ơn
Trong quá trình hoàn thành luận văn, tác giả đã nhận được sự giúp đỡ tận
tình của các thầy cô, bạn bè, đồng nghiệp và người thân. Tác giả xin được gửi lời
cảm ơn chân thành tới những người đã giúp đỡ tác giả hoàn thành luận văn.
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với cô PGS.TS. Phạm Thị Phú ,
người đã dành nhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn nghiên cứu, động viên và
giúp đỡ tác giả trong suốt thời gian nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
PHẦN NỘI DUNG
9
1
2
3
3
3
3
4
4
Chương 1: Cơ sở lý luận của việc dạy học bài tập theo lý thuyết
phát triển bài tập vật lý nhằm phát huy hiệu quả các chức năng
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
lý luận dạy của bài tập trong dạy học vật lý………………………
1.1. Chức năng lý luận dạy học của bài tập Vật lý……………………
1.1.1. Khái niệm bài tập……………………………………………
22
1.3.1. Phát triển bài tập với chức năng giáo dưỡng……………………
1.3.2. Phát triển bài tập với chức năng phát triển tư duy học sinh và
23
24
giáo dục kỹ thuật tổng hợp…………………………………………….
1.3.3. Lý thuyết phát triển bài tập với chức năng giáo dục…………..
1.4. Sử dụng bài tập trong dạy học vật lý theo lý thuyết phát triển bài
22
23
tập……………………………………………………………………
1.4.1. Xây dựng bài tập cơ bản………………………………………
1.4.2. Xây dựng bài tập mới từ bài tập cơ bản theo mục tiêu đã chọn..
1.4.3. Hướng dẫn học sinh tự lực xây dựng bài tập mới……………..
1.4.4. Cấu trúc bài học bài tập Vật lý theo lý thuyết phát triển bài tập.
Kết luận chương 1 ……………………………………………………
Chương 2. Dạy học bài tập chương “Mắt. Các dụng cụ quang”
theo lý thuyết phát triển BTVL……………………………………
23
23
23
24
24
26
2.2.2. Mục tiêu nâng cao theo định hướng nghiên cứu……………….
2.3. Nội dung dạy học chương “Mắt. Các dụng cụ quang”……………
2.3.1. Các đơn vị kiến thức cơ bản……………………………………
2.3.2. Cấu trúc logic của chương “Mắt. Các dụng cụ quang”………
2.4. Tìm hiểu thực trạng dạy học bài tập vật lý chương “Mắt. Các
27
27
28
29
29
29
29
29
31
dụng cụ quang ” ở một số trường THPT thuộc Thành Phố Hồ Chí
Minh…………………………………………………………………..
2.5. Xây dựng hệ thống bài tập vật lý chương “Mắt. Các dụng cụ
32
41
quang” theo lý thuyết phát triển bài tập nhằm phát huy chức năng lý
42
43
44
45
59
60
61
theo lý thuyết phát triển bài tập vật lý ………………………………
2.6.1. Bài học luyện tập giải bài tập vật lý ………………………….
2.6.2. Bài học tự chọn luyện tập giải bài tập vật lý ………………….
2.6.3. Bài kiểm tra …………………………………………………….
Kết luận chương 2……………………………………………………..
Chương 3. Thực nghiệm sư phạm…………………………………..
3.1. Mục đích thực nghiệm sư phạm………………………………
3.2. Đối tượng thực nghiệm sư phạm ………………………………..
3.3. Nội dung thực nghiệm sư phạm
3.4. Kết quả thực nghiệm
Kết luận chương 3
Kết luận chung
Tài liệu tham khảo
Phần phụ lục
45
53
57
62
63
63
63
63
64
71
73
GV
Học sinh
HS
Kiến thức cơ bản
KTCB
Trung học cơ sở
THCS
Trung học phổ thông
THPT
5
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong dạy học, bài tập là một phương tiện có tầm quan trọng đặc biệt trong
việc rèn luyện tư duy, bồi dưỡng phương pháp nghiên cứu khoa học cho học sinh.
Bài tập vật lý có thể được sử dụng như là phương tiện nghiên cứu tài liệu mới, bài
tập tạo ra tình huống có vấn đề để bước vào dạy bài học mới. Hay bài tập vật lý là
một phương tiện củng cố, ôn tập kiến thức một cách sinh động có hiệu quả. Bài tập
vật lý còn là một phương tiện rèn luyện kĩ năng, kỹ xảo, vận dụng lý thuyết vào
lời hoặc không thể giải quyết được.
Việc giải bài tập Vật lý không chỉ nhằm mục đích giải toán, ra được đáp số, mà
nó còn rèn luyện cho học sinh khả năng vận dụng kiến thức, kĩ năng tính toán, suy
luận logic để giải quyết những vấn đề trong thực tế cuộc sống và kết quả thu được
sẽ là kinh nghiệm để xây dựng lòng tin ở các em. Trong quá trình dạy học bài tập
vật lý, vai trò tự học, tự tạo ra đường đi để đạt đến những kiến thức mới của học
sinh là rất cần thiết.
Lý thuyết phát triển bài tập vật lý là một phương thức chỉ ra được từ một bài
tập cơ bản phát triển thành các bài tập tổng hợp khác nhau theo nhiều phương án
khác nhau. Khắc phục được khó khăn của tình trạng loạn sách tham khảo về bài
tập vật lý như hiện nay. Đồng thời, biến học sinh từ chỗ thụ động giải bài tập do
giáo viên yêu cầu thành chủ động đặt bài tập để giải; đó là một cách cụ thể thực
hiện chiến lược dạy học tập trung vào người học.
Chương “Mắt. Các dụng cụ quang ”, lớp 11 THPT là một chương có nhiều
thuận lợi cho việc vận dụng lý thuyết phát triển bài tập vật lý vì nó là sự kế thừa,
tiếp nối phần quang học của chương trình THCS.
Từ đó, tôi chọn đề tài luận văn Thạc sĩ là “Nghiên cứu dạy học bài tập
chương “Mắt. Các dụng cụ quang”, lớp 11 THPT, ban cơ bản theo lý thuyết
phát triển bài tập vật lý ”.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu vận dụng lý thuyết phát triển bài tập vật lý dạy học bài tập chương
“Mắt. Các dụng cụ quang ” (Vật lý lớp 11, ban cơ bản) theo hướng khai thác có
hiệu quả các chức năng của bài tập trong dạy học vật lý ở trường phổ thông.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
7
3.1. Đối tượng nghiên cứu
- Bài tập vật lý, lý thuyết phát triển bài tập vật lý
- Chứng minh tính khả thi và hiệu quả của lý thuyết phát triển bài tập trong dạy
học bài tập vật lý ở trường phổ thông.
- Xây dựng được quy trình vận dụng lý thuyết phát triển bài tập để thiết kế bài
tập và dạy bài tập nhằm phát huy hiệu quả các chức năng lý luận dạy học của bài
tập trong dạy học vật lý.
Về thực tiễn
- Điều tra được thực trạng dạy học Vật lý chương “ Mắt. Các dụng cụ quang ”
ở một số trường THPT ở Thành Phố Hồ Chí Minh
- Xây dựng được hệ thống gồm 2 bài tập cơ bản, 30 bài tập điển hình minh hoạ
dùng cho dạy học chương “Mắt. Các dụng cụ quang” vật lí lớp 11 ban cơ bản theo
lý thuyết phát triển bài tập Vật lý.
- Xây dựng 6 tiến trình dạy học gồm: 2 bài học bài tập vật lý ; 1 bài học tổng
kết chương; 1 bài học kiểm tra đánh giá; 1 bài học giải bài tập vật lý ở nhà của học
sinh; 1 bài học tự chọn học sinh khá giỏi theo lý thuyết phát triển bài tập phát huy
chức năng lý luận dạy học của bài tập vật lý
8. Cấu trúc luận văn
Mở đầu
Chương 1 : Dạy học bài tập theo lý thuyết phát triển bài tập vật lý nhằm phát
huy hiệu quả các chức năng lý luận dạy học của bài tập trong dạy học vật lý
Chương 2. Dạy học bài tập chương “Mắt. Các dụng cụ quang” theo lý thuyết
phát triển BTVL
Chương 3. Thực nghiệm sư phạm
Kết luận chung
CHƯƠNG 1. DẠY HỌC BÀI TẬP THEO LÝ THUYẾT PHÁT TRIỂN
BÀI TẬP VẬT LÝ
9
Bài tập Vật lý là phương tiện, phương pháp dạy học đặc thù, đặc biệt quan
trọng của môn Vật lý ở mọi bậc học, cấp học. BTVL phát huy các chức năng giáo
10
dưỡng, phát triển tư duy và năng lực sáng tạo, giáo dục nhân cách, đạo đức HS và
giáo dục kỹ thuật tổng hợp. BTVL được sử dụng hiệu quả trong tất cả các yếu tố
cấu trúc của quá trình dạy học từ tạo tình huống có vấn đề, xây dựng biểu thức
mới, vận dụng kiến thức cho đến ôn tập, tổng kết hệ thống hóa kiến thức, kiểm tra
đánh giá kiến thức, kỹ năng cho HS. Sau đây phân tích chi tiết các chức năng của
BTVL.
BTVL có thể là phương tiện nghiên cứu tài liệu mới, hay là phương tiện ôn
tập, đào sâu, củng cố và mở rộng kiến thức mới,... BTVL giúp cho HS thấy được
những ứng dụng muôn hình, muôn vẻ trong thực tiễn của các kiến thức đã học. Và
sản phẩm của hoạt động học của HS là những biến đổi của chính bản thân chủ thể
trong quá trình thực hiện hoạt động. Những tri thức, kỹ năng, kinh nghiệm mà
người học tái tạo lại không có gì mới đối với nhân loại, nhưng những biến đổi
trong bản thân người học, sự hình thành phẩm chất và năng lực ở người học thực
sự là những thành tựu mới, chúng sẽ giúp cho người học sau này sáng tạo ra được
những giá trị mới và thông qua hoạt động tái tạo kiến thức đó mà HS trưởng thành
lên.
Bài tập giúp cho việc ôn tập đào sâu, mở rộng kiến thức. Trong giai đoạn xây
dựng kiến thức, HS đã nắm được cái chung, cái khái quát của các khái niệm, định
luật và cũng là cái trừu tượng. Trong các bài tập, HS phải sử dụng các kiến thức
khái quát, trừu tượng đó vào những trường hợp cụ thể rất đa dạng, nhờ thế mà Hs
nắm được những biểu hiện cụ thể của chúng trong thực tế, phát hiện ngày càng
nhiều những hiện tượng thuộc ngoại diên của các khái niệm hoặc chịu sự chi phối
của các định luật hay thuộc phạm vi ứng dụng của chúng. Quá trình nhận thức các
khái niệm, định luật vật lý không kết thúc ở việc xây dựng nội hàm của các khái
niệm, định luật vật lý mà còn tiếp tục ở giai đoạn ứng dụng vào thực tế. Ngoài
Việc rèn luyện cho HS giải BTVL không phải là mục đích của dạy học. Mục đích
cơ bản đặt ra khi giải BTVL là làm sao cho HS hiểu sâu sắc hơn những quy luật
vật lý, biết phân tích và ứng dụng chúng vào những vấn đề thực tiễn, vào tính toán
kỹ thuật và cuối cùng phát triển được năng lực tư duy, năng lực giải quyết vấn đề.
Giải BTVL góp phần làm phát triển tư duy sáng tạo của HS. Có nhiều BTVL
không chỉ dừng lại trong phạm vi vận dụng những kiến thức đã học mà còn giúp
bồi dưỡng cho HS tư duy sáng tạo. Đặc biệt là các BT giải thích hiện tượng, BT
thí nghiệm, BT thiết kế dụng cụ.
12
Giải BTVL để kiểm tra mức độ nắm vững kiến thức của HS. Tùy theo cách đặt
câu hỏi kiểm tra, ta có thể phân loại được các mức độ nắm vững kiến thức của HS,
khiến cho việc đánh giá chất lượng kiến thức của HS được chính xác[12;337-339]
1.1.3. Phân loại bài tập vật lý
Có nhiều cách phân loại BTVL. Nếu dựa vào các phương tiện giải, có thể
chia BTVL thành BT định tính, BT tính toán, BT thí nghiệm, BT đồ thị. Nếu dựa
vào mức độ khó khăn của BT đối với HS, có thể chia BTVL thành BT tập dượt,
BT tổng hợp, BT sáng tạo.
1.1.3.1. Bài tập định tính
Bài tập định tính là những bài tập khi giải, HS không cần thực hiện
những phép tính phức tạp hay chỉ phải làm những phép tính đơn giản, có thể tính
nhẩm được. Muốn giải các bài tập định tính, HS phải thực hiện những phép suy
luận logic, do đó phải hiểu rõ bản chất ( nội hàm) của các khái niệm, định luật vật
lý và nhận biết được những biểu hiện của chúng trong những trường hợp cụ thể.
Đa số các bài tập định tính yêu cầu HS giải thích hoặc dự đoán một hiện tượng xảy
ra trong những điều kiện xác định.[12;341]
Bài tập định tính có rất nhiều ưu điểm về phương pháp học. Đưa lý thuyết
vừa học lại gần với đời sống, thực tiễn xung quanh, các bài tập định tính làm tăng
nhiều khái niệm, định luật, nhiều công thức. Kiến thức tích hợp nhiều nội dung
kiến thức trong một chương, một phần hay các phần của tài liệu vật lý. Thông qua
loại bài tập này, HS có thể mở rộng, đào sâu kiến thức, thấy được mối liên hệ giữa
các kiến thức vật lý với nhau. Từ đó, HS có thể phân tích các hiện tượng phức tạp
ra thành những phần đơn giản hơn, tuân theo một định luật xác định[12;343].
Bài tập tính toán tổng hợp thực chất cũng nhằm mục đích làm sáng tỏ nội dung
vật lý của các định luật, quy tắc biểu hiện dưới dạng công thức. Khi giải BT này,
HS thường không chú ý đến ý nghĩa vật lý mà chỉ áp dụng máy móc các công
thức. Bởi vậy, GV cần lưu ý Hs làm nổi bật yếu tố định tính của BT này trước khi
đi vào lựa chọn các công thức và thực hiện các phép toán[12;344].
1.1.3.3. Bài tập thí nghiệm
Bài tập thí nghiệm là loại bài tập yêu cầu xác định một đại lượng vật lý,
cho biết dụng cụ và vật liệu để sử dụng, yêu cầu học sinh giải bài tập hoàn toàn
theo con đường thực nghiệm hoặc là bài tập đòi hỏi phải làm thí nghiệm để kiểm
chứng lời giải lý thuyết.[12;344]
Bài tập thí nghiệm là bài tập đòi hỏi phải làm nhiều thí nghiệm để kiểm
chứng lời giải giả thuyết hay tìm những số liệu cần thiết cho việc giải bài tập.
Những thí nghiệm này thường là những thí nghiệm đơn giản, có thể làm ở nhà, với
những dụng cụ đơn giản dễ tìm hoặc tự làm được. Để giải các bài tập thí nghiệm
có thể có dạng định tính và định lượng.
Bài tập thí nghiệm có tác dụng tốt cả về mặt giáo dưỡng, giáo dục và giáo dục
kỹ thuật tổng hợp, đặc biệt làm sáng tỏ mối quan hệ giữa lý thuyết và thực tiễn.
14
Cần lưu ý trong các bài tập thí nghiệm thường không giải thích tại sao hiện
tượng lại xảy ra như thế nên phần vận dụng các định luật vật lý để giải các hiện
tượng mới là nội dung chính của bài tập thí nghiệm[12;345].
1.1.3.4. Bài tập đồ thị
ước lượng các kết quả của các phép tính và phương pháp tính toán gần đúng.
15
Với kế hoạch giải bài tập đồ thị, bài tập thí nghiệm,….thì kỹ năng thực
nghiệm, thực hành có vai trò quan trọng trong việc thực thi kế hoạch.
Bước 6: Đánh giá việc tính toán
Bước này HS khẳng định điều đã làm được và nêu được tại sao giải được bài
toán hoặc tại sao không giải được, bài toán trong điều kiện, môi trường khác, hệ
quy chiếu khác sẽ thế nào? (biện luận về giải toán).
Nhìn chung, các bài tập vật lí có nội dung rất phong phú, đa dạng. Vì vậy,
phương pháp giải cũng muôn hình, muôn vẻ. Có thể khái quát hóa bốn bước chung
giải BTVL sau đây để vận dụng trong hướng dẫn HS giải BTVL. Cụ thể:
a) Bước thứ nhất. Tìm hiểu đề bài
-
Đọc, tóm tắt các dữ kiện đề cho và các cái phải tìm.
-
Mô tả lại tình huống được nêu trong bài tập, vẽ hình minh họa.
b) Bước thứ hai. Xác lập mối liên hệ của các dữ kiện đề cho với cái phải tìm.
- Đối chiếu các dữ kiện đề cho và cái phải tìm, xem xét bản chất vật lí của tình
huống đã cho để nhận ra các định luật, công thức lí thuyết có liên quan.
- Xác lập các mối liên hệ cụ thể giữa chúng.
- Lựa chọn các mối liên hệ cơ bản, cho thấy sự liên hệ của cái cần tìm với các
dữ kiện đề cho và từ đó có thể rút ra cái phải tìm.
c) Bước thứ ba. Xây dựng lập luận, tính toán tìm ẩn số.
Từ các mối liên hệ đã xác lập, tính toán rút ra kết quả cần tìm.
thuộc những phần khác nhau của giáo trình vật lý phổ thông. Mặt khác, GV phải
đặc biệt coi trọng việc rèn luyện tư duy và bảo đảm tính độc lập của HS, việc giải
bài tập không chỉ giúp cho HS củng cố kiến thức, luyện tập áp dụng những định
luật đã học mà quan trọng hơn còn là hình thành chính phong cách nghiên cứu của
hoạt động trí tuệ, phương pháp tiếp cận các hiện tượng nghiên cứu.
1.1.5. Hướng dẫn HS giải bài tập vật lý
Để phát huy các chức năng lý luận dạy học của BTVL, GV cần quán triệt
phương châm: Dạy học BTVL không phải là chữa BT mà là hướng dẫn Hs giải
BT. GV không làm thay những gì mà HS có thể làm. Hướng dẫn HS giải BT cần
lựa chọn một trong ba kiểu hướng dẫn sau tùy thuộc vào mục đích của hoạt động
giải BT của HS[16]
1.1.5.1. Hướng dẫn giải theo mẫu (hướng dẫn Algorit)
Sự hướng dẫn hành động theo mẫu được gọi là hướng dẫn Algorit. Hướng
dẫn này được dùng với ý nghĩa là một quy tắc hành động hay một chương trình
hành động được xác định một cách rõ ràng, chính xác và chặt chẽ. Chỉ cần thực
hiện theo trình tự mà quy tắc đã chỉ ra thì chắc chắn sẽ đến kết quả.
Hướng dẫn Algorit chỉ rõ cho HS những hành động cụ thể cần thực hiện,
trình tự thực hiện các hành động để đạt kết quả mong muốn. Đây là hành động sơ
cấp phải được HS hiểu và nắm vững.
Kiểu hướng dẫn này không đòi hỏi HS tự tìm tòi xác định các hành động để
giải quyết vấn đề đặt ra mà chỉ đòi hỏi HS chấp hành các hành động mà GV đã chỉ
ra. Để thực hiện được điều này, GV phải phân tích một cách khoa học trình tự giải
bài toán chính xác, chặt chẽ.
Kiểu hướng dẫn Algorit được sử dụng cho từng loại bài toán cơ bản, điển hình
và luyện tập cho HS kỹ năng giải các bài toán đó.
Tuy nhiên, kiểu hướng dẫn này ít có tác dụng rèn luyện cho HS khả năng tìm
tòi, sáng tạo và sự phát triển tư duy bị hạn chế.
1.1.6. Các hình thức dạy học BTVL
Theo tác giả Phạm Thị Phú, BTVL có thể được sử dụng trong tất cả các loại
bài học vật lý. Mỗi loại bài học vật lý, BTVL có chức năng nhiệm vụ riêng, do đó
loại BTVL được huy động cũng cần phải được lựa chọn sao cho phát huy được
chức năng tương ứng. Sau đây là nội dung chi tiết.
a. BTVL trong bài học xây dựng kiến thức mới. Trong bài học xây dựng kiến
thức mới, nhiệm vụ chủ yếu là xây dựng kiến thức mới nhưng như thế không có
nghĩa là BTVL không được sử dụng; ngược lại BTVL là cần thiết trong các giai
đoạn:
- Củng cố kiến thức xuất phát, tạo tình huống nhận thức (ở đầu tiết học)
- Vận dụng kiến thức mới (ở cuối tiết học)
Các BT dùng trong hai giai đoạn này thường là BT định tính hoặc định lượng
đơn giản ( thời gian không quá mười phút)
18
Trong trường hợp đặc biệt có thể xây dựng một BT vấn đề dùng cho xây dựng
kiến thức mới.
Có thể nhận thấy vị trí BTVL trong mô hình cầu trúc bài học xây dựng kiến
thức mới (sơ đồ 1)
BT (trắc nghiệm), định tính đơn giản,
củng cố kiến thức, xuất phát Bt tạo
tình huống nhận thức
Xây dựng kiến thức mới
(có thể giải BT vấn đề)
BT vận dụng kiến thức mới
BT định tính.
BT định lượng đơn giản
- Cách 1: Lập sơ đồ cấu trúc logic nội dung các kiến thức ôn tập
- Cách 2: Lập bảng so sánh, hệ thống hóa các kiến thức ôn tập
- Cách 3: Giải BT trắc nghiệm khách quan (mang tính định tính) để hệ
thống hóa.
Ở giai đoạn 2: HS gải BT tổng hợp huy động các kiến thức ôn tập qua đó củng
cố khắc sâu kiến thức ở mức độ vận dụng, khai thác tính ứng dụng của kiến thức.
d. BTVL trong bài học kiểm tra đánh giá kiến thức kỹ năng HS:
Kiểm tra đánh giá kiến thức là hoạt động biểu thị sự nỗ lực hoạt động trí tuệ,
sự huy động với mức độ cao các chức năng tâm lí (như chú ý, ý chí…) nhằm đạt
được mục đích đặt ra với chất lượng cao.
Cho tới nay, trong các sách về phương pháp giảng dạy chưa có tiêu chuẩn có cơ
sở khoa học cho sự lựa chọn BT định tính và BT định lượng, áp dụng cho từng
mối quan hệ phụ thuộc vật lý và cho những mối quan hệ đặc trưng nhất.
Hệ thống BTVL trong bài học kiểm tra đánh giá kiến thức kỹ năng HS cần có
tính hệ thống, chặt chẽ trong việc lựa chọn nội dung, trong áp dụng các thủ thuật
giải, BT phải đi từ đơn giản đến phức tạp. Trong hệ thống BT, BT sau phải đem lại
cho HS một điều mới lạ nhất định và một khó khăn vừa sức, HS thấy được sự khác
nhau của BT này và BT giải trước đó.
Việc xây dựng hệ thống BTVL trong bài học kiểm tra đánh giá kiến thức kỹ năng
HS cần có:
- Hướng tới phổ năng lực tư duy rộng.
- Bài tập có tính phân hóa cao (độ phân tán rộng)
20
- Dựa vào kinh nghiệm giải BT của GV và bám vào 6 mức độ Bloom để
có thể giải BT bằng nhiều cách khác nhau.
- Đa dạng hình thức BT, ưu tiên BT mở so với BT đóng.
- Nội dung, hình thức BT phù hợp với đối tượng HS.
21
Trong dạy học bất cứ một đề tài nào, GV cần phải lựa chọn một hệ thống BT thỏa
các yêu cầu sau:
1. Các BT phải đi từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp (phạm vi và số
lượng các kiến thức, kỹ năng cần vận dụng từ một đề tài đến nhiều đề tài, số lượng
các đại lượng cho biết và các đại lượng phải tìm…) giúp HS nắm được phương
pháp giải các loại BT điển hình.
2. Mỗi BT phải là một mắt xích trong hệ thống Bt, đóng góp một phần nào đó
vào việc củng cố, hoàn thiện và mở rộng kiến thức.
3. Hệ thống BT cần bao gồm nhiều thể loại BT: BT giả tao, BT có nội dung
thực tế, BT luyện tập và BT sáng tạo, BT cho thừa và cho thiếu dữ kiện, BT mang
tính chất ngụy biện và nghịch lý, BT có nhiều cách giải khác nhau và BT có nhiều
lời giải tùy theo những điều kiện cụ thể của BT mà GV không nêu lên hoặc chỉ
nêu lên trong một điều kiện nào đó mà thôi.
Trong dạy học từng đề tài cụ thể, GV phải dự kiến chi tiết kế hoạch sử dụng hệ
thống BT đã lựa chọn:
a) Các BT đã lựa chọn có thể sử dụng ở các khâu khác nhau của quá trình dạy
học: nêu vấn đề, hình thành kiến thức mới, củng cố, hệ thống hóa, kiểm tra và
đánh giá kiến thức, kỹ năng của HS.
b) Trong tiến trình dạy học một đề tài cụ thể, việc giải hệ thống BT mà GV đã
lựa chọn của HS thường bắt đầu bằng những BT định tínhhay những BT tập dượt.
Sau đó HS sẽ giải những BT tính toán, BT đồ thị, BT thí nghiệm có nội dung phức
tạp hơn. Việc giải những BT tính toán tổng hợp, những BT có nội dung kỹ thuật
với dữ kiện không đầy đủ, những BT sáng tạo có thể coi là sự kết thúc việc giải hệ
thống BT đã được lựa chọn cho đề tài.
c) Cần chú ý cá biệt hóa HS trong việc giải BTVL, thông qua các biện pháp
sau: Biến đổi mức độ yêu cầu của BT ra cho từng đối tượng HS khác nhau, thể
hiện ở mức độ trừu tượng của đầu bài, loại vấn đề cần giải quyết, phạm vi và tính
khác nhạu. Trong dạy học Vật lý, GV cần phát triển (mở rộng) vì:
- Số lượng BT rất nhiều, đa dạng trong khi số tiết luyện tập giải BT rất hạn
chế. Vì vậy, trong tiết luyện tập, GV cần chọn BT điển hình về nội dung và
phương pháp. Từ BT đó, phân tích dưới nhiều góc độ khác nhau để rút ra kết luận
cho hàng loạt các BT khác (thông qua một BT mà hướng dẫn HS phương pháp
giải hành loạt các BT có nội dung liên quan)
- HS làm quen với việc phát triển BT của GV và tập cho Hs tự phát triển
BT, từ đó các em dễ dàng nhận ra các BTCB trong một BTTH, tức là giải được BT
đó. Đây cũng là một hướng tự học của HS.
- Việc phát triển BTVL trong dạy học vật lý có tác dụng bồi dưỡng tư duy
linh hoạt, nhạy bén, mềm dẻo; hạn chế lối tư duy áp đặt một chiều từ phía GV.
1.2.2. Phát triển BTVL
Việc phát triển BTVL cần phải trải qua các hoạt động: Chọn BTCB, phân tích
các cấu trúc của BTCB, mô hình hóa BTCB.Từ đó phát triển BTCB theo các
phương án khác nhau.
Chọn BTCB là hành động có tính quyết định cho việc củng cố kiến thức, kỹ
năng nào? Hành động này bao gồm việc:
+ Xác định mục tiêu: cần củng cố kiến thức cơ bản nào? Nội dung của kiến thức
đó, phương trình liên hệ các đại lượng, công thức biểu diễn…
+ Chọn hoặc đặt đề bài tập.
+ Xác định dữ kiện, ẩn số.
+ Mô hình hóa đề bài và hướng dẫn giải.
23
Từ BTCB, có thể phát triển thành những BTTH muôn hình muôn vẻ. Về mặt lý
luận có thể khái quát thành 5 phương án phát triển bài tập như sau:
Phương án 1: Hoán vị giả thiết và kết luận của BTCB để được BTCB khác có độ
khó tương đương.
Sơ đồ minh họa: (sơ đồ 3)
Cho a1, a2
KTCB a
a
KTCB a, b,x
b
KTCB b
Cho b1, b2
24
sơ đồ 4
Tìm x
Mức độ phức tạp phụ thuộc vào số bài toán trung gian (số cái chưa biết). Tùy
thuộc vào đối tượng học sinh mà tăng hoặc giảm số bài toán trung gian.
Phương án 3: Phát triển kết luận BTCB
Cái cần tìm (ẩn số) không liên hệ trực tiếp với dữ kiện bằng một kiến thức
cơ bản mà thông qua các ẩn số trung gian. Phát triển kết luận là thay kết luận của
BTCB bằng một số BTCB trung gian để tìm ẩn số trung gian X,Y…liên kết dữ
liệu a,b,c… và các ẩn số x1,y1…
Sơ đồ mô hình hóa phát triển kết luận: (sơ đồ 5)
Ẩn số trung gian X
f1(X,x1)
Ẩn số x1
x=
Chưa biết a x
Chưa biết a
G. thiết a,b,c
a1, a2
Chưa biết cx
cx1, cx2
f(a, b,c,x)
Kết luận
Ẩn số x3
Chưa biết c
25
c1, c2
Ẩn
số
x2